Video sự tích cây nêu đất
Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:28' 07-04-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:28' 07-04-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
CUỘC CHIẾN TRANH BÍ MẬT
CHỐNG HÀ NỘI
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG MỘT
NẾU HỌ LÀM ĐƯỢC
THÌ CHÚNG TA CŨNG LÀM ĐƯỢC
CHƯƠNG HAI
HÌNH THÀNH SOG
CHƯƠNG BA
BẮC TIẾN
CHƯƠNG BỐN
LÀM CHO HỌ PHÁT ĐIÊN BẰNG
CHIẾN TRANH TÂM LÝ
CHƯƠNG NĂM
TỪ MẶT BIỂN
CHƯƠNG SÁU
VƯỢT QUA GIỚI TUYẾN
CHƯƠNG BẢY
KHOẢNG CÁCH LỚN:
SOG VÀ CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CỦA MỸ
CHƯƠNC TÁM
VIỆC KIỂM SOÁT CỦA TỔNG THỐNG
PHẦN KẾT
Chú Thích
https://thuviensach.vn
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Cuộc chiến tranh Việt Nam - theo cách gọi của người Mỹ - đã lùi xa hơn
một phần tư thế kỷ, nhưng thất bại của Mỹ và những hậu quả kèm theo được khái quát bằng cụm từ "hội chứng Việt Nam" - vẫn còn mang tính thời
sự nóng hổi. Câu hỏi: Tại sao Việt Nam ? Vẫn còn đó và tiếp tục thách thức
các nhà nghiên cứu Mỹ tìm ra câu trả lời thoả đáng.
Cuốn sách "Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội" xuất bản năm 1999, của
nhà nghiên cứu Mỹ, giáo sư Richard H. Shultz, Jr mà các bạn đang có trong
tay là một trong những nỗ lực giải đáp câu hỏi đó: Như tên gọi, cuốn sách
đề cập đến một khía cạnh rất đặc biệt và bí mật của cuộc chiến tranh.
Nhưng khác với một số ít cuốn sách đã viết về đề tài này, Cuộc chiến tranh
bí mật chống Hà Nội không khai thác những yếu tố bí mật, đặc biệt để lôi
kéo độc giả. Ngược lại, với các nguồn tài liệu tuyệt mật của CIA, Bộ Quốc
phòng và Nhà Trắng mới được công bố, và đặc biệt là các cuộc phỏng vấn
những người trực tiếp chỉ đạo, điều hành và thực hiện cuộc chiến tranh bí
mật, cuốn sách đi sâu phân tích tư tưởng chỉ đạo, dựng lại quá trình hoạt
động, phân tích các nguyên nhân thất bại và trên cơ sở đó rút ra những bài
học cần thiết cho nước Mỹ. Có thể nói cuốn sách là một tổng kết khá đầy đủ
của các nhà nghiên cứu Mỹ về các hoạt động bí mật chống phá miền Bắc
trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Theo cuốn sách, từ năm 1951 đến 1972, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nhà
Trắng, Lầu Năm Góc và CIA, Mỹ đã thành lập một tổ chức cực kỳ bí mật
để tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc, điều hành hoạt động tuyên truyền
tâm lý chiến, tiến hành các hoạt động phá hoại trên biển và ngăn chặn
đường mòn Hồ Chí Minh. Tác giả đã làm rõ vai trò của giới lãnh đạo cao
cấp nhất ở Washington và những toan tính của họ trong quyết định tiến
hành các hoạt động bí mật chống miền Bắc. Họ là Tổng thống Kenedy,
https://thuviensach.vn
Johnson và Nixon; là Bộ trưởng Quốc phòng Mc.Namara, Giám đốc Cục
tình báo Trung ương Mỹ Colby, Cố vấn an ninh Tổng thống Bundy, Bộ
trưởng Tư pháp Robert Kenedy và nhiều quan chức dân sự, quân sự cao cấp
khác. Đồng thời, qua những trang sách, các phương thức hoạt động, kể cả
những thủ đoạn "bẩn thỉu" mà Mỹ sử dụng trong hoạt động bí mật cũng
được mô tả chi tiết.
Mặc dù được tập trung chỉ đạo, sử dụng một số lượng lớn nguồn nhân lực
và vật lực trong một thời gian dài, cuốn sách kết luận Mỹ đã thất bại. Hầu
hết số gián điệp biệt kích tung ra Bắc đều bị bắt giữ hoặc tiêu diệt, chiến
tranh tâm lý bị phá sản, con đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển vẫn
tiếp tục hoạt động. Như cuốn sách thừa nhận, Việt Nam là đối thủ quá khó
chơi đối với Mỹ. Tuy nhiên, thay vì tìm nguyên nhân thất bại trong sai lầm
chiến lược của giới cầm quyền Mỹ như Mc.Namara đã từng chỉ ra, tác giả
mới chỉ dừng lại ở những nguyên nhân về tổ chức, năng lực và phối hợp
của phía Mỹ.
Với những nội dung và cách đặt vấn đề trong cuốn sách, có thể thấy tác giả
đã cố gắng có cách nhìn tương đối khách quan về cuộc chiến tranh bí mật
của Mỹ ở Việt Nam. Mặc dù một số đánh giá nhận định của tác giả mang
tính phiến diện một chiều, do đó còn có những hạn chế nhất định, cuốn sách
đã góp phần làm sáng tỏ một khía cạnh còn ít được nghiên cứu của cuộc
chiến tranh Việt Nam.
Với mong muốn giúp bạn đọc quan tâm đến vấn đề này hiểu thêm cách
nhìn nhận đánh giá từ phía học giả Mỹ và qua đó cảm nhận đầy đủ hơn về
chiến thắng vĩ đại của chúng ta, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin xin trân
trọng giới thiệu cuốn sách: Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội như một
tài liệu để chúng ta cùng tham khảo.
Tháng 3 năm 2002
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HOÁ - THÔNG TIN
https://thuviensach.vn
PHẦN MỞ ĐẦU
Kể từ khi khai sinh ra Văn phòng tình báo chiến lược (OSS) trong chiến
tranh thế giới thứ hai cho đến nay, chính phủ Hoa Kỳ đã nhiều lần sử dụng
các lực lượng đặc biệt tiến hành các hoạt động ngầm để hỗ trợ chính sách
ngoại giao của Mỹ. Tuy nhiên, do tính chất bí mật cao và nhạy cảm về
chính trị của các hoạt động này, mọi người biết rất ít về chúng. Chắc chắn
rằng qua thời gian, nhiều mẩu thông tin về hoạt động ngầm đã lộ lọt ra
ngoài, nhưng phần lớn các tài liệu và hồ sơ của các chiến dịch bí mật vẫn
còn nằm trong các kho lưu trữ của chính phủ. Những tài liệu đó thuộc một
trong những loại bí mật nhất của thời chiến tranh lạnh.
Với sự chấm dứt của xung đột Đông-Tây, giờ đây chúng ta đã có thể nhìn
xuyên qua bức màn bí mật vốn che phủ những hoạt động ngầm trong suốt
nửa thế kỷ qua. Khi những kho lưu trữ được mở ra, chúng ta có thể xem xét
hồ sơ của các điệp vụ thành công và thất bại trong quá khứ và rút ra những
bài học cho các tình huống trong tương lai, trong đó các lực lượng đặc biệt
có thể được sử dụng.
Chiến dịch bán quân sự bí mật của Washington chống lại Hà Nội trong cuộc
chiến tranh Việt Nam minh hoạ tình hình mới nói trên. Chiến dịch do Nhóm
nghiên cứu và quan sát thuộc Bộ chỉ huy trợ giúp quân sự Mỹ ở Việt Nam
(viết tắt theo tên tiếng Anh là MACVSOG hoặc SOG) là hoạt động ngầm
lớn nhất và phức tạp nhất do Mỹ thực hiện kể từ khi OSS ra đời.
MACVSOG đã tiến hành cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội trong tám
năm, bắt đầu từ tháng Giêng năm 1964 đến tháng Tư năm 1972.
Trong khi ở các thư viện không thiếu sách viết về hầu hết các khía cạnh của
cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng ở đó vẫn còn thiếu vắng những nghiên
cứu, đánh giá về hoạt động và ý nghĩa chiến lược của SOG. Người ta cho
https://thuviensach.vn
rằng tất cả các cuốn sử viết về chiến tranh thế giới lần thứ hai mà viết trước
thời điểm tiết lộ việc giải mã những bức điện thông tin bí mật của Đức là
không đầy đủ. Điều này cũng đúng đối với các nghiên cứu về chiến tranh
Việt Nam. Nếu không đề cập một cách đầy đủ về chiến dịch bán quân sự bí
mật do SOG thực hiện thì lịch sử về cuộc xung đột này đã thiếu vắng những
chương quan trọng. Cuốn sách: Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội đã
bổ sung cho sự thiếu hụt này bằng việc cung cấp thông tin một cách hoàn
chỉnh về cuộc chiến tranh bí mật - mà đúng ra sẽ không bao giờ được tiết lộ
- đồng thời cho thấy những khía cạnh mới mẻ về thất bại của Mỹ ở Việt
Nam.
CHỨNG CỨ
Cuốn sách này dựa trên kinh nghiệm và hồi ức của những người trực tiếp
tham gia cuộc chiến tranh bí mật chống lại Bắc Việt Nam và những quan
chức cấp cao vạch chính sách và chỉ đạo chiến dịch này ở Washington. Tác
giả có được sự tiếp cận đặc biệt đối với hồ sơ và những cá nhân đã điều
hành một tổ chức tuyệt mật mang một cái tên hiền lành là “Nhóm nghiên
cứu và quan sát". Sự tiếp cận đặc biệt này do cựu tư lệnh lực lượng hoạt
động đặc biệt, Trung tướng Terry Scott dành cho tác giả khi ông nhận ra
rằng những bài học của SOG vẫn được giữ kín, thậm chí với cả những
người đang được giao thực hiện nhiệm vụ tương tự.
Vì vậy, bắt đầu từ mùa hè năm 1995, một cuộc nghiên cứu toàn diện về
cuộc chiến tranh bí mật chống lại Bắc Việt Nam được tiến hành. Cuộc
nghiên cứu gần như tập trung chủ yếu vào các nguồn thông tin gốc, bao
gồm các cuộc phỏng vấn sâu với hơn 60 quan chức đã điều hành các
chương trình của SOG, trong đó có năm vị tư lệnh của SOG và các quan
chức chỉ đạo hoặc đồng vai trò quan trọng trong bốn bộ phận của SOG có
nhiệm vụ vạch kế hoạch và thực hiện hàng loạt điệp vụ chống lại Hà Nội.
Bốn nhiệm vụ chủ yếu đó của SOG bao gồm:
https://thuviensach.vn
1. Cài cắm và chỉ đạo các toán gián điệp và tạo ra một chiến dịch nghi binh
phức tạp, trong đó có cả việc tuyển mộ tù binh của Bắc Việt Nam.
2. Chiến tranh tâm lý- dựng nên một phong trào chống đối giả ở Bắc Việt
Nam, bắt cóc và tuyên truyền công dân Bắc Việt Nam, điều hành các đài
phát thanh đen, phân phát các tài liệu tuyên truyền, làm giả thư từ, tài liệu
và các hoạt động bẩn thỉu khác.
3. Hoạt động ngăn chặn trên biển: bắt giữ và phá huỷ các tàu hải quân và
thuyền đánh cá của Bắc Việt Nam, đánh phá các mục tiêu ven biển, tiến
hành các vụ tập kích phá hoại các cơ sở quân sự và dân sự và rải các tài liệu
chiến tranh tâm lý.
4. Hoạt động thám báo bên kia biên giới chống lại đường mòn Hồ Chí Minh
bằng các toán thám báo người dân tộc (người Thượng và người Nùng) để
ngăn cản hoạt động cung cấp nhân lực và vật lực của quân đội miền Bắc,
bao gồm việc xác định mục tiêu không kích, bắt cóc bộ đội, đặt máy nghe
trộm, và phân phát tài liệu chiến tranh tâm lý.
Mỗi một cuộc phỏng vấn được thiết kế nhằm làm rõ vai trò của từng cá
nhân trong SOG. Các bảng câu hỏi sơ bộ được lập ra trên cơ sở thông tin
có được từ tài liệu của MACVSOG liên quan trực tiếp đến điệp vụ, chiến
dịch hoặc hoạt động do từng cá nhân phụ trách. Do vậy các thông tin thu
thập được từ các cựu chiến binh của SOG vừa chi tiết vừa sâu sắc. Do tác
giả đã nắm được quy mô, tình tiết hoạt động và hiệu quả của các kế hoạch
do từng cá nhân thực hiện, các cuộc phỏng vấn tập trung chủ yếu vào những
sắc thái và chi tiết thường không thể tìm thấy trong các hồ sơ tuyệt mật.
Cơ sở cho việc áp dụng kỹ thuật phỏng vấn này là việc sử dụng rộng rãi hai
nguồn tài liệu mật quý báu. Những tài liệu này bao gồm khoảng 2.0003.000 trang hồ sơ được giải mật vào năm 1995. Ngoài ra, Bộ Quốc phòng
và Cục Tình báo Trung ương đã cho phép tác giả tiếp cận với 1.500 trang
tài liệu có độ nhậy cảm cao hơn. Những hồ sơ này đã tạo ra một cái nhìn chi
https://thuviensach.vn
tiết và chân thực về các kế hoạch, chương trình và hoạt động của
MACVSOG. Chúng cũng còn bao gồm các báo cáo, nghiên cứu và đánh giá
của bốn bộ phận nghiệp vụ của SOG.
Những hồ sơ trên lẽ ra sẽ không bao giờ được đưa ra ánh sáng. Trong thực
tế, nhiều nhân viên của SOG đã rất ngạc nhiên khi được hỏi về các vấn đề
mà họ đã tuyên thệ phải giữ kín. Nhiều người chỉ đồng ý trả lời phỏng vấn
sau khi đã có thư hoặc trực tiếp trao đổi với tư lệnh lực lượng quân đội đặc
biệt. Chỉ sau khi có sự xác nhận cho phép của vị tư lệnh, họ mới đồng ý cho
phỏng vấn.
Cuốn sách này không những kể lại câu chuyện về chiến dịch bí mật mà
SOG thực hiện chống lại Hà Nội mà còn hé mở cho thấy sự tham gia chặt
chẽ của những người lãnh đạo cao nhất trong chính quyền Kenedy và
Johnson vào chiến dịch này. Khi John F. Kenedy quyết định chuyển giao
nhiệm vụ tiến hành các hoạt động bí mật chống Hà Nội từ CIA sang cho Bộ
Quốc phòng vào cuối năm 1962, một đơn vị đặc biệt của Lầu Năm Góc
được giao nhiệm vụ giám sát tiến trình phê duyệt cho phép thực hiện các
điệp vụ. Được biết đến dưới cái tên "Văn phòng trợ lý đặc biệt về chống nổi
loạn và các hoạt động đặc biệt" (viết tắt theo tên tiếng Anh là SACSA) và
đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân,
nhóm này chịu trách nhiệm phối hợp tiến hành các thủ tục phê duyệt cho
mọi hoạt động của SOG. Các nhân viên của "Phòng hoạt động đặc biệt"
trực thuộc SACSA đệ trình các đề xuất của SOG lên những người lãnh đạo
cao nhất của chính phủ Mỹ.
Khi SACSA nhận được đề xuất về một hoạt động nhất định của SOG, nhân
viên của SACSA sẽ trực tiếp trình yêu cầu đó cho Chủ tịch tham mưu
trưởng liên quân phê duyệt. Sau khi được phê duyệt, nhân viên của SACSA
phải xin ý kiến đồng ý của Bộ trưởng Quốc phòng Mc.Namara hoặc Thứ
trưởng Bộ Quốc phòng Cyrus Vance. Sau đó SACSA phải trình lên Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Dean Rusk hoặc Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Một nơi
https://thuviensach.vn
cần xin ý kiến nữa là Cố vấn an ninh của tổng thống Mc George Bundy.
Tuy nhiên ngay cả khi Cố vấn an ninh đã ký vào bản đề xuất quá trình phê
duyệt vẫn có thể chưa hoàn thành. Thông thường Bundy sẽ không cho
SACSA chuyển ý kiến phê duyệt cho SOG và chờ cho đến khi tổng thống
Johnson xem xét lần cuối.
Vì vậy một phần quan trọng của cuốn sách này sẽ tập trung đề cập đến sự
tham gia của những nhà hoạch định chính sách cao cấp nhất của Mỹ vào
các hoạt động ngầm của SOG. Các cuộc phỏng vấn nhân viên của SACSA
đã làm rõ những chi tiết của tiến trình phê chuẩn ở Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại
giao và Nhà Trắng. Những nhân viên này không chỉ xác nhận việc các nhà
hoạch định chính sách đã quyết định làm hoặc không làm việc gì - như đã
thể hiện trong các hồ sơ được giải mật - mà còn cung cấp các căn cứ cho
thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố này đối với các quyết định của
Washington về chiến tranh bí mật chống Hà Nội.
Tác giả cũng đã phỏng vấn các quan chức cao cấp phụ trách việc giám sát
và tiến trình phê duyệt. Những người này gồm: Robert Mc.Namara, Walt
Rostow, Roger Hilsman, William Sullivan, Richard Helms, William Colby,
Victor Krulak và William Westmoreland. Trong trường hợp không phỏng
vấn được các thành viên cao cấp của chính quyền Kenedy và Johnson, tác
giả sử dụng những ý kiến của họ còn lưu trong thư viện của Tổng thống.
Khi có liên quan, tác giả cũng đã tham khảo thêm hồ sơ được giải mật của
Hội đồng an ninh quốc gia, Bộ Ngoại giao và Bộ chỉ huy viện trợ quân sự
Mỹ ở Việt Nam (MACV).
Nói tóm lại, Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội được dựa trên nền tảng
căn cứ duy nhất là các nguồn tài liệu gốc. Nếu không có sự tiếp cận với
những tài liệu và cá nhân đó, thì sẽ không có đủ dữ liệu cần thiết cho cuốn
sách này. Với những tư liệu đó, tác giả sẽ đưa độc giả vượt qua bức màn bí
mật che phủ SOG và các kho lưu trữ tài liệu để tìm hiểu cách thức mà chính
quyền Kenedy và Johnson đã áp dụng để tham gia trò chơi theo luật chơi
https://thuviensach.vn
của Hà Nội. Tám chương và phần kết của cuốn sách sẽ trình bày những chi
tiết xác thực về cuộc chiến tranh bí mật chống Bắc Việt Nam.
CÂU CHUYỆN
Câu chuyện bắt đầu bằng quyết định của tổng thống Kenedy tháng Giêng
năm 1961 giao cho CIA nhiệm vụ tiến hành điệp vụ chống Bắc Việt Nam.
Tổng thống muốn gây sức ép đối với Hà Nội và làm đúng những gì mà họ
đang thực hiện đối với đồng minh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Hai bên
đều có thể cùng chơi trò lật đổ, dùng thủ đoạn xấu và chiến tranh bí mật.
Vào mùa hè 1962, không hài lòng với sự bất lực của CIA trong việc thực
hiện nhiệm vụ, Kenedy đã ra lệnh chuyển giao nhiệm vụ này cho quân đội
và mở rộng chiến tranh bí mật. Chương một của cuốn sách mô tả những sự
kiện này và giải thích tại sao Kenedy lại lựa chọn giải pháp đó.
Phần hai của chương một mô tả Kế hoạch hoạt động 34A (viết tắt theo tên
tiếng Anh là OPLAN34), nền tảng của MACVSOG. Phần này trình bày quá
trình vạch kế hoạch, phác hoạ các phần khác nhau của 34A và trả lời câu
hỏi kế hoạch này có xác định được các điểm yếu của Bắc Việt Nam mà nếu
bị tác động có thể ảnh hưởng đến khả năng của Hà Nội tiến hành cuộc chiến
ở miền Nam không. Bao gồm 72 loại hoạt động với tổng số 2.026 điệp vụ
thực hiện trong năm 1964, OPLAN34 đã tạo cơ sở cho sự leo thang của
cuộc chiến tranh bí mật của Mỹ.
Xây dựng kế hoạch hoạt động là một chuyện, nhưng việc hình thành nên tổ
chức để thực hiện kế hoạch đó lại là một chuyện khác. Tại thời điểm đó
không hề có một hình mẫu tổ chức cho MACVSOG và tổ chức này được
tạo nên từ con số không ở Sài Gòn. Chương hai cho thấy mức độ khó khăn
trong việc thành lập và điều hành SOG, nhất là khi Washington đòi hỏi phải
có kết quả ngay lập tức. Việc lãnh đạo điều hành SOG gặp phải 5 thách
thức lớn:
1. Giành được sự giúp đỡ miễn cưỡng của CIA,
https://thuviensach.vn
2. Xử lý mối lo ngại của các nhà hoạch định chính sách đối với một số loại
điệp vụ được nêu trong OPLAN34A,
3. Tạo ra một bộ máy tổ chức có khả năng làm việc cho SOG,
4. Tìm được người có đủ tiêu chuẩn,
5. Tạo ra mối quan hệ làm việc giữa MACVSOG và đối tác Nam Việt Nam.
Chương ba đến chương sáu sẽ tập trung vào các phòng nghiệp vụ của SOG
- người thực hiện cuộc chiến tranh bí mật chống miền Bắc. Hoạt động của
những phòng này nhằm vào hai mục tiêu là "trung tâm trọng lực" mà
Clausewitz gọi là điểm sức ép chiến lược của kẻ thù. Nếu những điểm này
bị xói mòn hoặc tác động, kẻ địch sẽ bị mất thăng bằng và giảm khả năng
tiến hành chiến tranh.
Một "trung tâm trọng lực" mà MACVSOG muốn gây rối là sự ổn định ở
hậu phương và an ninh ở bên trong miền Bắc. Các chính phủ kiểu Hà Nội
rất coi trọng an ninh nội bộ và kiểm soát nhân dân, thậm chí ngay cả trong
thời bình. Hà Nội đang chiến đấu chống lại một siêu cường và an ninh ở
hậu phương là yếu tố chiến lược sống còn. Trung tâm trọng lực thứ hai mà
MACVSOG nhằm vào là hệ thống cung cấp hậu cần, hệ thống chỉ huy kiểm
soát và địa bàn đóng quân dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào và
Campuchia - một trong những tài sản chiến lược của Hà Nội để tiến hành
cuộc chiến tranh.
Để làm suy yếu an ninh hậu phương của Hà Nội, MACVSOG chỉ đạo hàng
loạt các điệp vụ chống lại Bắc Việt Nam, trong đó có việc cài cắm các toán
gián điệp. Phòng nghiệp vụ phụ trách vấn đề này của SOG được mô tả
trong chương ba. Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 1964 đến tháng 10
năm 1967, khoảng 250 điệp viên được tung ra miền Bắc. Cộng với số điệp
viên của CIA, tổng số điệp viên được tung đi là khoảng 500 người. Tương
tự như CIA, tỷ lệ xâm nhập thành công của SOG là thấp.
https://thuviensach.vn
Vào cuối năm 1967, SOG nhận được tin xấu về hoạt động của các điệp
viên. Chương ba lý giải sai lầm đã xảy ra như thế nào và đưa độc giả vào
thế giới thủ đoạn của điệp viên đôi, đánh lừa và trò chơi nghiệp vụ. Nhận ra
rằng mọi việc đang tồi tệ, SOG dự định tiến hành lừa lại miền Bắc. Đây là
một nỗ lực nghiêm túc để gỡ gạc lại từ thất bại đau đớn. Phần cuối của
chương ba trình bày những chi tiết sâu kín nhất của kế hoạch đánh lừa này.
Chương bốn mô tả chiến dịch chiến tranh tâm lý nhằm tác động vào giới
lãnh đạo và nhân dân Bắc Việt Nam. Điểm cốt lõi là dự định làm cho Hà
Nội tin rằng phong trào chống đối giả tạo - Phong trào gươm thiêng ái quốc
(viết tắt theo tiếng Anh là SSPL) - là có thật. Để làm được điều đó SOG tạo
ra đài phát thanh của SSPL hướng vào Bắc Việt Nam và rải tài liệu tuyên
truyền của SSPL. SOG còn tạo ra một vùng giải phóng giả, nơi những công
dân miền Bắc bị bắt cóc được đưa đến gặp gỡ lãnh đạo của SSPL và truyền
bá tư tưởng theo kịch bản chuẩn bị sẵn.
Các hoạt động chiến tranh tâm lý khác, như đài phát thanh giả, thư tâm lý
chiến, giấy tờ giả và các thủ đoạn bẩn thỉu tương tự, cũng được áp dụng để
khuếch đại ấn tượng của Hà Nội là họ đang có rất nhiều vấn đề an ninh. Đó
là hàng loạt các kỹ thuật chiến tranh tâm lý đầy ấn tượng. Tuy nhiên, nhược
điểm lớn nhất của cuộc chiến tranh tâm lý này không phải ở chỗ các biện
pháp được áp dụng mà ở mục đích được đề ra và những hạn chế do các nhà
vạch chính sách áp đặt. Phần cuối của chương sẽ làm rõ lý do tại sao lại như
vậy.
Phòng nghiệp vụ thứ ba của SOG tiến hành các hoạt động bí mật trên biển
dọc theo bờ biển Bắc Việt Nam. Trong những điệp vụ đầu tiên đề ra trong
OPLAN34A, hoạt động trên biển được tổng thống Johnson và Bộ trưởng
Quốc phòng Mc. Namara coi là có nhiều khả năng tạo ra tác động ngay và
lớn nhất đối với Hà Nội. Những hoạt động này bao gồm pháo kích bờ biển,
bắt giữ tù binh, ngăn chặn các thuyền bè, tập kích, phân phát hàng tâm lý
chiến và bắt cóc công dân Bắc Việt Nam để cho SSPL tuyên truyền.
https://thuviensach.vn
Chương năm mô tả những hoạt động này và đánh giá tác động của chúng. Ở
phần kết, chương năm sẽ phân tích tại sao sự kỳ vọng của Mc Namara và
các nhà vạch chính sách khác là hoàn toàn phi thực tế.
Phòng nghiệp vụ cuối cùng của SOG phụ trách các điệp vụ thám báo do Mỹ
lãnh đạo nhằm ngăn cản việc Hà Nội sử dụng đường mòn Hồ Chí Minh. Do
thái độ thận trọng và mối lo ngại về chính trị nội bộ, Tổng thống Johnson đã
rất ngần ngại khi đưa ra quyết định tiến hành các hoạt động này. Phần đầu
của chương sáu bàn về cuộc tranh đấu chính trị trong gần hai năm giữa Bộ
Ngoại giao và Lầu Năm Góc về việc có cho phép SOG tiến hành hoạt động
chống lại con đường mòn hay không.
Cuối cùng thì các hoạt động thám báo cũng được chuẩn y và các đội thám
báo do Mỹ chỉ huy được tung sang Lào vào tháng 10 năm 1965. Trong vòng
ba năm, phòng này của SOG đã mở rộng một cách nhanh chóng và sử dụng
phần lớn nhân lực và trang thiết bị. Vào năm 1967, hoạt động thám báo
được mở rộng sang Campuchia. Phần còn lại của chương sáu mô tả cuộc
chiến tranh bí mật của SOG chống lại quân đội miền Bắc trên tuyến đường
Hồ Chí Minh. Mục đích của các hoạt động này là nhằm ngăn chặn quân đội
Bắc Việt sử dụng con đường mòn để nhanh chóng chuyển quân từ các căn
cứ ở Lào và Campuchia đến các chiến trường ở miền Nam. Như được đề
cập trong chương này, Bắc Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp để chống
lại hoạt động của SOG.
Trong chương bảy, câu chuyện được chuyển từ hoạt động của SOG trên
chiến trường sang vị trí của SOG trong chiến lược quân sự của Mỹ trong
cuộc chiến Việt Nam. Chương này bắt đầu bằng việc xác định mức độ tin
tưởng của các nhà lãnh đạo quân sự -những người chịu trách nhiệm tiến
hành cuộc chiến tranh - vào khả năng đóng góp của hoạt động bán quân sự
bí mật và việc gắn kết hoạt động đó vào kế hoạch chiến tranh chung.
Chương này cho thấy các nhà lãnh đạo quân sự mà đặc biệt là tướng
https://thuviensach.vn
Westmoreland đã không xem xét các hoạt động của SOG theo khía cạnh
này.
Trong khi các nhà lãnh đạo quân sự không coi SOG là một bộ phận cấu
thành của chiến lược chiến tranh, họ đã kiểm soát hoạt động của SOG một
cách chặt chẽ vì e ngại về tính chất nhạy cảm của các điệp vụ. Phần thứ hai
của chương bảy phân tích nguyên nhân của tình trạng này và trình bày chi
tiết về hệ thống chỉ huy-kiểm soát đã bó buộc SOG. Chương này xác định
mức độ giới lãnh đạo quân sự đã chống lại quan niệm của Kenedy về chiến
tranh đặc biệt, giành giật quyền kiểm soát hoạt động bí mật và đã không
gắn kết SOG với chiến lược chiến tranh.
Chương tám, chương cuối cùng, quay về chủ đề sự kiểm soát của Kenedy
và Johnson đối với chiến tranh đặc biệt. Việc sử dụng hoạt động ngầm đặc
trưng bởi sự hăm hở và lưõng lự. Khởi đầu với tổng thống Kenedy và các
quan chức cao cấp như Robert Mc Namara, Mc George Bundy, Walt
Rostow, và Robert Kenedy, mọi người đều sẵn sàng sử dụng hoạt động
ngầm một cách tích cực và coi đó là phương tiện để thuyết phục Hà Nội
chấm dứt việc xúi giục chiến tranh ở miền Nam. Khi CIA tỏ ra không thể
triển khai nhanh chóng, Kenedy giao cho Lầu Năm Góc nhận nhiệm vụ tiến
hành chiến tranh bí mật chống lại Bắc Việt Nam.
Bất chấp sự tiếp cận hăng hái của tổng thống Kenedy, hoạt động của SOG
bị kìm hãm bởi sự ngăn trở và hạn chế dưới thời tổng thống Johnson.
Chương này giải thích tại sao và bằng cách nào mà sự khác biệt giữa ý định
ban đầu của Kenedy và việc thực hiện các hoạt động của SOG trên thực tế
của Johnson lại nảy sinh. Việc giám sát của Nhà Trắng lúc này không phải
đặc trưng bởi sự sẵn sàng chấp nhận mà là lảng tránh rủi ro. Bắt đầu bằng
sự xem xét OPLAN34A của tổng thống Johnson vào tháng 12 năm 1964 và
trong cả quá trình tồn tại của SOG, các nhà vạch chính sách cao cấp đã bác
bỏ các điệp vụ có thể mang lại rủi ro chính trị. Họ đã rụt rè và hầu như
https://thuviensach.vn
không dám chấp nhận rủi ro, bất chấp việc Tổng thống Kenedy đã tích cực
như thế nào trong việc tiến hành hoạt động bí mật chống lại Bắc Việt Nam.
Tuy nhiên, mặc dù có sự e dè của Nhà Trắng, các giới hạn chính trị do
Washington đặt ra, và những thất bại trong hoạt động của SOG cũng như
các biện pháp đối phó của đối phương, vào năm 1968 Hà Nội bắt đầu tỏ ra
lo ngại. Chính quyền đã phát động phong trào chống gián điệp để đối phó
với tình hình. Tương tự như vậy, hoạt động của SOG chống lại đường mòn
Hồ Chí Minh đã làm cho Bắc Việt Nam chú ý. Hà Nội đã áp dụng hàng loạt
biện pháp để bảo đảm việc sử dụng an toàn con đường này. Cuối cùng, Hà
Nội đã cài cắm điệp viên của mình vào trong bộ máy miền Nam Việt Nam
cùng làm việc với SOG.
SOG bắt đầu có tác động mà Kenedy đã tính toán năm 1961 và phải mất
những bảy năm để đạt được điều đó. Nhưng thực tế chính trị nội bộ Mỹ có
diễn biến mới. Chương tám cung cấp những chi tiết về sự tiến triển này.
Có thể học hỏi được rất nhiều từ MACVSOG về khả năng của Hoa Kỳ
trong việc thực hiện hoạt động ngầm với quy mô lớn. Cuốn sách này xác
định một số cản trở đã hạn chế tính hiệu quả của SOG. Chơi theo luật chơi
của Hà Nội tỏ ra nói dễ hơn làm. Tuy nhiên những ngáng trở đã gây tai hoạ
cho SOG cũng có thể được tìm thấy trong các ví dụ khác của thời kỳ chiến
tranh lạnh trong đó Hoa Kỳ sử dụng hoạt động ngầm. Phần kết nêu những
kết luận của MACVSOG và so sánh chúng với các hoạt động ngầm khác
mà Mỹ đã tiến hành và bị cản trở bởi những hạn chế tương tự. Việc khảo sát
so sánh này làm sáng tỏ những hạn chế vốn là đặc điểm của việc sử dụng
hoạt động ngầm trong các đời tổng thống Mỹ.
Phần kết được kết thúc bằng việc giải đáp câu hỏi cuối cùng. Trong thời kỳ
hậu chiến tranh lạnh, những bài học của MACVSOG có ích lợi gì đối với
các tổng thống tương lai nếu như họ muốn sử dụng hoạt động ngầm để đối
phó với những nguy cơ mới đe doạ đến lợi ích an ninh của Mỹ?
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG MỘT
https://thuviensach.vn
NẾU HỌ LÀM ĐƯỢC
https://thuviensach.vn
THÌ CHÚNG TA CŨNG LÀM
ĐƯỢC
Vào buổi sáng chủ nhật, ngày 28 tháng Giêng năm 1961, tổng thống vừa
tuyên thệ nhận chức John F. Kenedy chủ toạ cuộc họp đầu tiên của Hội
đồng an ninh quốc gia để thảo luận về tình hình Việt Nam. Tin tức rất xấu,
và do chính một người có hiểu biết sâu về Việt Nam đồng thời là một
chuyên gia chống chiến tranh du kích do cộng sản phát động báo cáo.
Edward Geary Lansdale là một chuẩn tướng không quân khác thường. Vốn
là cựu binh của Văn phòng tình báo chiến lược (OSS) trong chiến tranh thế
giới thứ hai và một người chỉ huy giàu kinh nghiệm các hoạt động bí mật
của Cục tình báo Trung ương (CIA), Lansdale đã trở thành huyền thoại về
vai trò của ông trong chiến dịch chống nổi loạn rất thành công ở Philippines
đầu những năm 50. Lansdale đã giúp Ramon Magsaysay đánh bại cuộc nổi
loạn cộng sản Huk.
Với những kinh nghiệm còn nóng hổi, ông được tổng thống Dwight D.
Eisenhower cử sang Việt Nam khi chế độ thuộc địa Pháp sụp đổ, đánh dấu
bằng sự đầu hàng tại Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiệm vụ
ban đầu của Lansdale là vạch kế hoạch và tiến hành chiến dịch hoạt động
ngầm chống lại chế độ cộng sản mới ở Hà Nội. Mặc dù những nỗ lực này
không thành công, ông tiếp tục ở lại Việt Nam cho đến năm 1956 và trở
thành bạn thân và người tin cẩn của Ngô Đình Diệm, tổng thống tương lai
của Nam Việt Nam.
Lansdale vừa mới trở về sau chuyến đi tìm hiểu tình hình hai tuần ở Việt
Nam đầu tháng Giêng năm 1961 và được mời đến để thuyết trình với Hội
đồng an ninh quốc gia về những gì ông thu thập được. Kenedy đã đọc báo
https://thuviensach.vn
cáo chuyến đi của Lansdale và lưu ý các thành viên của Hội đồng rằng "lần
đầu tiên, có một bản báo cáo cho ông cảm giác về mối nguy hiểm và tính
khẩn cấp của vấn đề Việt Nam". (Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 19611963: Việt Nam, Tập 1 (Washing- ton DC, Nhà in chính phủ, 1988), sau đây
viết tắt là FRUS, tr.16.)
Lansdale trình bày một cách thẳng thắn. Ông nói với Hội đồng an ninh quốc
gia rằng "bắt đầu từ tháng 12 năm 1959 cho đến nay, ở khắp miền Nam các
hoạt động du kích và chống trả của Việt Cộng ngày càng gia tăng". Việt
Cộng với sự hậu thuẫn của Hà Nội tiến hành "bắt cóc và sát hại các quan
chức ở xã ấp, phục kích và tấn công vũ trang". Mục tiêu của Bắc Việt Nam
là "sáp nhập Nam Việt Nam vào khối cộng sản” (Sđd. tr.5-6). Trong chuyến
thị sát, Lansdale hầu như không thấy điều gì có thể mang lại hy vọng, Hà
Nội và Việt Cộng đang áp sát và trong điều kiện đó, chính quyền Sài Gòn
không thể làm chậm chứ đừng nói đến việc ngăn chặn ngày tận thế đang
đến gần.
Lansdale đệ trình "Kế hoạch chống nổi loạn cơ bản cho Việt Nam" đã được
toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi cho Washington đầu tháng Giêng năm
1961(Kế hoạch này do Nhóm công tác quốc gia soạn thảo năm 1960, được
phê duyệt 28-1-1961 mà không có những bất đồng lớn trong Hội đồng an
ninh quốc gia). Bản báo cáo đã đề nghị cần có những thay đổi cơ bản trong
phương pháp đối phó với tình trạng nổi loạn của chính phủ Diệm. Các lực
lượng chống du kích và chương trình cải cách dân sự là cần thiết để đánh
bại Việt Cộng và giành sự ủng hộ và trung thành của nông dân. Hoa Kỳ có
thể cung cấp viện trợ cho các chương trình này, nhưng Sài Gòn phải cộng
tác. Trên nhiều khía cạnh, kế hoạch này phù hợp với quan điểm của Tổng
thống và nhiều cố vấn thân cận của ông. Họ tin rằng giành thắng lợi trong
cuộc chiến tranh du kích, một cuộc chiến không giới tuyến hoặc chiến
trường, đòi hỏi những chính sách và chiến lược mới. Mọi điều ở Nam Việt
Nam cần phải được thay đổi.
https://thuviensach.vn
Thách thức lần này phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều so với cuộc nổi loạn
ở Philippines mà Lansdale đã giúp đánh bại. Ở Philippines, vấn đề chỉ là
cuộc lật đổ cộng sản mang tính nội bộ do Huk lãnh đạo và chiến tranh du
kích. Ở Nam Việt Nam, Việt Cộng đang áp dụng những hoạt động tương tự,
nhưng không giống như Huk, họ nhận được sự trợ giúp và chỉ đạo từ Hà
Nội. Sự trợ giúp từ bên ngoài này là sự khác biệt có tính chất cốt lõi giữa
hai tình huống.
Kế hoạch chống nổi loạn tìm cách vô hiệu hoá và đánh bại thách thức của
Việt Cộng ở Nam Việt Nam, một nhiệm vụ sẽ đơn giản đi rất nhiều nếu như
sự giúp đỡ của Bắc Việt Nam bị loại trừ. Điều gì có thể thuyết phục Hà Nội
rằng việc giúp đỡ Việt Cộng là không phù hợp với lợi ích của họ? Tại cuộc
họp của Hội đồng an ninh quốc gia, Tổng thống đặt ra câu hỏi liệu hoạt
động du kích có thể được tiến hành trong lòng Bắc Việt Nam hay không.
Allen Dulles, giám đốc CIA, báo cáo hiện có một số hoạt động hạn chế
đang được thực hiện để giúp tổ chức du kích của Nam Việt Nam đủ khả
năng quấy rối Bắc Việt Nam. Nhưng ông thừa nhận rằng mới chỉ có bốn
toán, mỗi toán tám người được thành lập dưới sự giám sát của CIA và các
toán này không được bố trí và hoạt động thường xuyên ở miền Bắc. Nhiệm
vụ của họ là quấy phá ở vùng biên giới Bắc Việt Nam. Kenedy được báo
cáo là "các toán này được phân công hoạt động ở các địa bàn phía nam" và
"chuyển sang biên với Lào".(FRUSm 1961-1963, tr. 17) Đây là những nỗ
lực rất hạn chế và khó có thể làm nản lòng Hà Nội trong cuộc đấu tranh
thống nhất Việt Nam.
Kenedy không hài lòng với những cố gắng của CIA và tuyên bố ông muốn
"có du kích hoạt động ở miền Bắc" (FRUSm 1961-1963, tr. 17...
CUỘC CHIẾN TRANH BÍ MẬT
CHỐNG HÀ NỘI
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG MỘT
NẾU HỌ LÀM ĐƯỢC
THÌ CHÚNG TA CŨNG LÀM ĐƯỢC
CHƯƠNG HAI
HÌNH THÀNH SOG
CHƯƠNG BA
BẮC TIẾN
CHƯƠNG BỐN
LÀM CHO HỌ PHÁT ĐIÊN BẰNG
CHIẾN TRANH TÂM LÝ
CHƯƠNG NĂM
TỪ MẶT BIỂN
CHƯƠNG SÁU
VƯỢT QUA GIỚI TUYẾN
CHƯƠNG BẢY
KHOẢNG CÁCH LỚN:
SOG VÀ CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CỦA MỸ
CHƯƠNC TÁM
VIỆC KIỂM SOÁT CỦA TỔNG THỐNG
PHẦN KẾT
Chú Thích
https://thuviensach.vn
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Cuộc chiến tranh Việt Nam - theo cách gọi của người Mỹ - đã lùi xa hơn
một phần tư thế kỷ, nhưng thất bại của Mỹ và những hậu quả kèm theo được khái quát bằng cụm từ "hội chứng Việt Nam" - vẫn còn mang tính thời
sự nóng hổi. Câu hỏi: Tại sao Việt Nam ? Vẫn còn đó và tiếp tục thách thức
các nhà nghiên cứu Mỹ tìm ra câu trả lời thoả đáng.
Cuốn sách "Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội" xuất bản năm 1999, của
nhà nghiên cứu Mỹ, giáo sư Richard H. Shultz, Jr mà các bạn đang có trong
tay là một trong những nỗ lực giải đáp câu hỏi đó: Như tên gọi, cuốn sách
đề cập đến một khía cạnh rất đặc biệt và bí mật của cuộc chiến tranh.
Nhưng khác với một số ít cuốn sách đã viết về đề tài này, Cuộc chiến tranh
bí mật chống Hà Nội không khai thác những yếu tố bí mật, đặc biệt để lôi
kéo độc giả. Ngược lại, với các nguồn tài liệu tuyệt mật của CIA, Bộ Quốc
phòng và Nhà Trắng mới được công bố, và đặc biệt là các cuộc phỏng vấn
những người trực tiếp chỉ đạo, điều hành và thực hiện cuộc chiến tranh bí
mật, cuốn sách đi sâu phân tích tư tưởng chỉ đạo, dựng lại quá trình hoạt
động, phân tích các nguyên nhân thất bại và trên cơ sở đó rút ra những bài
học cần thiết cho nước Mỹ. Có thể nói cuốn sách là một tổng kết khá đầy đủ
của các nhà nghiên cứu Mỹ về các hoạt động bí mật chống phá miền Bắc
trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Theo cuốn sách, từ năm 1951 đến 1972, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nhà
Trắng, Lầu Năm Góc và CIA, Mỹ đã thành lập một tổ chức cực kỳ bí mật
để tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc, điều hành hoạt động tuyên truyền
tâm lý chiến, tiến hành các hoạt động phá hoại trên biển và ngăn chặn
đường mòn Hồ Chí Minh. Tác giả đã làm rõ vai trò của giới lãnh đạo cao
cấp nhất ở Washington và những toan tính của họ trong quyết định tiến
hành các hoạt động bí mật chống miền Bắc. Họ là Tổng thống Kenedy,
https://thuviensach.vn
Johnson và Nixon; là Bộ trưởng Quốc phòng Mc.Namara, Giám đốc Cục
tình báo Trung ương Mỹ Colby, Cố vấn an ninh Tổng thống Bundy, Bộ
trưởng Tư pháp Robert Kenedy và nhiều quan chức dân sự, quân sự cao cấp
khác. Đồng thời, qua những trang sách, các phương thức hoạt động, kể cả
những thủ đoạn "bẩn thỉu" mà Mỹ sử dụng trong hoạt động bí mật cũng
được mô tả chi tiết.
Mặc dù được tập trung chỉ đạo, sử dụng một số lượng lớn nguồn nhân lực
và vật lực trong một thời gian dài, cuốn sách kết luận Mỹ đã thất bại. Hầu
hết số gián điệp biệt kích tung ra Bắc đều bị bắt giữ hoặc tiêu diệt, chiến
tranh tâm lý bị phá sản, con đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển vẫn
tiếp tục hoạt động. Như cuốn sách thừa nhận, Việt Nam là đối thủ quá khó
chơi đối với Mỹ. Tuy nhiên, thay vì tìm nguyên nhân thất bại trong sai lầm
chiến lược của giới cầm quyền Mỹ như Mc.Namara đã từng chỉ ra, tác giả
mới chỉ dừng lại ở những nguyên nhân về tổ chức, năng lực và phối hợp
của phía Mỹ.
Với những nội dung và cách đặt vấn đề trong cuốn sách, có thể thấy tác giả
đã cố gắng có cách nhìn tương đối khách quan về cuộc chiến tranh bí mật
của Mỹ ở Việt Nam. Mặc dù một số đánh giá nhận định của tác giả mang
tính phiến diện một chiều, do đó còn có những hạn chế nhất định, cuốn sách
đã góp phần làm sáng tỏ một khía cạnh còn ít được nghiên cứu của cuộc
chiến tranh Việt Nam.
Với mong muốn giúp bạn đọc quan tâm đến vấn đề này hiểu thêm cách
nhìn nhận đánh giá từ phía học giả Mỹ và qua đó cảm nhận đầy đủ hơn về
chiến thắng vĩ đại của chúng ta, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin xin trân
trọng giới thiệu cuốn sách: Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội như một
tài liệu để chúng ta cùng tham khảo.
Tháng 3 năm 2002
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HOÁ - THÔNG TIN
https://thuviensach.vn
PHẦN MỞ ĐẦU
Kể từ khi khai sinh ra Văn phòng tình báo chiến lược (OSS) trong chiến
tranh thế giới thứ hai cho đến nay, chính phủ Hoa Kỳ đã nhiều lần sử dụng
các lực lượng đặc biệt tiến hành các hoạt động ngầm để hỗ trợ chính sách
ngoại giao của Mỹ. Tuy nhiên, do tính chất bí mật cao và nhạy cảm về
chính trị của các hoạt động này, mọi người biết rất ít về chúng. Chắc chắn
rằng qua thời gian, nhiều mẩu thông tin về hoạt động ngầm đã lộ lọt ra
ngoài, nhưng phần lớn các tài liệu và hồ sơ của các chiến dịch bí mật vẫn
còn nằm trong các kho lưu trữ của chính phủ. Những tài liệu đó thuộc một
trong những loại bí mật nhất của thời chiến tranh lạnh.
Với sự chấm dứt của xung đột Đông-Tây, giờ đây chúng ta đã có thể nhìn
xuyên qua bức màn bí mật vốn che phủ những hoạt động ngầm trong suốt
nửa thế kỷ qua. Khi những kho lưu trữ được mở ra, chúng ta có thể xem xét
hồ sơ của các điệp vụ thành công và thất bại trong quá khứ và rút ra những
bài học cho các tình huống trong tương lai, trong đó các lực lượng đặc biệt
có thể được sử dụng.
Chiến dịch bán quân sự bí mật của Washington chống lại Hà Nội trong cuộc
chiến tranh Việt Nam minh hoạ tình hình mới nói trên. Chiến dịch do Nhóm
nghiên cứu và quan sát thuộc Bộ chỉ huy trợ giúp quân sự Mỹ ở Việt Nam
(viết tắt theo tên tiếng Anh là MACVSOG hoặc SOG) là hoạt động ngầm
lớn nhất và phức tạp nhất do Mỹ thực hiện kể từ khi OSS ra đời.
MACVSOG đã tiến hành cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội trong tám
năm, bắt đầu từ tháng Giêng năm 1964 đến tháng Tư năm 1972.
Trong khi ở các thư viện không thiếu sách viết về hầu hết các khía cạnh của
cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng ở đó vẫn còn thiếu vắng những nghiên
cứu, đánh giá về hoạt động và ý nghĩa chiến lược của SOG. Người ta cho
https://thuviensach.vn
rằng tất cả các cuốn sử viết về chiến tranh thế giới lần thứ hai mà viết trước
thời điểm tiết lộ việc giải mã những bức điện thông tin bí mật của Đức là
không đầy đủ. Điều này cũng đúng đối với các nghiên cứu về chiến tranh
Việt Nam. Nếu không đề cập một cách đầy đủ về chiến dịch bán quân sự bí
mật do SOG thực hiện thì lịch sử về cuộc xung đột này đã thiếu vắng những
chương quan trọng. Cuốn sách: Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội đã
bổ sung cho sự thiếu hụt này bằng việc cung cấp thông tin một cách hoàn
chỉnh về cuộc chiến tranh bí mật - mà đúng ra sẽ không bao giờ được tiết lộ
- đồng thời cho thấy những khía cạnh mới mẻ về thất bại của Mỹ ở Việt
Nam.
CHỨNG CỨ
Cuốn sách này dựa trên kinh nghiệm và hồi ức của những người trực tiếp
tham gia cuộc chiến tranh bí mật chống lại Bắc Việt Nam và những quan
chức cấp cao vạch chính sách và chỉ đạo chiến dịch này ở Washington. Tác
giả có được sự tiếp cận đặc biệt đối với hồ sơ và những cá nhân đã điều
hành một tổ chức tuyệt mật mang một cái tên hiền lành là “Nhóm nghiên
cứu và quan sát". Sự tiếp cận đặc biệt này do cựu tư lệnh lực lượng hoạt
động đặc biệt, Trung tướng Terry Scott dành cho tác giả khi ông nhận ra
rằng những bài học của SOG vẫn được giữ kín, thậm chí với cả những
người đang được giao thực hiện nhiệm vụ tương tự.
Vì vậy, bắt đầu từ mùa hè năm 1995, một cuộc nghiên cứu toàn diện về
cuộc chiến tranh bí mật chống lại Bắc Việt Nam được tiến hành. Cuộc
nghiên cứu gần như tập trung chủ yếu vào các nguồn thông tin gốc, bao
gồm các cuộc phỏng vấn sâu với hơn 60 quan chức đã điều hành các
chương trình của SOG, trong đó có năm vị tư lệnh của SOG và các quan
chức chỉ đạo hoặc đồng vai trò quan trọng trong bốn bộ phận của SOG có
nhiệm vụ vạch kế hoạch và thực hiện hàng loạt điệp vụ chống lại Hà Nội.
Bốn nhiệm vụ chủ yếu đó của SOG bao gồm:
https://thuviensach.vn
1. Cài cắm và chỉ đạo các toán gián điệp và tạo ra một chiến dịch nghi binh
phức tạp, trong đó có cả việc tuyển mộ tù binh của Bắc Việt Nam.
2. Chiến tranh tâm lý- dựng nên một phong trào chống đối giả ở Bắc Việt
Nam, bắt cóc và tuyên truyền công dân Bắc Việt Nam, điều hành các đài
phát thanh đen, phân phát các tài liệu tuyên truyền, làm giả thư từ, tài liệu
và các hoạt động bẩn thỉu khác.
3. Hoạt động ngăn chặn trên biển: bắt giữ và phá huỷ các tàu hải quân và
thuyền đánh cá của Bắc Việt Nam, đánh phá các mục tiêu ven biển, tiến
hành các vụ tập kích phá hoại các cơ sở quân sự và dân sự và rải các tài liệu
chiến tranh tâm lý.
4. Hoạt động thám báo bên kia biên giới chống lại đường mòn Hồ Chí Minh
bằng các toán thám báo người dân tộc (người Thượng và người Nùng) để
ngăn cản hoạt động cung cấp nhân lực và vật lực của quân đội miền Bắc,
bao gồm việc xác định mục tiêu không kích, bắt cóc bộ đội, đặt máy nghe
trộm, và phân phát tài liệu chiến tranh tâm lý.
Mỗi một cuộc phỏng vấn được thiết kế nhằm làm rõ vai trò của từng cá
nhân trong SOG. Các bảng câu hỏi sơ bộ được lập ra trên cơ sở thông tin
có được từ tài liệu của MACVSOG liên quan trực tiếp đến điệp vụ, chiến
dịch hoặc hoạt động do từng cá nhân phụ trách. Do vậy các thông tin thu
thập được từ các cựu chiến binh của SOG vừa chi tiết vừa sâu sắc. Do tác
giả đã nắm được quy mô, tình tiết hoạt động và hiệu quả của các kế hoạch
do từng cá nhân thực hiện, các cuộc phỏng vấn tập trung chủ yếu vào những
sắc thái và chi tiết thường không thể tìm thấy trong các hồ sơ tuyệt mật.
Cơ sở cho việc áp dụng kỹ thuật phỏng vấn này là việc sử dụng rộng rãi hai
nguồn tài liệu mật quý báu. Những tài liệu này bao gồm khoảng 2.0003.000 trang hồ sơ được giải mật vào năm 1995. Ngoài ra, Bộ Quốc phòng
và Cục Tình báo Trung ương đã cho phép tác giả tiếp cận với 1.500 trang
tài liệu có độ nhậy cảm cao hơn. Những hồ sơ này đã tạo ra một cái nhìn chi
https://thuviensach.vn
tiết và chân thực về các kế hoạch, chương trình và hoạt động của
MACVSOG. Chúng cũng còn bao gồm các báo cáo, nghiên cứu và đánh giá
của bốn bộ phận nghiệp vụ của SOG.
Những hồ sơ trên lẽ ra sẽ không bao giờ được đưa ra ánh sáng. Trong thực
tế, nhiều nhân viên của SOG đã rất ngạc nhiên khi được hỏi về các vấn đề
mà họ đã tuyên thệ phải giữ kín. Nhiều người chỉ đồng ý trả lời phỏng vấn
sau khi đã có thư hoặc trực tiếp trao đổi với tư lệnh lực lượng quân đội đặc
biệt. Chỉ sau khi có sự xác nhận cho phép của vị tư lệnh, họ mới đồng ý cho
phỏng vấn.
Cuốn sách này không những kể lại câu chuyện về chiến dịch bí mật mà
SOG thực hiện chống lại Hà Nội mà còn hé mở cho thấy sự tham gia chặt
chẽ của những người lãnh đạo cao nhất trong chính quyền Kenedy và
Johnson vào chiến dịch này. Khi John F. Kenedy quyết định chuyển giao
nhiệm vụ tiến hành các hoạt động bí mật chống Hà Nội từ CIA sang cho Bộ
Quốc phòng vào cuối năm 1962, một đơn vị đặc biệt của Lầu Năm Góc
được giao nhiệm vụ giám sát tiến trình phê duyệt cho phép thực hiện các
điệp vụ. Được biết đến dưới cái tên "Văn phòng trợ lý đặc biệt về chống nổi
loạn và các hoạt động đặc biệt" (viết tắt theo tên tiếng Anh là SACSA) và
đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân,
nhóm này chịu trách nhiệm phối hợp tiến hành các thủ tục phê duyệt cho
mọi hoạt động của SOG. Các nhân viên của "Phòng hoạt động đặc biệt"
trực thuộc SACSA đệ trình các đề xuất của SOG lên những người lãnh đạo
cao nhất của chính phủ Mỹ.
Khi SACSA nhận được đề xuất về một hoạt động nhất định của SOG, nhân
viên của SACSA sẽ trực tiếp trình yêu cầu đó cho Chủ tịch tham mưu
trưởng liên quân phê duyệt. Sau khi được phê duyệt, nhân viên của SACSA
phải xin ý kiến đồng ý của Bộ trưởng Quốc phòng Mc.Namara hoặc Thứ
trưởng Bộ Quốc phòng Cyrus Vance. Sau đó SACSA phải trình lên Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Dean Rusk hoặc Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Một nơi
https://thuviensach.vn
cần xin ý kiến nữa là Cố vấn an ninh của tổng thống Mc George Bundy.
Tuy nhiên ngay cả khi Cố vấn an ninh đã ký vào bản đề xuất quá trình phê
duyệt vẫn có thể chưa hoàn thành. Thông thường Bundy sẽ không cho
SACSA chuyển ý kiến phê duyệt cho SOG và chờ cho đến khi tổng thống
Johnson xem xét lần cuối.
Vì vậy một phần quan trọng của cuốn sách này sẽ tập trung đề cập đến sự
tham gia của những nhà hoạch định chính sách cao cấp nhất của Mỹ vào
các hoạt động ngầm của SOG. Các cuộc phỏng vấn nhân viên của SACSA
đã làm rõ những chi tiết của tiến trình phê chuẩn ở Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại
giao và Nhà Trắng. Những nhân viên này không chỉ xác nhận việc các nhà
hoạch định chính sách đã quyết định làm hoặc không làm việc gì - như đã
thể hiện trong các hồ sơ được giải mật - mà còn cung cấp các căn cứ cho
thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố này đối với các quyết định của
Washington về chiến tranh bí mật chống Hà Nội.
Tác giả cũng đã phỏng vấn các quan chức cao cấp phụ trách việc giám sát
và tiến trình phê duyệt. Những người này gồm: Robert Mc.Namara, Walt
Rostow, Roger Hilsman, William Sullivan, Richard Helms, William Colby,
Victor Krulak và William Westmoreland. Trong trường hợp không phỏng
vấn được các thành viên cao cấp của chính quyền Kenedy và Johnson, tác
giả sử dụng những ý kiến của họ còn lưu trong thư viện của Tổng thống.
Khi có liên quan, tác giả cũng đã tham khảo thêm hồ sơ được giải mật của
Hội đồng an ninh quốc gia, Bộ Ngoại giao và Bộ chỉ huy viện trợ quân sự
Mỹ ở Việt Nam (MACV).
Nói tóm lại, Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội được dựa trên nền tảng
căn cứ duy nhất là các nguồn tài liệu gốc. Nếu không có sự tiếp cận với
những tài liệu và cá nhân đó, thì sẽ không có đủ dữ liệu cần thiết cho cuốn
sách này. Với những tư liệu đó, tác giả sẽ đưa độc giả vượt qua bức màn bí
mật che phủ SOG và các kho lưu trữ tài liệu để tìm hiểu cách thức mà chính
quyền Kenedy và Johnson đã áp dụng để tham gia trò chơi theo luật chơi
https://thuviensach.vn
của Hà Nội. Tám chương và phần kết của cuốn sách sẽ trình bày những chi
tiết xác thực về cuộc chiến tranh bí mật chống Bắc Việt Nam.
CÂU CHUYỆN
Câu chuyện bắt đầu bằng quyết định của tổng thống Kenedy tháng Giêng
năm 1961 giao cho CIA nhiệm vụ tiến hành điệp vụ chống Bắc Việt Nam.
Tổng thống muốn gây sức ép đối với Hà Nội và làm đúng những gì mà họ
đang thực hiện đối với đồng minh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Hai bên
đều có thể cùng chơi trò lật đổ, dùng thủ đoạn xấu và chiến tranh bí mật.
Vào mùa hè 1962, không hài lòng với sự bất lực của CIA trong việc thực
hiện nhiệm vụ, Kenedy đã ra lệnh chuyển giao nhiệm vụ này cho quân đội
và mở rộng chiến tranh bí mật. Chương một của cuốn sách mô tả những sự
kiện này và giải thích tại sao Kenedy lại lựa chọn giải pháp đó.
Phần hai của chương một mô tả Kế hoạch hoạt động 34A (viết tắt theo tên
tiếng Anh là OPLAN34), nền tảng của MACVSOG. Phần này trình bày quá
trình vạch kế hoạch, phác hoạ các phần khác nhau của 34A và trả lời câu
hỏi kế hoạch này có xác định được các điểm yếu của Bắc Việt Nam mà nếu
bị tác động có thể ảnh hưởng đến khả năng của Hà Nội tiến hành cuộc chiến
ở miền Nam không. Bao gồm 72 loại hoạt động với tổng số 2.026 điệp vụ
thực hiện trong năm 1964, OPLAN34 đã tạo cơ sở cho sự leo thang của
cuộc chiến tranh bí mật của Mỹ.
Xây dựng kế hoạch hoạt động là một chuyện, nhưng việc hình thành nên tổ
chức để thực hiện kế hoạch đó lại là một chuyện khác. Tại thời điểm đó
không hề có một hình mẫu tổ chức cho MACVSOG và tổ chức này được
tạo nên từ con số không ở Sài Gòn. Chương hai cho thấy mức độ khó khăn
trong việc thành lập và điều hành SOG, nhất là khi Washington đòi hỏi phải
có kết quả ngay lập tức. Việc lãnh đạo điều hành SOG gặp phải 5 thách
thức lớn:
1. Giành được sự giúp đỡ miễn cưỡng của CIA,
https://thuviensach.vn
2. Xử lý mối lo ngại của các nhà hoạch định chính sách đối với một số loại
điệp vụ được nêu trong OPLAN34A,
3. Tạo ra một bộ máy tổ chức có khả năng làm việc cho SOG,
4. Tìm được người có đủ tiêu chuẩn,
5. Tạo ra mối quan hệ làm việc giữa MACVSOG và đối tác Nam Việt Nam.
Chương ba đến chương sáu sẽ tập trung vào các phòng nghiệp vụ của SOG
- người thực hiện cuộc chiến tranh bí mật chống miền Bắc. Hoạt động của
những phòng này nhằm vào hai mục tiêu là "trung tâm trọng lực" mà
Clausewitz gọi là điểm sức ép chiến lược của kẻ thù. Nếu những điểm này
bị xói mòn hoặc tác động, kẻ địch sẽ bị mất thăng bằng và giảm khả năng
tiến hành chiến tranh.
Một "trung tâm trọng lực" mà MACVSOG muốn gây rối là sự ổn định ở
hậu phương và an ninh ở bên trong miền Bắc. Các chính phủ kiểu Hà Nội
rất coi trọng an ninh nội bộ và kiểm soát nhân dân, thậm chí ngay cả trong
thời bình. Hà Nội đang chiến đấu chống lại một siêu cường và an ninh ở
hậu phương là yếu tố chiến lược sống còn. Trung tâm trọng lực thứ hai mà
MACVSOG nhằm vào là hệ thống cung cấp hậu cần, hệ thống chỉ huy kiểm
soát và địa bàn đóng quân dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào và
Campuchia - một trong những tài sản chiến lược của Hà Nội để tiến hành
cuộc chiến tranh.
Để làm suy yếu an ninh hậu phương của Hà Nội, MACVSOG chỉ đạo hàng
loạt các điệp vụ chống lại Bắc Việt Nam, trong đó có việc cài cắm các toán
gián điệp. Phòng nghiệp vụ phụ trách vấn đề này của SOG được mô tả
trong chương ba. Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 1964 đến tháng 10
năm 1967, khoảng 250 điệp viên được tung ra miền Bắc. Cộng với số điệp
viên của CIA, tổng số điệp viên được tung đi là khoảng 500 người. Tương
tự như CIA, tỷ lệ xâm nhập thành công của SOG là thấp.
https://thuviensach.vn
Vào cuối năm 1967, SOG nhận được tin xấu về hoạt động của các điệp
viên. Chương ba lý giải sai lầm đã xảy ra như thế nào và đưa độc giả vào
thế giới thủ đoạn của điệp viên đôi, đánh lừa và trò chơi nghiệp vụ. Nhận ra
rằng mọi việc đang tồi tệ, SOG dự định tiến hành lừa lại miền Bắc. Đây là
một nỗ lực nghiêm túc để gỡ gạc lại từ thất bại đau đớn. Phần cuối của
chương ba trình bày những chi tiết sâu kín nhất của kế hoạch đánh lừa này.
Chương bốn mô tả chiến dịch chiến tranh tâm lý nhằm tác động vào giới
lãnh đạo và nhân dân Bắc Việt Nam. Điểm cốt lõi là dự định làm cho Hà
Nội tin rằng phong trào chống đối giả tạo - Phong trào gươm thiêng ái quốc
(viết tắt theo tiếng Anh là SSPL) - là có thật. Để làm được điều đó SOG tạo
ra đài phát thanh của SSPL hướng vào Bắc Việt Nam và rải tài liệu tuyên
truyền của SSPL. SOG còn tạo ra một vùng giải phóng giả, nơi những công
dân miền Bắc bị bắt cóc được đưa đến gặp gỡ lãnh đạo của SSPL và truyền
bá tư tưởng theo kịch bản chuẩn bị sẵn.
Các hoạt động chiến tranh tâm lý khác, như đài phát thanh giả, thư tâm lý
chiến, giấy tờ giả và các thủ đoạn bẩn thỉu tương tự, cũng được áp dụng để
khuếch đại ấn tượng của Hà Nội là họ đang có rất nhiều vấn đề an ninh. Đó
là hàng loạt các kỹ thuật chiến tranh tâm lý đầy ấn tượng. Tuy nhiên, nhược
điểm lớn nhất của cuộc chiến tranh tâm lý này không phải ở chỗ các biện
pháp được áp dụng mà ở mục đích được đề ra và những hạn chế do các nhà
vạch chính sách áp đặt. Phần cuối của chương sẽ làm rõ lý do tại sao lại như
vậy.
Phòng nghiệp vụ thứ ba của SOG tiến hành các hoạt động bí mật trên biển
dọc theo bờ biển Bắc Việt Nam. Trong những điệp vụ đầu tiên đề ra trong
OPLAN34A, hoạt động trên biển được tổng thống Johnson và Bộ trưởng
Quốc phòng Mc. Namara coi là có nhiều khả năng tạo ra tác động ngay và
lớn nhất đối với Hà Nội. Những hoạt động này bao gồm pháo kích bờ biển,
bắt giữ tù binh, ngăn chặn các thuyền bè, tập kích, phân phát hàng tâm lý
chiến và bắt cóc công dân Bắc Việt Nam để cho SSPL tuyên truyền.
https://thuviensach.vn
Chương năm mô tả những hoạt động này và đánh giá tác động của chúng. Ở
phần kết, chương năm sẽ phân tích tại sao sự kỳ vọng của Mc Namara và
các nhà vạch chính sách khác là hoàn toàn phi thực tế.
Phòng nghiệp vụ cuối cùng của SOG phụ trách các điệp vụ thám báo do Mỹ
lãnh đạo nhằm ngăn cản việc Hà Nội sử dụng đường mòn Hồ Chí Minh. Do
thái độ thận trọng và mối lo ngại về chính trị nội bộ, Tổng thống Johnson đã
rất ngần ngại khi đưa ra quyết định tiến hành các hoạt động này. Phần đầu
của chương sáu bàn về cuộc tranh đấu chính trị trong gần hai năm giữa Bộ
Ngoại giao và Lầu Năm Góc về việc có cho phép SOG tiến hành hoạt động
chống lại con đường mòn hay không.
Cuối cùng thì các hoạt động thám báo cũng được chuẩn y và các đội thám
báo do Mỹ chỉ huy được tung sang Lào vào tháng 10 năm 1965. Trong vòng
ba năm, phòng này của SOG đã mở rộng một cách nhanh chóng và sử dụng
phần lớn nhân lực và trang thiết bị. Vào năm 1967, hoạt động thám báo
được mở rộng sang Campuchia. Phần còn lại của chương sáu mô tả cuộc
chiến tranh bí mật của SOG chống lại quân đội miền Bắc trên tuyến đường
Hồ Chí Minh. Mục đích của các hoạt động này là nhằm ngăn chặn quân đội
Bắc Việt sử dụng con đường mòn để nhanh chóng chuyển quân từ các căn
cứ ở Lào và Campuchia đến các chiến trường ở miền Nam. Như được đề
cập trong chương này, Bắc Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp để chống
lại hoạt động của SOG.
Trong chương bảy, câu chuyện được chuyển từ hoạt động của SOG trên
chiến trường sang vị trí của SOG trong chiến lược quân sự của Mỹ trong
cuộc chiến Việt Nam. Chương này bắt đầu bằng việc xác định mức độ tin
tưởng của các nhà lãnh đạo quân sự -những người chịu trách nhiệm tiến
hành cuộc chiến tranh - vào khả năng đóng góp của hoạt động bán quân sự
bí mật và việc gắn kết hoạt động đó vào kế hoạch chiến tranh chung.
Chương này cho thấy các nhà lãnh đạo quân sự mà đặc biệt là tướng
https://thuviensach.vn
Westmoreland đã không xem xét các hoạt động của SOG theo khía cạnh
này.
Trong khi các nhà lãnh đạo quân sự không coi SOG là một bộ phận cấu
thành của chiến lược chiến tranh, họ đã kiểm soát hoạt động của SOG một
cách chặt chẽ vì e ngại về tính chất nhạy cảm của các điệp vụ. Phần thứ hai
của chương bảy phân tích nguyên nhân của tình trạng này và trình bày chi
tiết về hệ thống chỉ huy-kiểm soát đã bó buộc SOG. Chương này xác định
mức độ giới lãnh đạo quân sự đã chống lại quan niệm của Kenedy về chiến
tranh đặc biệt, giành giật quyền kiểm soát hoạt động bí mật và đã không
gắn kết SOG với chiến lược chiến tranh.
Chương tám, chương cuối cùng, quay về chủ đề sự kiểm soát của Kenedy
và Johnson đối với chiến tranh đặc biệt. Việc sử dụng hoạt động ngầm đặc
trưng bởi sự hăm hở và lưõng lự. Khởi đầu với tổng thống Kenedy và các
quan chức cao cấp như Robert Mc Namara, Mc George Bundy, Walt
Rostow, và Robert Kenedy, mọi người đều sẵn sàng sử dụng hoạt động
ngầm một cách tích cực và coi đó là phương tiện để thuyết phục Hà Nội
chấm dứt việc xúi giục chiến tranh ở miền Nam. Khi CIA tỏ ra không thể
triển khai nhanh chóng, Kenedy giao cho Lầu Năm Góc nhận nhiệm vụ tiến
hành chiến tranh bí mật chống lại Bắc Việt Nam.
Bất chấp sự tiếp cận hăng hái của tổng thống Kenedy, hoạt động của SOG
bị kìm hãm bởi sự ngăn trở và hạn chế dưới thời tổng thống Johnson.
Chương này giải thích tại sao và bằng cách nào mà sự khác biệt giữa ý định
ban đầu của Kenedy và việc thực hiện các hoạt động của SOG trên thực tế
của Johnson lại nảy sinh. Việc giám sát của Nhà Trắng lúc này không phải
đặc trưng bởi sự sẵn sàng chấp nhận mà là lảng tránh rủi ro. Bắt đầu bằng
sự xem xét OPLAN34A của tổng thống Johnson vào tháng 12 năm 1964 và
trong cả quá trình tồn tại của SOG, các nhà vạch chính sách cao cấp đã bác
bỏ các điệp vụ có thể mang lại rủi ro chính trị. Họ đã rụt rè và hầu như
https://thuviensach.vn
không dám chấp nhận rủi ro, bất chấp việc Tổng thống Kenedy đã tích cực
như thế nào trong việc tiến hành hoạt động bí mật chống lại Bắc Việt Nam.
Tuy nhiên, mặc dù có sự e dè của Nhà Trắng, các giới hạn chính trị do
Washington đặt ra, và những thất bại trong hoạt động của SOG cũng như
các biện pháp đối phó của đối phương, vào năm 1968 Hà Nội bắt đầu tỏ ra
lo ngại. Chính quyền đã phát động phong trào chống gián điệp để đối phó
với tình hình. Tương tự như vậy, hoạt động của SOG chống lại đường mòn
Hồ Chí Minh đã làm cho Bắc Việt Nam chú ý. Hà Nội đã áp dụng hàng loạt
biện pháp để bảo đảm việc sử dụng an toàn con đường này. Cuối cùng, Hà
Nội đã cài cắm điệp viên của mình vào trong bộ máy miền Nam Việt Nam
cùng làm việc với SOG.
SOG bắt đầu có tác động mà Kenedy đã tính toán năm 1961 và phải mất
những bảy năm để đạt được điều đó. Nhưng thực tế chính trị nội bộ Mỹ có
diễn biến mới. Chương tám cung cấp những chi tiết về sự tiến triển này.
Có thể học hỏi được rất nhiều từ MACVSOG về khả năng của Hoa Kỳ
trong việc thực hiện hoạt động ngầm với quy mô lớn. Cuốn sách này xác
định một số cản trở đã hạn chế tính hiệu quả của SOG. Chơi theo luật chơi
của Hà Nội tỏ ra nói dễ hơn làm. Tuy nhiên những ngáng trở đã gây tai hoạ
cho SOG cũng có thể được tìm thấy trong các ví dụ khác của thời kỳ chiến
tranh lạnh trong đó Hoa Kỳ sử dụng hoạt động ngầm. Phần kết nêu những
kết luận của MACVSOG và so sánh chúng với các hoạt động ngầm khác
mà Mỹ đã tiến hành và bị cản trở bởi những hạn chế tương tự. Việc khảo sát
so sánh này làm sáng tỏ những hạn chế vốn là đặc điểm của việc sử dụng
hoạt động ngầm trong các đời tổng thống Mỹ.
Phần kết được kết thúc bằng việc giải đáp câu hỏi cuối cùng. Trong thời kỳ
hậu chiến tranh lạnh, những bài học của MACVSOG có ích lợi gì đối với
các tổng thống tương lai nếu như họ muốn sử dụng hoạt động ngầm để đối
phó với những nguy cơ mới đe doạ đến lợi ích an ninh của Mỹ?
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG MỘT
https://thuviensach.vn
NẾU HỌ LÀM ĐƯỢC
https://thuviensach.vn
THÌ CHÚNG TA CŨNG LÀM
ĐƯỢC
Vào buổi sáng chủ nhật, ngày 28 tháng Giêng năm 1961, tổng thống vừa
tuyên thệ nhận chức John F. Kenedy chủ toạ cuộc họp đầu tiên của Hội
đồng an ninh quốc gia để thảo luận về tình hình Việt Nam. Tin tức rất xấu,
và do chính một người có hiểu biết sâu về Việt Nam đồng thời là một
chuyên gia chống chiến tranh du kích do cộng sản phát động báo cáo.
Edward Geary Lansdale là một chuẩn tướng không quân khác thường. Vốn
là cựu binh của Văn phòng tình báo chiến lược (OSS) trong chiến tranh thế
giới thứ hai và một người chỉ huy giàu kinh nghiệm các hoạt động bí mật
của Cục tình báo Trung ương (CIA), Lansdale đã trở thành huyền thoại về
vai trò của ông trong chiến dịch chống nổi loạn rất thành công ở Philippines
đầu những năm 50. Lansdale đã giúp Ramon Magsaysay đánh bại cuộc nổi
loạn cộng sản Huk.
Với những kinh nghiệm còn nóng hổi, ông được tổng thống Dwight D.
Eisenhower cử sang Việt Nam khi chế độ thuộc địa Pháp sụp đổ, đánh dấu
bằng sự đầu hàng tại Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiệm vụ
ban đầu của Lansdale là vạch kế hoạch và tiến hành chiến dịch hoạt động
ngầm chống lại chế độ cộng sản mới ở Hà Nội. Mặc dù những nỗ lực này
không thành công, ông tiếp tục ở lại Việt Nam cho đến năm 1956 và trở
thành bạn thân và người tin cẩn của Ngô Đình Diệm, tổng thống tương lai
của Nam Việt Nam.
Lansdale vừa mới trở về sau chuyến đi tìm hiểu tình hình hai tuần ở Việt
Nam đầu tháng Giêng năm 1961 và được mời đến để thuyết trình với Hội
đồng an ninh quốc gia về những gì ông thu thập được. Kenedy đã đọc báo
https://thuviensach.vn
cáo chuyến đi của Lansdale và lưu ý các thành viên của Hội đồng rằng "lần
đầu tiên, có một bản báo cáo cho ông cảm giác về mối nguy hiểm và tính
khẩn cấp của vấn đề Việt Nam". (Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 19611963: Việt Nam, Tập 1 (Washing- ton DC, Nhà in chính phủ, 1988), sau đây
viết tắt là FRUS, tr.16.)
Lansdale trình bày một cách thẳng thắn. Ông nói với Hội đồng an ninh quốc
gia rằng "bắt đầu từ tháng 12 năm 1959 cho đến nay, ở khắp miền Nam các
hoạt động du kích và chống trả của Việt Cộng ngày càng gia tăng". Việt
Cộng với sự hậu thuẫn của Hà Nội tiến hành "bắt cóc và sát hại các quan
chức ở xã ấp, phục kích và tấn công vũ trang". Mục tiêu của Bắc Việt Nam
là "sáp nhập Nam Việt Nam vào khối cộng sản” (Sđd. tr.5-6). Trong chuyến
thị sát, Lansdale hầu như không thấy điều gì có thể mang lại hy vọng, Hà
Nội và Việt Cộng đang áp sát và trong điều kiện đó, chính quyền Sài Gòn
không thể làm chậm chứ đừng nói đến việc ngăn chặn ngày tận thế đang
đến gần.
Lansdale đệ trình "Kế hoạch chống nổi loạn cơ bản cho Việt Nam" đã được
toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi cho Washington đầu tháng Giêng năm
1961(Kế hoạch này do Nhóm công tác quốc gia soạn thảo năm 1960, được
phê duyệt 28-1-1961 mà không có những bất đồng lớn trong Hội đồng an
ninh quốc gia). Bản báo cáo đã đề nghị cần có những thay đổi cơ bản trong
phương pháp đối phó với tình trạng nổi loạn của chính phủ Diệm. Các lực
lượng chống du kích và chương trình cải cách dân sự là cần thiết để đánh
bại Việt Cộng và giành sự ủng hộ và trung thành của nông dân. Hoa Kỳ có
thể cung cấp viện trợ cho các chương trình này, nhưng Sài Gòn phải cộng
tác. Trên nhiều khía cạnh, kế hoạch này phù hợp với quan điểm của Tổng
thống và nhiều cố vấn thân cận của ông. Họ tin rằng giành thắng lợi trong
cuộc chiến tranh du kích, một cuộc chiến không giới tuyến hoặc chiến
trường, đòi hỏi những chính sách và chiến lược mới. Mọi điều ở Nam Việt
Nam cần phải được thay đổi.
https://thuviensach.vn
Thách thức lần này phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều so với cuộc nổi loạn
ở Philippines mà Lansdale đã giúp đánh bại. Ở Philippines, vấn đề chỉ là
cuộc lật đổ cộng sản mang tính nội bộ do Huk lãnh đạo và chiến tranh du
kích. Ở Nam Việt Nam, Việt Cộng đang áp dụng những hoạt động tương tự,
nhưng không giống như Huk, họ nhận được sự trợ giúp và chỉ đạo từ Hà
Nội. Sự trợ giúp từ bên ngoài này là sự khác biệt có tính chất cốt lõi giữa
hai tình huống.
Kế hoạch chống nổi loạn tìm cách vô hiệu hoá và đánh bại thách thức của
Việt Cộng ở Nam Việt Nam, một nhiệm vụ sẽ đơn giản đi rất nhiều nếu như
sự giúp đỡ của Bắc Việt Nam bị loại trừ. Điều gì có thể thuyết phục Hà Nội
rằng việc giúp đỡ Việt Cộng là không phù hợp với lợi ích của họ? Tại cuộc
họp của Hội đồng an ninh quốc gia, Tổng thống đặt ra câu hỏi liệu hoạt
động du kích có thể được tiến hành trong lòng Bắc Việt Nam hay không.
Allen Dulles, giám đốc CIA, báo cáo hiện có một số hoạt động hạn chế
đang được thực hiện để giúp tổ chức du kích của Nam Việt Nam đủ khả
năng quấy rối Bắc Việt Nam. Nhưng ông thừa nhận rằng mới chỉ có bốn
toán, mỗi toán tám người được thành lập dưới sự giám sát của CIA và các
toán này không được bố trí và hoạt động thường xuyên ở miền Bắc. Nhiệm
vụ của họ là quấy phá ở vùng biên giới Bắc Việt Nam. Kenedy được báo
cáo là "các toán này được phân công hoạt động ở các địa bàn phía nam" và
"chuyển sang biên với Lào".(FRUSm 1961-1963, tr. 17) Đây là những nỗ
lực rất hạn chế và khó có thể làm nản lòng Hà Nội trong cuộc đấu tranh
thống nhất Việt Nam.
Kenedy không hài lòng với những cố gắng của CIA và tuyên bố ông muốn
"có du kích hoạt động ở miền Bắc" (FRUSm 1961-1963, tr. 17...
 





