Video sự tích cây nêu đất
hien-phap-my-duoc-lam-ra-nhu-the-nao

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 15h:03' 01-05-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 15h:03' 01-05-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?
Lời giới thiệu
Lời mở đầu
Lời cảm ơn
Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?
Phần I: Tóm tắt quá trình xây dựng hiến pháp mỹ
Phần II: Các cuộc tranh luận tại hội nghị lập hiến
Phần III: Một số bức thư và tranh luận điển hình về hiến pháp mỹ
Phần IV: Chân dung những đại biểu tham dự hội nghị lập hiến
Phụ lục: Hệ thống văn bản hiến pháp mỹ
Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
NGUYỄN CẢNH BÌNH Biên soạn
HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA
NHƯ THẾ NÀO?
Bản quyền tiếng Việt © Alpha Books & Nguyễn Cảnh Bình
NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
LỜI GIỚI THIỆU
Với tư cách là một người giảng dạy ngành luật Hiến pháp Việt Nam tại Đại
học Quốc gia Hà Nội, tôi rất phấn khởi viết lời giới thiệu cuốn sách này của
tác giả Nguyễn Cảnh Bình.
Nguyễn Cảnh Bình là một người rất xa lạ với giới Luật học chúng tôi. Anh là
một Thạc sĩ khoa học tự nhiên - chuyên ngành hóa học, nhưng rất lạ thay,
anh có niềm say mê Hiến pháp - Chính quyền đến lạ lùng, niềm say mê mà
ngay cả những người chuyên ngành chúng tôi cũng không thể có được. Dù ở
hai lĩnh vực rất khác nhau và có thể nói ở hai thế hệ khác nhau nhưng chúng
tôi cùng đến với nhau qua những trang viết về Hiến pháp và những nghiên
cứu liên quan đến lĩnh vực Hiến pháp - Chính quyền. Nguyễn Cảnh Bình đã
đọc những cuốn sách của tôi viết về Hiến pháp, tự viết thư cho tôi thông qua
Nhà xuất bản. Và ngược lại, tôi cũng tự đọc bài báo về James Madison và
những người từng soạn thảo bản Hiến pháp Mỹ, bản hiến pháp thành văn
đầu tiên của thế giới, dưới cái tên Nguyễn Cảnh Bình rất xa lạ. Sau đấy ít
lâu, chúng tôi đã gặp nhau. Thật là một sự tâm đầu ý hợp. Vượt qua mọi
khác biệt, chúng tôi đã có những cuộc trao đổi khoa học rất bổ ích.
Nội dung cuốn Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? bao gồm những mẩu
chuyện rất hấp dẫn về quá trình soạn thảo Hiến pháp, về những cuộc tranh
luận cực kỳ gay go và nan giải trong quá trình soạn thảo bản Hiến pháp Hoa
Kỳ năm 1787, những bức thư đầy tính nhân bản và trách nhiệm của những
người tham dự Hội nghị lập hiến. Đặc điểm của cuốn sách này là không chỉ
trình bày những luận điểm hậu thuẫn cho việc thành lập ra Nhà nước Liên
bang với tên gọi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ như hiện nay mà cả những luận
điểm chống lại sự hình thành này, đó là những điều chúng ta chưa hoặc là rất
ít có điều kiện biết đến. Qua những tranh luận đó, dù tán thành hay phản đối
thì những lập luận này cũng rất chân thành và đều chung một mong ước thiết
lập một quốc gia thịnh vượng và bền vững. Có thể nói bản Hiến pháp Hoa
Kỳ được xây dựng như ngày nay cũng một phần nhờ những chống đối đó,
điển hình là Tuyên ngôn Nhân quyền. Do đó, cuốn Hiến pháp Mỹ được làm
ra như thế nào? có cách tiếp cận về lịch sử lập hiến khá toàn diện, không chỉ
góp phần giải thích ý nghĩa của bản Hiến pháp Mỹ mà còn giúp người đọc
hiểu được quá trình xây dựng một đạo luật. Với cách tiếp cận như thế, tác giả
sẽ có những đóng góp nhất định cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về Hiến
pháp Hoa Kỳ ở nước ta.
Đây là tác phẩm thứ hai của anh Nguyễn Cảnh Bình về Hiến pháp Hoa Kỳ,
sau cuốn sách rất lý thú về Alexander Hamilton, một trong những tác giả rất
xuất sắc của tác phẩm Những bài báo Người liên bang (Federalist Papers).
Mặc dù không phải là người được đào tạo cơ bản về kiến thức luật học ở nhà
trường, nhưng niềm đam mê và sự ham hiểu biết đã giúp anh vượt qua tất cả.
Các tác phẩm của anh về lĩnh vực này rất có giá trị cho việc nghiên cứu về
hiến pháp của giới chuyên môn cũng như những người muốn tìm hiểu khác.
Tôi xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
PGS. TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Cuối năm 2000, tôi bắt đầu tập trung nghiên cứu Hiến pháp Mỹ. Lý do thứ
nhất là vì bản hiến pháp của nước Mỹ là lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với
trên 200 năm lịch sử trong khi các bản hiến pháp hiện nay của Pháp, Đức,
Nhật, Nga đều là những bản hiến pháp mới mẻ và có thời gian tồn tại chưa
lâu. Tôi muốn hiểu tại sao và do đâu nước Mỹ lại có được sự ổn định đó.
Lý do thứ hai là trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước ta ngày 2 tháng
Chín năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những lời nói thật bất hủ
của bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ do Thomas Jefferson viết "Tất cả mọi
người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" . Chính thế hệ những người đã
làm nên cuộc Cách mạng Mỹ đó như Thomas Jefferson và George
Washington đã đặt nền tảng cho nhà nước Cộng hòa Mỹ bằng bản hiến pháp
này. Tôi muốn tìm hiểu kỹ xem họ đã làm ra bản hiến pháp đó như thế nào
và cùng với việc học hỏi bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, chúng ta có thể
học hỏi được gì từ quá trình soạn thảo Hiến pháp Mỹ trong việc xây dựng
nhà nước pháp quyền, xây dựng một chính quyền mạnh và hiệu quả.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi rất may mắn vì những tài liệu về quá trình
soạn thảo và làm ra bản Hiến pháp Mỹ được công khai ở dạng on-line trong
thư viện điện tử của Quốc hội Mỹ. Tôi tin rằng không một bản Hiến pháp
nào, kể cả những bản Hiến pháp hiện đại được làm ra sau này, lại lưu giữ
đầy đủ, chính xác và chi tiết mọi vấn đề liên quan đến việc soạn thảo và phê
chuẩn như bản Hiến pháp Mỹ. Tất cả những văn bản viết tay, những cuộc
thảo luận, những bức thư của những chính khách đương thời, những bài báo
tán thành và phản đối bản Hiến pháp… đều được lưu giữ rất cẩn thận và đầy
đủ. Đó là kho tư liệu vô cùng đồ sộ mà nếu in ra có thể lên tới hàng chục
nghìn trang. Trong một lượng tài liệu khổng lồ như vậy, tôi chỉ chọn dịch
những phần điển hình nhất trong vài tác phẩm cơ bản là cuốn Elliot's Debate,
cuốn Farrand's Record, cuốn The Debates in the Federal Convention of 1787
của Madison và cuốn Federalist Papers. Chi tiết từng bài, hay từng phần, tôi
có ghi lại nguồn tư liệu và cố gắng giải thích trước khi vào bản chính để bạn
đọc dễ hiểu. Ngoài ra, tôi cũng lược dịch tiểu sử những chính khách Mỹ đã
tham gia Hội nghị Lập hiến 1787 để bạn đọc nắm được bản chất quan điểm
và những đóng góp của họ cho lịch sử nước Mỹ.
Nhưng bên cạnh sự may mắn, tôi cũng gặp phải khá nhiều khó khăn. Trước
hết, những tài liệu này đều được viết bằng văn phong của thế kỷ XVIII nên
khá khó đọc, rắc rối, nhiều chỗ viết tắt và có chỗ sử dụng những ngạn ngữ
tiếng Latin. Một khó khăn khác là các tác giả tham gia soạn thảo Hiến pháp
Mỹ đều có kiến thức rất uyên bác vì họ đọc rất nhiều các tác phẩm lịch sử và
luật pháp của thế giới, nên thường viện dẫn những sự kiện và nhân vật lịch
sử trong các thành bang Hy Lạp, nền Cộng hòa La Mã cổ đại, nhà nước quân
chủ Anh, Pháp, liên bang Phổ, Thụy Sĩ và Hà Lan… Những kiến thức này
khá xa lạ, ít được nhắc đến ở Việt Nam và các nguồn tra cứu cũng không
phải dễ dàng tìm được. Nhưng bởi trước đây, tôi đã dịch tác phẩm Gương
Danh nhân của Plutarch về lịch sử Hy Lạp cổ đại, nên những kinh nghiệm
thu được cũng góp ích rất nhiều cho việc chú thích.
Về bản dịch, tôi cố gắng dịch sát nghĩa tối đa tới mức có thể, giữ lại một số
nét văn phong lịch sự và kiểu cách của thế kỷ XVIII để không làm bản dịch
quá hiện đại. Ngoài ra, tôi cũng cố gắng giải thích những sự kiện, những con
người và các bối cảnh được đề cập trong các cuốn này. Các nguồn tư liệu sử
dụng để tham khảo, chủ yếu, tôi lấy từ bộ từ điển Encarta 2002, cuốn The
Governments of Europe của Frederic Austin Ogg, cuốn Europe: from the
Renaisance to Waterloo của Ergang và một số nguồn tra cứu khác, nhưng
chắc rằng vẫn không tránh khỏi những sai sót. Ngoài ra, tên các bang của Mỹ
được viết tắt như sau: MA: Massachusetts; CT: Connecticut; NY: New
York; NJ: New Jersey; PA: Pennsylvania; DE: Delaware; MA: Maryland;
VA: Virginia; NC: Bắc Caroline; SC: Nam Caroline; GA: Georgia; NH:
New Hampshire.
Tuy nhiên, do đây là chủ đề khó cùng với việc kinh nghiệm, trình độ kiến
thức còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót. Tôi rất mong nhận
được ý kiến góp ý và bổ sung của bạn đọc. Thư xin gửi về địa chỉ
binhnc@yahoo.com.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và động viên của những người bạn tôi
trong Nhóm Dịch Trẻ, cảm ơn TS Ngô Đức Mạnh, Vụ Thông tin, Văn phòng
Quốc hội và nhất là PGS, TS Nguyễn Đăng Dung đã có những góp ý quý
báu về nội dung cuốn sách này. Tôi hy vọng cuốn sách sẽ góp phần mang
đến cho bạn đọc những thông tin bổ ích và cần thiết ở một khía cạnh nào đó.
Tháng Mười hai, năm 2002
NGUYỄN CẢNH BÌNH
LỜI CẢM ƠN
Kể từ khi tôi bắt đầu biên soạn cuốn sách này vào cuối năm 2000 đến nay đã
hơn 9 năm, đây là lần thứ 3 cuốn sách được tái bản.
Trong lần tái bản này, tôi không bổ sung gì mà chỉ chỉnh sửa một số phần
trong nội dung cuốn sách vì tất cả những gì trình bày đã đủ nói lên tinh thần
và ý nghĩa của Hiến pháp Mỹ. Có thể suốt 8 năm qua, tôi đã không dành
nhiều thời gian để nghiên cứu Hiến pháp Mỹ như giai đoạn trước đây, không
có điều kiện để vùi đầu vào những trang viết của Madison, của Hamilton,
hay của Jefferson như đã từng mong ước; vẫn chưa dịch được trọn vẹn tác
phẩm Người liên bang như dự định…
Nhưng khi nhìn nhận lại ý nghĩa và bài học từ quá trình soạn thảo bản Hiến
pháp Mỹ, tôi nhận thấy bản thân bản hiến pháp, dù được soạn sửa tốt đến
đâu, cũng không có nhiều giá trị. Bản thân những nguyên tắc, kể cả cấu trúc
tam quyền phân lập dù có được trù tính, thiết kế cẩn thận đến đâu cũng
không thể phát huy tác dụng. Có một nhân tố khác quan trọng hơn, mang
tính quyết định hơn đó là tư duy, là trí tuệ, là tính nhân bản, là tinh thần và
tựu chung là tầm vóc của dân tộc, của đất nước đó. Bản Hiến pháp Mỹ từng
được áp dụng cho các quốc gia Nam Mỹ từ thế kỷ XVIII như Brazil,
Argentina hay gần đây là Philippines trong thế kỷ XIX nhưng đều không
mang lại sự thịnh vượng, không đảm bảo sự ổn định… Vì thế, tôi nghĩ bản
thân bản hiến pháp không quan trọng, mà quá trình biên soạn và quá trình áp
dụng trong thực tiễn mới thực sự giữ vai trò quan trọng.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ của đông đảo độc giả, bạn bè và các
đồng nghiệp của tôi ở Alpha Books… đã giúp đỡ tôi trong quá trình tái bản
cuốn sách này.
Bản thân tôi khi bắt đầu soạn, tôi không nghĩ rằng 9 năm sau, nó vẫn được
nhiều độc giả tìm kiếm, vẫn được nhiều người yêu thích và khen ngợi. Vì
vậy, xin coi đây như lời cảm ơn và là món quà gửi tặng những bạn bè, độc
giả vì đã luôn động viên, giúp đỡ và khuyến khích tôi trong suốt quãng
đường dài…
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2010
NGUYỄN CẢNH BÌNH
Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế
nào?
George Washington (1732-1799)
Chủ tịch Hội nghị Lập hiến, Tổng thống đầu tiên của Mỹ (1789-1797)
Phần I. TÓM TẮT QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG HIẾN PHÁP MỸ
“Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức
phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn Chúa tối cao, hãy đừng bao
giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào.
Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”.
Bài phát biểu của Patrick Henry, tại Đại hội tiểu bang Virgina
Ngày 23 tháng Ba năm 1775.
Hội nghị Lập hiến
Thứ Sáu, ngày 25 tháng Năm năm 1787, một lớp đất mới được trải lên con
đường rải sỏi phía trước tòa nhà Hạ viện tiểu bang Pennsylvania, trên đường
Chestnut , giúp những người đàn ông đang họp bên trong tránh khỏi những
tiếng ồn ào của những chiếc xe ngựa chạy bên ngoài. Lính gác đứng ở cửa
ngăn không cho những đám đông tò mò vào bên trong và giữ họ ở một
khoảng cách xa.
Đây là những đại biểu tham dự Hội nghị Liên bang, được các tiểu bang cử
đến với nhiệm vụ sửa đổi những thiếu sót của chính quyền đương thời. Hội
nghị dự định khai mạc từ ngày 14 tháng Năm, nhưng lúc đó chỉ có mặt các
đại biểu của tiểu bang Virginia và Pennsylvania, nên buộc phải hoãn lại.
Trong ngày đầu khai mạc Robert Morris, đại biểu tiểu bang Pennsylvania,
nhà "tài chính" của cuộc Cách mạng Mỹ, đã mở đầu Hội nghị bằng việc đề
cử Tướng George Washington cho chức Chủ tịch Hội nghị Lập hiến. Phiếu
bầu hoàn toàn nhất trí. Với sự nghiêm trang và khiêm tốn, vị Tổng tư lệnh đã
thể hiện sự bối rối của mình trong việc làm chủ tọa một Hội nghị trang trọng
như vậy và xin lỗi nếu có bất kỳ sai sót nào mà ông có thể mắc phải trong
quá trình thảo luận kỹ lưỡng này.
Nhiều tháng trước đó, đau ốm vì căn bệnh thấp khớp, chán nản vì cái chết
của người anh trai, mải mê với cuộc sống yên bình ở khu trang trại Mount
Vernon và nghi ngờ sự thành công của Hội nghị cũng như nghĩ rằng nhiều
nhân vật nổi tiếng sẽ vắng mặt, Washington luôn trì hoãn việc nhận lời mời
tham dự. Nhưng rồi bực bội với nguy cơ trong việc trao uy tín của ông cho
một cuộc họp mà rồi có thể phải thất bại và khả năng công chúng sẽ đánh giá
sự tham dự miễn cưỡng của ông với con mắt hoài nghi, viên tướng cuối cùng
đã chấp nhận công việc này. Nhiều đại biểu tham dự cuộc họp, đặc biệt là
James Madison, đại biểu trẻ trung mới 36 tuổi của Virginia, cảm thấy rất hài
lòng, vì chỉ riêng sự có mặt của viên tướng Tổng tư lệnh Washington, cùng
với uy tín to lớn của ông cũng đủ để mang lại một không khí trang nghiêm
và bảo đảm sự thành công cho Hội nghị.
Cùng ngày 25 tháng Năm, theo đề nghị của C. Pinckney, Hội nghị cũng bổ
nhiệm Thiếu tá William Jackson của tiểu bang Nam Caroline, làm Thư ký,
với nhiệm vụ ghi chép lại mọi ý kiến trong quá trình thảo luận, đồng thời
cũng bổ nhiệm một ủy ban gồm Wythe, Hamilton và C. Pinckney có nhiệm
vụ soạn thảo những qui tắc cho Hội nghị.
Những buổi họp của Hội nghị được tổ chức kín và không có phóng viên hay
khách mời nào được phép tham dự. Mặc dù nhiều thành viên với bản chất ba
hoa và lắm lời, thường bị kích động trong các quán rượu hay trên đường phố,
thì hầu hết mọi đại biểu đều giữ được bí mật một cách ngạc nhiên. Ðối với
những người hoài nghi về Hội nghị, việc giữ bí mật đó càng làm tăng mối lo
âu của họ. Từ Paris, Thomas Jefferson đã viết cho John Adams: "Tôi cảm
thấy tiếc là họ đã bắt đầu các cuộc tranh luận bằng một quyết định thật tồi tệ
là đóng chặt miệng lưỡi của tất cả mọi người". Nhưng sau này, đại biểu
Luther Martin của tiểu bang Maryland đã phán xét rằng sứ mạng ở
Philadelphia cần một môi trường hoàn toàn yên tĩnh.
Mặc dù viên thư ký Hội nghị là Jackson đã ghi chép lại nội dung các cuộc
họp, nhưng bản ghi chép đầy đủ nhất lại chính là nhờ công sức của James
Madison. Hết ngày này sang ngày khác, người đàn ông đến từ Virginia này
đã ngồi ngay hàng đầu tiên của phòng họp, ghi chép lại tất cả các cuộc tranh
luận, không để lỡ bất cứ một ngày nào, hoặc một bài phát biểu quan trọng
nào. Sau này, Madison kể lại rằng việc tự giam mình trong cái sảnh nóng
bức và ngột ngạt đó suốt mùa hè ở Philadelphia suýt nữa đã giết chết ông.
Các điều khoản Hợp bang
Hội nghị Lập hiến được triệu tập trong một bối cảnh được coi là giai đoạn
sống còn trong lịch sử nước Mỹ. Những người dân Mỹ vừa trải qua một cuộc
chiến tranh dài, cam go và tàn phá, chỉ vừa mới bắt đầu giai đoạn phục hồi
kinh tế từ đống đổ nát. Nền kinh tế trong thời kỳ thương mại bình thường với
nước Anh và vùng Tây Ấn (các hòn đảo vùng vịnh Caribê) giờ đây bị ảnh
hưởng nghiêm trọng do việc tách khỏi Vương quốc Anh. Ðó là một nền kinh
tế "dị dạng": tiền giấy có ở khắp mọi nơi gây lạm phát kinh khủng. Các bằng
chứng khác cho thấy chủ nghĩa dân tuý đang hồi sinh mà ví dụ điển hình là
cuộc nổi loạn của một nhóm nông dân trang bị vũ khí. Những kích động
chính trị do những khẩu hiệu từ thời chiến như "bình đẳng và quyền của mọi
người" đã trở nên không thể kiểm soát được. Tư tưởng phe cánh, bè phái và
chủ nghĩa địa phương đang là lời cảnh báo đối với Madison và nhiều người
khác. Thái độ thù địch đối với chính quyền mà biểu hiện là sự chống đối
thuế khóa có ở tất cả mọi tầng lớp. Trong tâm trí nhiều người, cuộc sống, sự
tự do và thịnh vượng không hề được đảm bảo.
Ðối mặt với những khó khăn này, chính quyền Mỹ cố gắng vận hành theo
Hiến pháp đương thời là Các điều khoản Hợp bang, được phê duyệt năm
1781. Thứ hiến pháp mà Hamilton, chính trị gia xuất sắc thuộc thế hệ thứ hai
của cuộc Cách mạng Mỹ, sau này trở thành một trong những kiến trúc sư cho
hệ thống chính quyền và kinh tế Mỹ, gọi là "một sự khờ dại". 13 tiểu bang
thuộc địa tập hợp trong một thể chế hợp bang lỏng lẻo khi chỉ có một cơ
quan chính quyền duy nhất là Quốc hội Hợp bang điều hành mọi vấn đề của
đất nước. Chính phủ Hợp bang khi đó không điều hành trực tiếp với người
dân mà thông qua trung gian là các chính quyền tiểu bang . Không có nhánh
hành pháp, cũng không có tòa án tối cao, cơ quan này hầu như chẳng có chút
quyền hành nào và cũng chẳng có ngân sách để hoạt động. Khắp nơi tràn
ngập sự lộn xộn, không có một qui định chung về thương mại, thuế khóa và
thậm chí, mỗi tiểu bang lại có một loại tiền riêng. Những món nợ chiến tranh
lớn đến mức hầu như không thể trả nổi.
Tiền giấy tràn ngập khắp đất nước tạo ra nạn lạm phát kinh khủng tới mức
nửa cân chè ở một vài vùng có thể phải mua bằng số tiền lớn là 100 đô la.
Tình trạng kinh doanh suy thoái đang lấy đi sinh mệnh của nhiều nông dân
và chủ đất nhỏ. Một số buộc phải vào tù vì nợ nần, rất nhiều ruộng đất bị tịch
thu hay phải bán để trả thuế. Uy tín nền cộng hòa bị nghi ngờ và công chúng
bắt đầu mất niềm tin vào chính quyền. Hiệp ước Hòa bình với Anh bị cả hai
phía phớt lờ và hầu như không có hiệu lực. Chính quyền Hợp bang cũng
chẳng có uy tín trong con mắt của các quốc gia châu Âu. Đó là một chính thể
cộng hòa đang bị tê liệt và bất kỳ người dân nào cũng có thể suy đoán về
một kết cục thảm hại sẽ xảy ra.
Năm 1786, một số nông dân đã nổi dậy chống lại chính quyền. Cầm đầu bởi
Daniel Shays, một cựu Đại úy của quân đội Lục địa, một nhóm người trang
bị vũ khí, cắm những chiếc lông ngỗng màu xanh lên mũ, ngăn cản tòa án
lưu động họp tại Northampton, MA. và đe dọa cướp vũ khí tại kho súng
Springfield. Mặc dù quân đội tiểu bang nhanh chóng dập tắt cuộc nổi dậy
này nhưng cuộc bạo loạn đó đã buộc nhiều người giàu lo sợ về một tình
trạng vô chính phủ đang lấp ló ở chân trời. Ðược thêm mắm thêm muối hết
ngày này sang ngày khác trên các trang báo, cuộc nổi dậy đã làm cho tầng
lớp trên ở Mỹ rùng mình run sợ, khi họ hình dung cái đám người hung tợn,
ngoài vòng luật pháp đó, sẽ xuất hiện ngay trong những nông dân vô tội.
Tình trạng tồi tệ của liên minh 13 tiểu bang đã thách thức nhiều người Mỹ có
tư tưởng cộng hòa về sự cần thiết và cấp bách phải có những cải cách triệt
để. Từ trang trại đồng quê Mount Vernon, Washington đã viết cho Madison:
“Tại thời điểm hiện nay, sự khôn ngoan, sự hiểu biết và các tấm gương tốt là
cần thiết để cứu hệ thống chính trị này khỏi cơn bão đang treo lơ lửng... Tại
mỗi tiểu bang đều có những mầm cháy mà chỉ cần một tia lửa cũng có thể
làm bùng lên đám lửa".
Còn đối với Hamilton, một trong những người vận động mạnh mẽ nhất cho
Hội nghị này, Quốc hội Hợp bang chỉ là một nhóm chính trị gia có tầm nhìn
hạn hẹp, những người dễ dàng hy sinh mạng sống của binh lính và tương lai
của toàn bộ dân tộc khi lãng phí thời gian trong những cuộc tranh cãi vụn
vặt, chứ không phải những nghiên cứu, tranh luận thấu đáo hay suy xét kỹ
càng, có tầm nhìn xa, trông rộng trong quá trình hình thành chính sách.
Chính quyền tổ chức theo bộ luật này đã từng thể hiện sự yếu kém và thiếu
hiệu quả trong thời chiến và đến thời hòa bình, khi những tiểu bang ngày
càng ít phụ thuộc vào nhau, thì liên minh lỏng lẻo của 13 tiểu bang Bắc Mỹ
thật sự gặp nguy hiểm. George Washington từng nhận xét rằng các bang chỉ
được liên kết với nhau "bằng một sợi dây bằng cát". Ðiều cực kỳ quan trọng
trong tư duy của Hamilton là chính phủ liên bang phải có quyền điều hành
vấn đề thương mại, lĩnh vực mà cho đến lúc đó, vẫn nằm trong tay các chính
quyền tiểu bang và nhất thiết phải có quyền thu thuế lợi tức để tạo dựng
nguồn ngân sách cho sự vận hành của một nhà nước. Ông khẳng định: "...
không thể trì hoãn được nữa, chúng ta phải trao thêm quyền lực cho Quốc
hội... Chỉ có việc sử dụng một cách hợp lý những nguồn tài nguyên của toàn
thể liên minh, dưới sự lãnh đạo của một Hội đồng Tối cao, với những quyền
lực và sức mạnh cần thiết mới có thể giải thoát chúng ta khỏi cảnh áp bức và
khốn khó như hiện nay, và đưa chúng ta trở thành những người hạnh phúc
sau này".
Để giải quyết những trục trặc đó, vào tháng Chín năm 1786, Quốc hội Hợp
bang đã tổ chức một cuộc họp các bang tại thành phố Annapolis, bang
Maryland, nhằm thảo luận các bất đồng thương mại, nhưng hầu như chẳng
mang lại kết quả cụ thể nào. Chỉ có 5 tiểu bang tham dự và các đại biểu cũng
chẳng có quyền gì, ngoài việc thảo luận và kiến nghị lên Quốc hội Hợp bang.
Tuy nhiên, Hamilton, Madison và một vài đồng nghiệp đồng ý phải làm
được một điều gì đó có ý nghĩa. Họ đề nghị Quốc hội triệu tập một Hội nghị
mới, nhằm xem xét lại Các điều khoản Hợp bang với sự tham gia của tất cả
các tiểu bang. Đối với Madison, đây là một cơ hội tuyệt vời để lật ngược
được xu hướng hiện tại của đất nước. Còn với nhiều người, điều quan trọng
khi họ tập trung ở Philadelphia là không được thất bại. George Mason, viên
điền chủ của trang trại Gunston Hall, tác giả bản Tuyên ngôn Nhân quyền
của tiểu bang Virginia, đã viết cho con trai: "Mọi con mắt của nước Mỹ đang
hướng về Hội nghị này và niềm trông đợi của họ đã tăng lên rất cao. Ơn
Chúa Tối cao, cha và những người bạn có thể làm họ hài lòng bằng việc thiết
lập một Chính quyền Khôn ngoan và Công bằng".
Cũng thời gian đó, nhiều tờ báo ở Philadelphia đã đăng tải bức thư của một
người giấu tên đòi bỏ ý định thành lập một chính quyền chung cho tất cả các
tiểu bang. Người này đề nghị chia Hợp chúng quốc thành ba nước cộng hòa
riêng biệt: Bắc, Trung và Nam, vĩnh viễn liên minh với nhau vì mục đích
phòng thủ chung.
Một khó khăn rất lớn khác của Hội nghị Philadelphia là mục tiêu đề ra chỉ là
nhằm sửa đổi và bổ sung những điều cần thiết cho Các điều khoản Hợp
bang, chứ không phải xây dựng một bản Hiến pháp hoàn toàn mới. Tuy
nhiên, hầu hết các đại biểu đều cho rằng nếu cứ bám vào cái sườn cũ thì sẽ
chẳng dẫn đến điều gì cả. Một chính quyền mới và vững chắc chính là điều
mà Hội nghị mong muốn và quyết tâm đạt được. Như sau này, Hamilton
nhận xét: "những thất bại và trục trặc mà chúng ta trải nghiệm không phải
bắt nguồn từ một vài lỗi nhỏ lẻ nào mà do những sai lầm căn bản, có tính
nguyên tắc trong việc hình thành chính quyền và không thể sửa đổi nếu
không có những thay đổi cơ bản nhất về mô hình chính quyền".
Các đại biểu tham dự Hội nghị
74 đại biểu được các tiểu bang bầu chọn để tham dự Hội nghị, nhưng chỉ có
55 đại biểu thật sự có mặt tại các cuộc họp. Đó là những nhà lãnh đạo hàng
đầu của đất nước, những con người thông minh, kiệt xuất và có uy tín lớn
lao. Ða số các đại biểu ủng hộ chế độ tiền giấy, hệ thống thuế thấp và mong
muốn thiết lập một chính quyền mạnh. Một số đại biểu chỉ tin tưởng vào giai
cấp quý tộc, nhưng hầu hết đều tán thành những nguyên tắc dân chủ, dù rất e
ngại tính thất thường của dân chúng và sự thái quá của nền dân chủ.
Rhode Island là tiểu bang duy nhất từ chối cử đại biểu tham dự cuộc họp vì
cho đó là âm mưu nhằm phá bỏ chính quyền đã được thiết lập. Ngoài ra, Hội
nghị cũng gặp phải sự nghi ngờ và chống đối của không ít chính khách hàng
đầu. Patrick Henry , một lãnh tụ cuộc Cách mạng Mỹ, đã từ chối tham dự
với tuyên bố: "Tôi cảm thấy đây là một sự phản bội". Điều này là do xu
hướng của Hội nghị muốn hình thành một chính quyền tập trung mạnh,
nhằm giám sát thẩm quyền của các cơ quan lập pháp tiểu bang, trong khi
Henry và nhiều chính trị gia tên tuổi khác lại tin rằng chính quyền tiểu bang
sẽ bảo đảm tốt nhất những quyền tự do cá nhân. Vì vậy, ông quyết tâm
không góp một chút công sức nào cho Hội nghị.
Một vài nhân vật kiệt xuất khác cũng vắng mặt như Thomas Jefferson , John
Adams , John Jay và Thomas Paine . Ngoài Patrick Henry, một số lãnh tụ
hàng đầu khác của cuộc Cách mạng Mỹ là Samual Adams và Richard Henry
Lee cũng từ chối tham dự.
Nhưng về tổng thể, đây là cuộc nhóm họp thật sự gây ấn tượng với những
con người xuất chúng, những người đã làm nên cuộc Cách mạng Mỹ, và sứ
mạng của họ bây giờ là xây dựng một đất nước mới, tốt đẹp hơn. Từ Paris,
khi đang là Công sứ Mỹ tại Pháp, Thomas Jefferson đã viết thư cho John
Adams, khi đó đang là Công sứ Mỹ tại Anh: "Ðó thực sự là cuộc quần tụ
những người con của thánh thần".
Nổi bật hơn cả là một cá nhân mà các đức tính và lòng quả cảm của ông
tượng trưng cho nền Ðộc lập Mỹ và cho cả dân tộc Mỹ. Đó là George
Washington, Tổng tư lệnh các quân đội thuộc địa trong cuộc chiến tranh với
người Anh.
Ngoài Washington, ở đây còn có Benjamin Franklin, Chủ tịch Ủy ban Hành
pháp tiểu bang Pennsylvania, (chức vụ tương đương với Thống đốc ngày
nay) và là chủ nhà của Hội nghị. Ông là người nổi tiếng khắp châu Âu và
nước Mỹ hơn bất kỳ một cá nhân nào khác cùng thời đại. Ði khập khiễng do
căn bệnh gút, ông già Franklin, khi đó đã 81 tuổi, là người đã làm nhiều nghề
như thợ in, bảo vệ cửa hàng, nhà khoa học, viên chức hành chính, nhà triết
học, nhà ngoại giao và rất được phụ nữ hâm mộ. Có James Wilson của tiểu
bang Pennsylvania, một luật sư tài năng và đam mê đầu cơ đất đai một cách
khờ dại, để cuối đời buộc phải trốn chạy từ tiểu bang này sang tiểu bang
khác, để tránh truy tố vì nợ nần. Người đàn ông Scotland này đã mang đến
một trí tuệ phi thường, một thiên hướng về những lý thuyết hiến pháp và luật
pháp. Có George Mason của tiểu bang Virginia, người sau này được
Jefferson gọi là "viên Cato của nước Mỹ mà không có lòng tham lam của
người La Mã". Chính George Mason, vào tháng Năm năm 1776, là người
soạn thảo Tuyên ngôn Nhân quyền cho tiểu bang Virginia là nền tảng cho
Thomas Jefferson soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập Mỹ sau đó hai tháng. Có
John Dickinson của tiểu bang Delaware, tác giả Những bức thư của người
nông dân và là tác giả chính của Các điều khoản Hợp bang. Có Gouverneur
Morris, tiểu bang Pennsylvania, rất thông thạo văn học và ngôn ngữ Pháp,
với sự tinh thông và can đảm hợp với trí tuệ kiệt xuất đã góp phần soạn thảo
Hiến pháp tiểu bang New York. Ngoài ra, nhiều người khác cũng đóng vai
trò quan trọng như Oliver Ellsworth, Edmund Randolph, William Paterson,
John Rutledge, Elbridge Gerry, Roger Sherman, Luther Martin, Charles và
Charles Cotesworth Pinckneys.
Mặc dù nhiều đại biểu còn rất trẻ, như Hamilton chỉ mới 32 tuổi và Madison
- 36 tuổi, Edmund Randolph - 34 tuổi, nhưng hầu hết đều đã học luật và là
những chính trị gia xuất sắc. Những kiến thức lý thuyết triết học tuyệt vời về
chính quyền của họ được mở rộng bởi các nhà triết gia về chính trị như
James Harrington , John Locke , Montesquieu và được tích lũy từ những
kinh nghiệm thực tế thu được trong quá trình hoạt động chính trị ở liên bang
hay tiểu bang.
Ba mô hình chính quyền: các Phương án Virginia, New Jersey và Hamilton
Sáng thứ Ba, ngày 29 tháng Năm, Edmund Randolph, Thống đốc bang
Virginia, mở đầu cuộc tranh luận với bài phát biểu dài, phê phán những điều
tồi tệ xảy ra đối với nước Mỹ do những yếu kém của Các điều khoản Hợp
bang. Ông nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải tạo dựng một chính quyền quốc
gia mạnh. Sau đó, Randolph đề xuất những nét chính về phương án cải tổ
bao gồm 15 điểm, thường được biết dưới cái tên Những giải pháp Randolph,
nhưng tên chính thức là Phương án Virginia do ông và những đồng nghiệp
cùng tiểu bang, sau những kỳ họp dài tại quán rượu Indian Queen, thống
nhất quan điểm trước ngày diễn ra Hội nghị. Nền tảng của mô hình chính
quyền này, chủ yếu do James Madison thiết kế, gồm ba nhánh: lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Mỗi nhánh được cấu trúc để kiểm soát quyền lực của
các nhánh kia. Với quyền lực được tập trung cao độ, chính quyền theo mô
hình này có thể phủ quyết mọi bộ luật do cơ quan lập pháp tiểu bang ban
hành. Về phương án này, Randolph đã thú nhận "[đó] là một liên minh thống
nhất, trong đó ý kiến [riêng] của các tiểu bang gần như không được đếm xỉa
đến".
Việc đề xuất Phương án Virginia tại thời điểm mở đầu Hội nghị là hành
động táo bạo nhưng cực kỳ khôn ngoan và làm nhiều người sửng sốt. Những
đại biểu của Virginia hiểu rằng bản kế hoạch đệ trình lên đầu tiên sẽ giành
được lợi thế hơn bất kỳ kế hoạch nào sau đó. Những người Virginia đã buộc
các cuộc tranh luận phải tiến hành theo các điểm trong mô hình do họ đề ra
và theo các khái niệm của họ.
Trong hai tuần tiếp theo, Hội nghị tiến hành thảo luận và sửa chữa các điểm
đề xuất trong Phương án Virginia. Ngày 13 tháng Sáu, văn bản sửa đổi được
đệ trình lên Hội nghị để tất cả các đại biểu thảo luận. 15 đề xuất ban đầu
trong Phương án Virginia đã trở thành nền tảng cho bản báo cáo 19 điểm về
mô hình chính quyền quốc gia, bao gồm ba nhánh. Nhánh lập pháp, tức
Quốc hội Liên bang, sẽ bao gồm hai viện được chọn theo qui mô dân số.
Việc thiết lập hai viện là nhằm đại diện cho những lợi ích khác nhau và để
quá trình làm luật tỉ mỉ và kỹ lưỡng hơn. Hạ nghị viện do người dân trực tiếp
bầu, còn các thành viên của Thượng nghị viện lại được chính Hạ nghị viện
lựa chọn. Nhánh hành pháp, tức là Tổng thống, sẽ được cả hai viện bầu
chọn. Mô hình bộ máy tư pháp quốc gia cũng được phác thảo, bao gồm Tòa
án Tối cao và tòa án các cấp sẽ do hai cơ quan lập pháp bầu chọn.
Có một giai thoại rất thú vị kể rằng sau khi Hội nghị Lập hiến kết thúc, khi
Thomas Jefferson từ Pháp trở về, trong một bữa ăn tối đã hỏi Washington là
tại sao ông bằng lòng có một viện thứ hai trong Quốc hội, tức là Thượng
viện. Khi đó, thấy Thomas Jefferson đang rót cà phê từ chiếc tách vào đĩa,
Washington liền hỏi: "Thế tại sao Ngài lại đổ cà phê vào đĩa như vậy?";
Jefferson trả lời: "Để làm cho cà phê nguội đi". Washington mỉm cười "Điều
đó cũng giống như việc chúng ta đổ cơ quan lập pháp ấy vào chiếc đĩa
Thượng viện để nó nguội bớt đi!".
Vấn đề mấu chốt nhất được Gouverneur Morris trình bày rất súc tích ngày 30
tháng Năm là sự khác biệt giữa mô hình chính quyền của một liên bang và
chính quyền của một quốc gia mà "chính quyền liên bang chỉ thuần túy như
một hiệp ước được thiết lập dựa trên sự cam kết tốt đẹp của các bên. Còn
chính quyền quốc gia điều hành một cách toàn diện và mang tính cưỡng ép".
Morris ủng hộ mô hình chính quyền quốc gia với một quyền lực tuyệt đối, có
khả năng thực thi mọi thẩm quyền cần thiết chứ không chỉ cái thứ chính
quyền mờ nhạt, phân rã và thiếu hiệu quả như chính quyền Hợp bang đương
thời.
Quan điểm quốc gia chủ nghĩa này đã làm điên đầu nhiều đại biểu khác. Họ
e sợ về khả...
Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?
Lời giới thiệu
Lời mở đầu
Lời cảm ơn
Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?
Phần I: Tóm tắt quá trình xây dựng hiến pháp mỹ
Phần II: Các cuộc tranh luận tại hội nghị lập hiến
Phần III: Một số bức thư và tranh luận điển hình về hiến pháp mỹ
Phần IV: Chân dung những đại biểu tham dự hội nghị lập hiến
Phụ lục: Hệ thống văn bản hiến pháp mỹ
Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
NGUYỄN CẢNH BÌNH Biên soạn
HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA
NHƯ THẾ NÀO?
Bản quyền tiếng Việt © Alpha Books & Nguyễn Cảnh Bình
NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
LỜI GIỚI THIỆU
Với tư cách là một người giảng dạy ngành luật Hiến pháp Việt Nam tại Đại
học Quốc gia Hà Nội, tôi rất phấn khởi viết lời giới thiệu cuốn sách này của
tác giả Nguyễn Cảnh Bình.
Nguyễn Cảnh Bình là một người rất xa lạ với giới Luật học chúng tôi. Anh là
một Thạc sĩ khoa học tự nhiên - chuyên ngành hóa học, nhưng rất lạ thay,
anh có niềm say mê Hiến pháp - Chính quyền đến lạ lùng, niềm say mê mà
ngay cả những người chuyên ngành chúng tôi cũng không thể có được. Dù ở
hai lĩnh vực rất khác nhau và có thể nói ở hai thế hệ khác nhau nhưng chúng
tôi cùng đến với nhau qua những trang viết về Hiến pháp và những nghiên
cứu liên quan đến lĩnh vực Hiến pháp - Chính quyền. Nguyễn Cảnh Bình đã
đọc những cuốn sách của tôi viết về Hiến pháp, tự viết thư cho tôi thông qua
Nhà xuất bản. Và ngược lại, tôi cũng tự đọc bài báo về James Madison và
những người từng soạn thảo bản Hiến pháp Mỹ, bản hiến pháp thành văn
đầu tiên của thế giới, dưới cái tên Nguyễn Cảnh Bình rất xa lạ. Sau đấy ít
lâu, chúng tôi đã gặp nhau. Thật là một sự tâm đầu ý hợp. Vượt qua mọi
khác biệt, chúng tôi đã có những cuộc trao đổi khoa học rất bổ ích.
Nội dung cuốn Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? bao gồm những mẩu
chuyện rất hấp dẫn về quá trình soạn thảo Hiến pháp, về những cuộc tranh
luận cực kỳ gay go và nan giải trong quá trình soạn thảo bản Hiến pháp Hoa
Kỳ năm 1787, những bức thư đầy tính nhân bản và trách nhiệm của những
người tham dự Hội nghị lập hiến. Đặc điểm của cuốn sách này là không chỉ
trình bày những luận điểm hậu thuẫn cho việc thành lập ra Nhà nước Liên
bang với tên gọi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ như hiện nay mà cả những luận
điểm chống lại sự hình thành này, đó là những điều chúng ta chưa hoặc là rất
ít có điều kiện biết đến. Qua những tranh luận đó, dù tán thành hay phản đối
thì những lập luận này cũng rất chân thành và đều chung một mong ước thiết
lập một quốc gia thịnh vượng và bền vững. Có thể nói bản Hiến pháp Hoa
Kỳ được xây dựng như ngày nay cũng một phần nhờ những chống đối đó,
điển hình là Tuyên ngôn Nhân quyền. Do đó, cuốn Hiến pháp Mỹ được làm
ra như thế nào? có cách tiếp cận về lịch sử lập hiến khá toàn diện, không chỉ
góp phần giải thích ý nghĩa của bản Hiến pháp Mỹ mà còn giúp người đọc
hiểu được quá trình xây dựng một đạo luật. Với cách tiếp cận như thế, tác giả
sẽ có những đóng góp nhất định cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về Hiến
pháp Hoa Kỳ ở nước ta.
Đây là tác phẩm thứ hai của anh Nguyễn Cảnh Bình về Hiến pháp Hoa Kỳ,
sau cuốn sách rất lý thú về Alexander Hamilton, một trong những tác giả rất
xuất sắc của tác phẩm Những bài báo Người liên bang (Federalist Papers).
Mặc dù không phải là người được đào tạo cơ bản về kiến thức luật học ở nhà
trường, nhưng niềm đam mê và sự ham hiểu biết đã giúp anh vượt qua tất cả.
Các tác phẩm của anh về lĩnh vực này rất có giá trị cho việc nghiên cứu về
hiến pháp của giới chuyên môn cũng như những người muốn tìm hiểu khác.
Tôi xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
PGS. TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Cuối năm 2000, tôi bắt đầu tập trung nghiên cứu Hiến pháp Mỹ. Lý do thứ
nhất là vì bản hiến pháp của nước Mỹ là lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với
trên 200 năm lịch sử trong khi các bản hiến pháp hiện nay của Pháp, Đức,
Nhật, Nga đều là những bản hiến pháp mới mẻ và có thời gian tồn tại chưa
lâu. Tôi muốn hiểu tại sao và do đâu nước Mỹ lại có được sự ổn định đó.
Lý do thứ hai là trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước ta ngày 2 tháng
Chín năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những lời nói thật bất hủ
của bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ do Thomas Jefferson viết "Tất cả mọi
người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" . Chính thế hệ những người đã
làm nên cuộc Cách mạng Mỹ đó như Thomas Jefferson và George
Washington đã đặt nền tảng cho nhà nước Cộng hòa Mỹ bằng bản hiến pháp
này. Tôi muốn tìm hiểu kỹ xem họ đã làm ra bản hiến pháp đó như thế nào
và cùng với việc học hỏi bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, chúng ta có thể
học hỏi được gì từ quá trình soạn thảo Hiến pháp Mỹ trong việc xây dựng
nhà nước pháp quyền, xây dựng một chính quyền mạnh và hiệu quả.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi rất may mắn vì những tài liệu về quá trình
soạn thảo và làm ra bản Hiến pháp Mỹ được công khai ở dạng on-line trong
thư viện điện tử của Quốc hội Mỹ. Tôi tin rằng không một bản Hiến pháp
nào, kể cả những bản Hiến pháp hiện đại được làm ra sau này, lại lưu giữ
đầy đủ, chính xác và chi tiết mọi vấn đề liên quan đến việc soạn thảo và phê
chuẩn như bản Hiến pháp Mỹ. Tất cả những văn bản viết tay, những cuộc
thảo luận, những bức thư của những chính khách đương thời, những bài báo
tán thành và phản đối bản Hiến pháp… đều được lưu giữ rất cẩn thận và đầy
đủ. Đó là kho tư liệu vô cùng đồ sộ mà nếu in ra có thể lên tới hàng chục
nghìn trang. Trong một lượng tài liệu khổng lồ như vậy, tôi chỉ chọn dịch
những phần điển hình nhất trong vài tác phẩm cơ bản là cuốn Elliot's Debate,
cuốn Farrand's Record, cuốn The Debates in the Federal Convention of 1787
của Madison và cuốn Federalist Papers. Chi tiết từng bài, hay từng phần, tôi
có ghi lại nguồn tư liệu và cố gắng giải thích trước khi vào bản chính để bạn
đọc dễ hiểu. Ngoài ra, tôi cũng lược dịch tiểu sử những chính khách Mỹ đã
tham gia Hội nghị Lập hiến 1787 để bạn đọc nắm được bản chất quan điểm
và những đóng góp của họ cho lịch sử nước Mỹ.
Nhưng bên cạnh sự may mắn, tôi cũng gặp phải khá nhiều khó khăn. Trước
hết, những tài liệu này đều được viết bằng văn phong của thế kỷ XVIII nên
khá khó đọc, rắc rối, nhiều chỗ viết tắt và có chỗ sử dụng những ngạn ngữ
tiếng Latin. Một khó khăn khác là các tác giả tham gia soạn thảo Hiến pháp
Mỹ đều có kiến thức rất uyên bác vì họ đọc rất nhiều các tác phẩm lịch sử và
luật pháp của thế giới, nên thường viện dẫn những sự kiện và nhân vật lịch
sử trong các thành bang Hy Lạp, nền Cộng hòa La Mã cổ đại, nhà nước quân
chủ Anh, Pháp, liên bang Phổ, Thụy Sĩ và Hà Lan… Những kiến thức này
khá xa lạ, ít được nhắc đến ở Việt Nam và các nguồn tra cứu cũng không
phải dễ dàng tìm được. Nhưng bởi trước đây, tôi đã dịch tác phẩm Gương
Danh nhân của Plutarch về lịch sử Hy Lạp cổ đại, nên những kinh nghiệm
thu được cũng góp ích rất nhiều cho việc chú thích.
Về bản dịch, tôi cố gắng dịch sát nghĩa tối đa tới mức có thể, giữ lại một số
nét văn phong lịch sự và kiểu cách của thế kỷ XVIII để không làm bản dịch
quá hiện đại. Ngoài ra, tôi cũng cố gắng giải thích những sự kiện, những con
người và các bối cảnh được đề cập trong các cuốn này. Các nguồn tư liệu sử
dụng để tham khảo, chủ yếu, tôi lấy từ bộ từ điển Encarta 2002, cuốn The
Governments of Europe của Frederic Austin Ogg, cuốn Europe: from the
Renaisance to Waterloo của Ergang và một số nguồn tra cứu khác, nhưng
chắc rằng vẫn không tránh khỏi những sai sót. Ngoài ra, tên các bang của Mỹ
được viết tắt như sau: MA: Massachusetts; CT: Connecticut; NY: New
York; NJ: New Jersey; PA: Pennsylvania; DE: Delaware; MA: Maryland;
VA: Virginia; NC: Bắc Caroline; SC: Nam Caroline; GA: Georgia; NH:
New Hampshire.
Tuy nhiên, do đây là chủ đề khó cùng với việc kinh nghiệm, trình độ kiến
thức còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót. Tôi rất mong nhận
được ý kiến góp ý và bổ sung của bạn đọc. Thư xin gửi về địa chỉ
binhnc@yahoo.com.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và động viên của những người bạn tôi
trong Nhóm Dịch Trẻ, cảm ơn TS Ngô Đức Mạnh, Vụ Thông tin, Văn phòng
Quốc hội và nhất là PGS, TS Nguyễn Đăng Dung đã có những góp ý quý
báu về nội dung cuốn sách này. Tôi hy vọng cuốn sách sẽ góp phần mang
đến cho bạn đọc những thông tin bổ ích và cần thiết ở một khía cạnh nào đó.
Tháng Mười hai, năm 2002
NGUYỄN CẢNH BÌNH
LỜI CẢM ƠN
Kể từ khi tôi bắt đầu biên soạn cuốn sách này vào cuối năm 2000 đến nay đã
hơn 9 năm, đây là lần thứ 3 cuốn sách được tái bản.
Trong lần tái bản này, tôi không bổ sung gì mà chỉ chỉnh sửa một số phần
trong nội dung cuốn sách vì tất cả những gì trình bày đã đủ nói lên tinh thần
và ý nghĩa của Hiến pháp Mỹ. Có thể suốt 8 năm qua, tôi đã không dành
nhiều thời gian để nghiên cứu Hiến pháp Mỹ như giai đoạn trước đây, không
có điều kiện để vùi đầu vào những trang viết của Madison, của Hamilton,
hay của Jefferson như đã từng mong ước; vẫn chưa dịch được trọn vẹn tác
phẩm Người liên bang như dự định…
Nhưng khi nhìn nhận lại ý nghĩa và bài học từ quá trình soạn thảo bản Hiến
pháp Mỹ, tôi nhận thấy bản thân bản hiến pháp, dù được soạn sửa tốt đến
đâu, cũng không có nhiều giá trị. Bản thân những nguyên tắc, kể cả cấu trúc
tam quyền phân lập dù có được trù tính, thiết kế cẩn thận đến đâu cũng
không thể phát huy tác dụng. Có một nhân tố khác quan trọng hơn, mang
tính quyết định hơn đó là tư duy, là trí tuệ, là tính nhân bản, là tinh thần và
tựu chung là tầm vóc của dân tộc, của đất nước đó. Bản Hiến pháp Mỹ từng
được áp dụng cho các quốc gia Nam Mỹ từ thế kỷ XVIII như Brazil,
Argentina hay gần đây là Philippines trong thế kỷ XIX nhưng đều không
mang lại sự thịnh vượng, không đảm bảo sự ổn định… Vì thế, tôi nghĩ bản
thân bản hiến pháp không quan trọng, mà quá trình biên soạn và quá trình áp
dụng trong thực tiễn mới thực sự giữ vai trò quan trọng.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ của đông đảo độc giả, bạn bè và các
đồng nghiệp của tôi ở Alpha Books… đã giúp đỡ tôi trong quá trình tái bản
cuốn sách này.
Bản thân tôi khi bắt đầu soạn, tôi không nghĩ rằng 9 năm sau, nó vẫn được
nhiều độc giả tìm kiếm, vẫn được nhiều người yêu thích và khen ngợi. Vì
vậy, xin coi đây như lời cảm ơn và là món quà gửi tặng những bạn bè, độc
giả vì đã luôn động viên, giúp đỡ và khuyến khích tôi trong suốt quãng
đường dài…
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2010
NGUYỄN CẢNH BÌNH
Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế
nào?
George Washington (1732-1799)
Chủ tịch Hội nghị Lập hiến, Tổng thống đầu tiên của Mỹ (1789-1797)
Phần I. TÓM TẮT QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG HIẾN PHÁP MỸ
“Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức
phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn Chúa tối cao, hãy đừng bao
giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào.
Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”.
Bài phát biểu của Patrick Henry, tại Đại hội tiểu bang Virgina
Ngày 23 tháng Ba năm 1775.
Hội nghị Lập hiến
Thứ Sáu, ngày 25 tháng Năm năm 1787, một lớp đất mới được trải lên con
đường rải sỏi phía trước tòa nhà Hạ viện tiểu bang Pennsylvania, trên đường
Chestnut , giúp những người đàn ông đang họp bên trong tránh khỏi những
tiếng ồn ào của những chiếc xe ngựa chạy bên ngoài. Lính gác đứng ở cửa
ngăn không cho những đám đông tò mò vào bên trong và giữ họ ở một
khoảng cách xa.
Đây là những đại biểu tham dự Hội nghị Liên bang, được các tiểu bang cử
đến với nhiệm vụ sửa đổi những thiếu sót của chính quyền đương thời. Hội
nghị dự định khai mạc từ ngày 14 tháng Năm, nhưng lúc đó chỉ có mặt các
đại biểu của tiểu bang Virginia và Pennsylvania, nên buộc phải hoãn lại.
Trong ngày đầu khai mạc Robert Morris, đại biểu tiểu bang Pennsylvania,
nhà "tài chính" của cuộc Cách mạng Mỹ, đã mở đầu Hội nghị bằng việc đề
cử Tướng George Washington cho chức Chủ tịch Hội nghị Lập hiến. Phiếu
bầu hoàn toàn nhất trí. Với sự nghiêm trang và khiêm tốn, vị Tổng tư lệnh đã
thể hiện sự bối rối của mình trong việc làm chủ tọa một Hội nghị trang trọng
như vậy và xin lỗi nếu có bất kỳ sai sót nào mà ông có thể mắc phải trong
quá trình thảo luận kỹ lưỡng này.
Nhiều tháng trước đó, đau ốm vì căn bệnh thấp khớp, chán nản vì cái chết
của người anh trai, mải mê với cuộc sống yên bình ở khu trang trại Mount
Vernon và nghi ngờ sự thành công của Hội nghị cũng như nghĩ rằng nhiều
nhân vật nổi tiếng sẽ vắng mặt, Washington luôn trì hoãn việc nhận lời mời
tham dự. Nhưng rồi bực bội với nguy cơ trong việc trao uy tín của ông cho
một cuộc họp mà rồi có thể phải thất bại và khả năng công chúng sẽ đánh giá
sự tham dự miễn cưỡng của ông với con mắt hoài nghi, viên tướng cuối cùng
đã chấp nhận công việc này. Nhiều đại biểu tham dự cuộc họp, đặc biệt là
James Madison, đại biểu trẻ trung mới 36 tuổi của Virginia, cảm thấy rất hài
lòng, vì chỉ riêng sự có mặt của viên tướng Tổng tư lệnh Washington, cùng
với uy tín to lớn của ông cũng đủ để mang lại một không khí trang nghiêm
và bảo đảm sự thành công cho Hội nghị.
Cùng ngày 25 tháng Năm, theo đề nghị của C. Pinckney, Hội nghị cũng bổ
nhiệm Thiếu tá William Jackson của tiểu bang Nam Caroline, làm Thư ký,
với nhiệm vụ ghi chép lại mọi ý kiến trong quá trình thảo luận, đồng thời
cũng bổ nhiệm một ủy ban gồm Wythe, Hamilton và C. Pinckney có nhiệm
vụ soạn thảo những qui tắc cho Hội nghị.
Những buổi họp của Hội nghị được tổ chức kín và không có phóng viên hay
khách mời nào được phép tham dự. Mặc dù nhiều thành viên với bản chất ba
hoa và lắm lời, thường bị kích động trong các quán rượu hay trên đường phố,
thì hầu hết mọi đại biểu đều giữ được bí mật một cách ngạc nhiên. Ðối với
những người hoài nghi về Hội nghị, việc giữ bí mật đó càng làm tăng mối lo
âu của họ. Từ Paris, Thomas Jefferson đã viết cho John Adams: "Tôi cảm
thấy tiếc là họ đã bắt đầu các cuộc tranh luận bằng một quyết định thật tồi tệ
là đóng chặt miệng lưỡi của tất cả mọi người". Nhưng sau này, đại biểu
Luther Martin của tiểu bang Maryland đã phán xét rằng sứ mạng ở
Philadelphia cần một môi trường hoàn toàn yên tĩnh.
Mặc dù viên thư ký Hội nghị là Jackson đã ghi chép lại nội dung các cuộc
họp, nhưng bản ghi chép đầy đủ nhất lại chính là nhờ công sức của James
Madison. Hết ngày này sang ngày khác, người đàn ông đến từ Virginia này
đã ngồi ngay hàng đầu tiên của phòng họp, ghi chép lại tất cả các cuộc tranh
luận, không để lỡ bất cứ một ngày nào, hoặc một bài phát biểu quan trọng
nào. Sau này, Madison kể lại rằng việc tự giam mình trong cái sảnh nóng
bức và ngột ngạt đó suốt mùa hè ở Philadelphia suýt nữa đã giết chết ông.
Các điều khoản Hợp bang
Hội nghị Lập hiến được triệu tập trong một bối cảnh được coi là giai đoạn
sống còn trong lịch sử nước Mỹ. Những người dân Mỹ vừa trải qua một cuộc
chiến tranh dài, cam go và tàn phá, chỉ vừa mới bắt đầu giai đoạn phục hồi
kinh tế từ đống đổ nát. Nền kinh tế trong thời kỳ thương mại bình thường với
nước Anh và vùng Tây Ấn (các hòn đảo vùng vịnh Caribê) giờ đây bị ảnh
hưởng nghiêm trọng do việc tách khỏi Vương quốc Anh. Ðó là một nền kinh
tế "dị dạng": tiền giấy có ở khắp mọi nơi gây lạm phát kinh khủng. Các bằng
chứng khác cho thấy chủ nghĩa dân tuý đang hồi sinh mà ví dụ điển hình là
cuộc nổi loạn của một nhóm nông dân trang bị vũ khí. Những kích động
chính trị do những khẩu hiệu từ thời chiến như "bình đẳng và quyền của mọi
người" đã trở nên không thể kiểm soát được. Tư tưởng phe cánh, bè phái và
chủ nghĩa địa phương đang là lời cảnh báo đối với Madison và nhiều người
khác. Thái độ thù địch đối với chính quyền mà biểu hiện là sự chống đối
thuế khóa có ở tất cả mọi tầng lớp. Trong tâm trí nhiều người, cuộc sống, sự
tự do và thịnh vượng không hề được đảm bảo.
Ðối mặt với những khó khăn này, chính quyền Mỹ cố gắng vận hành theo
Hiến pháp đương thời là Các điều khoản Hợp bang, được phê duyệt năm
1781. Thứ hiến pháp mà Hamilton, chính trị gia xuất sắc thuộc thế hệ thứ hai
của cuộc Cách mạng Mỹ, sau này trở thành một trong những kiến trúc sư cho
hệ thống chính quyền và kinh tế Mỹ, gọi là "một sự khờ dại". 13 tiểu bang
thuộc địa tập hợp trong một thể chế hợp bang lỏng lẻo khi chỉ có một cơ
quan chính quyền duy nhất là Quốc hội Hợp bang điều hành mọi vấn đề của
đất nước. Chính phủ Hợp bang khi đó không điều hành trực tiếp với người
dân mà thông qua trung gian là các chính quyền tiểu bang . Không có nhánh
hành pháp, cũng không có tòa án tối cao, cơ quan này hầu như chẳng có chút
quyền hành nào và cũng chẳng có ngân sách để hoạt động. Khắp nơi tràn
ngập sự lộn xộn, không có một qui định chung về thương mại, thuế khóa và
thậm chí, mỗi tiểu bang lại có một loại tiền riêng. Những món nợ chiến tranh
lớn đến mức hầu như không thể trả nổi.
Tiền giấy tràn ngập khắp đất nước tạo ra nạn lạm phát kinh khủng tới mức
nửa cân chè ở một vài vùng có thể phải mua bằng số tiền lớn là 100 đô la.
Tình trạng kinh doanh suy thoái đang lấy đi sinh mệnh của nhiều nông dân
và chủ đất nhỏ. Một số buộc phải vào tù vì nợ nần, rất nhiều ruộng đất bị tịch
thu hay phải bán để trả thuế. Uy tín nền cộng hòa bị nghi ngờ và công chúng
bắt đầu mất niềm tin vào chính quyền. Hiệp ước Hòa bình với Anh bị cả hai
phía phớt lờ và hầu như không có hiệu lực. Chính quyền Hợp bang cũng
chẳng có uy tín trong con mắt của các quốc gia châu Âu. Đó là một chính thể
cộng hòa đang bị tê liệt và bất kỳ người dân nào cũng có thể suy đoán về
một kết cục thảm hại sẽ xảy ra.
Năm 1786, một số nông dân đã nổi dậy chống lại chính quyền. Cầm đầu bởi
Daniel Shays, một cựu Đại úy của quân đội Lục địa, một nhóm người trang
bị vũ khí, cắm những chiếc lông ngỗng màu xanh lên mũ, ngăn cản tòa án
lưu động họp tại Northampton, MA. và đe dọa cướp vũ khí tại kho súng
Springfield. Mặc dù quân đội tiểu bang nhanh chóng dập tắt cuộc nổi dậy
này nhưng cuộc bạo loạn đó đã buộc nhiều người giàu lo sợ về một tình
trạng vô chính phủ đang lấp ló ở chân trời. Ðược thêm mắm thêm muối hết
ngày này sang ngày khác trên các trang báo, cuộc nổi dậy đã làm cho tầng
lớp trên ở Mỹ rùng mình run sợ, khi họ hình dung cái đám người hung tợn,
ngoài vòng luật pháp đó, sẽ xuất hiện ngay trong những nông dân vô tội.
Tình trạng tồi tệ của liên minh 13 tiểu bang đã thách thức nhiều người Mỹ có
tư tưởng cộng hòa về sự cần thiết và cấp bách phải có những cải cách triệt
để. Từ trang trại đồng quê Mount Vernon, Washington đã viết cho Madison:
“Tại thời điểm hiện nay, sự khôn ngoan, sự hiểu biết và các tấm gương tốt là
cần thiết để cứu hệ thống chính trị này khỏi cơn bão đang treo lơ lửng... Tại
mỗi tiểu bang đều có những mầm cháy mà chỉ cần một tia lửa cũng có thể
làm bùng lên đám lửa".
Còn đối với Hamilton, một trong những người vận động mạnh mẽ nhất cho
Hội nghị này, Quốc hội Hợp bang chỉ là một nhóm chính trị gia có tầm nhìn
hạn hẹp, những người dễ dàng hy sinh mạng sống của binh lính và tương lai
của toàn bộ dân tộc khi lãng phí thời gian trong những cuộc tranh cãi vụn
vặt, chứ không phải những nghiên cứu, tranh luận thấu đáo hay suy xét kỹ
càng, có tầm nhìn xa, trông rộng trong quá trình hình thành chính sách.
Chính quyền tổ chức theo bộ luật này đã từng thể hiện sự yếu kém và thiếu
hiệu quả trong thời chiến và đến thời hòa bình, khi những tiểu bang ngày
càng ít phụ thuộc vào nhau, thì liên minh lỏng lẻo của 13 tiểu bang Bắc Mỹ
thật sự gặp nguy hiểm. George Washington từng nhận xét rằng các bang chỉ
được liên kết với nhau "bằng một sợi dây bằng cát". Ðiều cực kỳ quan trọng
trong tư duy của Hamilton là chính phủ liên bang phải có quyền điều hành
vấn đề thương mại, lĩnh vực mà cho đến lúc đó, vẫn nằm trong tay các chính
quyền tiểu bang và nhất thiết phải có quyền thu thuế lợi tức để tạo dựng
nguồn ngân sách cho sự vận hành của một nhà nước. Ông khẳng định: "...
không thể trì hoãn được nữa, chúng ta phải trao thêm quyền lực cho Quốc
hội... Chỉ có việc sử dụng một cách hợp lý những nguồn tài nguyên của toàn
thể liên minh, dưới sự lãnh đạo của một Hội đồng Tối cao, với những quyền
lực và sức mạnh cần thiết mới có thể giải thoát chúng ta khỏi cảnh áp bức và
khốn khó như hiện nay, và đưa chúng ta trở thành những người hạnh phúc
sau này".
Để giải quyết những trục trặc đó, vào tháng Chín năm 1786, Quốc hội Hợp
bang đã tổ chức một cuộc họp các bang tại thành phố Annapolis, bang
Maryland, nhằm thảo luận các bất đồng thương mại, nhưng hầu như chẳng
mang lại kết quả cụ thể nào. Chỉ có 5 tiểu bang tham dự và các đại biểu cũng
chẳng có quyền gì, ngoài việc thảo luận và kiến nghị lên Quốc hội Hợp bang.
Tuy nhiên, Hamilton, Madison và một vài đồng nghiệp đồng ý phải làm
được một điều gì đó có ý nghĩa. Họ đề nghị Quốc hội triệu tập một Hội nghị
mới, nhằm xem xét lại Các điều khoản Hợp bang với sự tham gia của tất cả
các tiểu bang. Đối với Madison, đây là một cơ hội tuyệt vời để lật ngược
được xu hướng hiện tại của đất nước. Còn với nhiều người, điều quan trọng
khi họ tập trung ở Philadelphia là không được thất bại. George Mason, viên
điền chủ của trang trại Gunston Hall, tác giả bản Tuyên ngôn Nhân quyền
của tiểu bang Virginia, đã viết cho con trai: "Mọi con mắt của nước Mỹ đang
hướng về Hội nghị này và niềm trông đợi của họ đã tăng lên rất cao. Ơn
Chúa Tối cao, cha và những người bạn có thể làm họ hài lòng bằng việc thiết
lập một Chính quyền Khôn ngoan và Công bằng".
Cũng thời gian đó, nhiều tờ báo ở Philadelphia đã đăng tải bức thư của một
người giấu tên đòi bỏ ý định thành lập một chính quyền chung cho tất cả các
tiểu bang. Người này đề nghị chia Hợp chúng quốc thành ba nước cộng hòa
riêng biệt: Bắc, Trung và Nam, vĩnh viễn liên minh với nhau vì mục đích
phòng thủ chung.
Một khó khăn rất lớn khác của Hội nghị Philadelphia là mục tiêu đề ra chỉ là
nhằm sửa đổi và bổ sung những điều cần thiết cho Các điều khoản Hợp
bang, chứ không phải xây dựng một bản Hiến pháp hoàn toàn mới. Tuy
nhiên, hầu hết các đại biểu đều cho rằng nếu cứ bám vào cái sườn cũ thì sẽ
chẳng dẫn đến điều gì cả. Một chính quyền mới và vững chắc chính là điều
mà Hội nghị mong muốn và quyết tâm đạt được. Như sau này, Hamilton
nhận xét: "những thất bại và trục trặc mà chúng ta trải nghiệm không phải
bắt nguồn từ một vài lỗi nhỏ lẻ nào mà do những sai lầm căn bản, có tính
nguyên tắc trong việc hình thành chính quyền và không thể sửa đổi nếu
không có những thay đổi cơ bản nhất về mô hình chính quyền".
Các đại biểu tham dự Hội nghị
74 đại biểu được các tiểu bang bầu chọn để tham dự Hội nghị, nhưng chỉ có
55 đại biểu thật sự có mặt tại các cuộc họp. Đó là những nhà lãnh đạo hàng
đầu của đất nước, những con người thông minh, kiệt xuất và có uy tín lớn
lao. Ða số các đại biểu ủng hộ chế độ tiền giấy, hệ thống thuế thấp và mong
muốn thiết lập một chính quyền mạnh. Một số đại biểu chỉ tin tưởng vào giai
cấp quý tộc, nhưng hầu hết đều tán thành những nguyên tắc dân chủ, dù rất e
ngại tính thất thường của dân chúng và sự thái quá của nền dân chủ.
Rhode Island là tiểu bang duy nhất từ chối cử đại biểu tham dự cuộc họp vì
cho đó là âm mưu nhằm phá bỏ chính quyền đã được thiết lập. Ngoài ra, Hội
nghị cũng gặp phải sự nghi ngờ và chống đối của không ít chính khách hàng
đầu. Patrick Henry , một lãnh tụ cuộc Cách mạng Mỹ, đã từ chối tham dự
với tuyên bố: "Tôi cảm thấy đây là một sự phản bội". Điều này là do xu
hướng của Hội nghị muốn hình thành một chính quyền tập trung mạnh,
nhằm giám sát thẩm quyền của các cơ quan lập pháp tiểu bang, trong khi
Henry và nhiều chính trị gia tên tuổi khác lại tin rằng chính quyền tiểu bang
sẽ bảo đảm tốt nhất những quyền tự do cá nhân. Vì vậy, ông quyết tâm
không góp một chút công sức nào cho Hội nghị.
Một vài nhân vật kiệt xuất khác cũng vắng mặt như Thomas Jefferson , John
Adams , John Jay và Thomas Paine . Ngoài Patrick Henry, một số lãnh tụ
hàng đầu khác của cuộc Cách mạng Mỹ là Samual Adams và Richard Henry
Lee cũng từ chối tham dự.
Nhưng về tổng thể, đây là cuộc nhóm họp thật sự gây ấn tượng với những
con người xuất chúng, những người đã làm nên cuộc Cách mạng Mỹ, và sứ
mạng của họ bây giờ là xây dựng một đất nước mới, tốt đẹp hơn. Từ Paris,
khi đang là Công sứ Mỹ tại Pháp, Thomas Jefferson đã viết thư cho John
Adams, khi đó đang là Công sứ Mỹ tại Anh: "Ðó thực sự là cuộc quần tụ
những người con của thánh thần".
Nổi bật hơn cả là một cá nhân mà các đức tính và lòng quả cảm của ông
tượng trưng cho nền Ðộc lập Mỹ và cho cả dân tộc Mỹ. Đó là George
Washington, Tổng tư lệnh các quân đội thuộc địa trong cuộc chiến tranh với
người Anh.
Ngoài Washington, ở đây còn có Benjamin Franklin, Chủ tịch Ủy ban Hành
pháp tiểu bang Pennsylvania, (chức vụ tương đương với Thống đốc ngày
nay) và là chủ nhà của Hội nghị. Ông là người nổi tiếng khắp châu Âu và
nước Mỹ hơn bất kỳ một cá nhân nào khác cùng thời đại. Ði khập khiễng do
căn bệnh gút, ông già Franklin, khi đó đã 81 tuổi, là người đã làm nhiều nghề
như thợ in, bảo vệ cửa hàng, nhà khoa học, viên chức hành chính, nhà triết
học, nhà ngoại giao và rất được phụ nữ hâm mộ. Có James Wilson của tiểu
bang Pennsylvania, một luật sư tài năng và đam mê đầu cơ đất đai một cách
khờ dại, để cuối đời buộc phải trốn chạy từ tiểu bang này sang tiểu bang
khác, để tránh truy tố vì nợ nần. Người đàn ông Scotland này đã mang đến
một trí tuệ phi thường, một thiên hướng về những lý thuyết hiến pháp và luật
pháp. Có George Mason của tiểu bang Virginia, người sau này được
Jefferson gọi là "viên Cato của nước Mỹ mà không có lòng tham lam của
người La Mã". Chính George Mason, vào tháng Năm năm 1776, là người
soạn thảo Tuyên ngôn Nhân quyền cho tiểu bang Virginia là nền tảng cho
Thomas Jefferson soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập Mỹ sau đó hai tháng. Có
John Dickinson của tiểu bang Delaware, tác giả Những bức thư của người
nông dân và là tác giả chính của Các điều khoản Hợp bang. Có Gouverneur
Morris, tiểu bang Pennsylvania, rất thông thạo văn học và ngôn ngữ Pháp,
với sự tinh thông và can đảm hợp với trí tuệ kiệt xuất đã góp phần soạn thảo
Hiến pháp tiểu bang New York. Ngoài ra, nhiều người khác cũng đóng vai
trò quan trọng như Oliver Ellsworth, Edmund Randolph, William Paterson,
John Rutledge, Elbridge Gerry, Roger Sherman, Luther Martin, Charles và
Charles Cotesworth Pinckneys.
Mặc dù nhiều đại biểu còn rất trẻ, như Hamilton chỉ mới 32 tuổi và Madison
- 36 tuổi, Edmund Randolph - 34 tuổi, nhưng hầu hết đều đã học luật và là
những chính trị gia xuất sắc. Những kiến thức lý thuyết triết học tuyệt vời về
chính quyền của họ được mở rộng bởi các nhà triết gia về chính trị như
James Harrington , John Locke , Montesquieu và được tích lũy từ những
kinh nghiệm thực tế thu được trong quá trình hoạt động chính trị ở liên bang
hay tiểu bang.
Ba mô hình chính quyền: các Phương án Virginia, New Jersey và Hamilton
Sáng thứ Ba, ngày 29 tháng Năm, Edmund Randolph, Thống đốc bang
Virginia, mở đầu cuộc tranh luận với bài phát biểu dài, phê phán những điều
tồi tệ xảy ra đối với nước Mỹ do những yếu kém của Các điều khoản Hợp
bang. Ông nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải tạo dựng một chính quyền quốc
gia mạnh. Sau đó, Randolph đề xuất những nét chính về phương án cải tổ
bao gồm 15 điểm, thường được biết dưới cái tên Những giải pháp Randolph,
nhưng tên chính thức là Phương án Virginia do ông và những đồng nghiệp
cùng tiểu bang, sau những kỳ họp dài tại quán rượu Indian Queen, thống
nhất quan điểm trước ngày diễn ra Hội nghị. Nền tảng của mô hình chính
quyền này, chủ yếu do James Madison thiết kế, gồm ba nhánh: lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Mỗi nhánh được cấu trúc để kiểm soát quyền lực của
các nhánh kia. Với quyền lực được tập trung cao độ, chính quyền theo mô
hình này có thể phủ quyết mọi bộ luật do cơ quan lập pháp tiểu bang ban
hành. Về phương án này, Randolph đã thú nhận "[đó] là một liên minh thống
nhất, trong đó ý kiến [riêng] của các tiểu bang gần như không được đếm xỉa
đến".
Việc đề xuất Phương án Virginia tại thời điểm mở đầu Hội nghị là hành
động táo bạo nhưng cực kỳ khôn ngoan và làm nhiều người sửng sốt. Những
đại biểu của Virginia hiểu rằng bản kế hoạch đệ trình lên đầu tiên sẽ giành
được lợi thế hơn bất kỳ kế hoạch nào sau đó. Những người Virginia đã buộc
các cuộc tranh luận phải tiến hành theo các điểm trong mô hình do họ đề ra
và theo các khái niệm của họ.
Trong hai tuần tiếp theo, Hội nghị tiến hành thảo luận và sửa chữa các điểm
đề xuất trong Phương án Virginia. Ngày 13 tháng Sáu, văn bản sửa đổi được
đệ trình lên Hội nghị để tất cả các đại biểu thảo luận. 15 đề xuất ban đầu
trong Phương án Virginia đã trở thành nền tảng cho bản báo cáo 19 điểm về
mô hình chính quyền quốc gia, bao gồm ba nhánh. Nhánh lập pháp, tức
Quốc hội Liên bang, sẽ bao gồm hai viện được chọn theo qui mô dân số.
Việc thiết lập hai viện là nhằm đại diện cho những lợi ích khác nhau và để
quá trình làm luật tỉ mỉ và kỹ lưỡng hơn. Hạ nghị viện do người dân trực tiếp
bầu, còn các thành viên của Thượng nghị viện lại được chính Hạ nghị viện
lựa chọn. Nhánh hành pháp, tức là Tổng thống, sẽ được cả hai viện bầu
chọn. Mô hình bộ máy tư pháp quốc gia cũng được phác thảo, bao gồm Tòa
án Tối cao và tòa án các cấp sẽ do hai cơ quan lập pháp bầu chọn.
Có một giai thoại rất thú vị kể rằng sau khi Hội nghị Lập hiến kết thúc, khi
Thomas Jefferson từ Pháp trở về, trong một bữa ăn tối đã hỏi Washington là
tại sao ông bằng lòng có một viện thứ hai trong Quốc hội, tức là Thượng
viện. Khi đó, thấy Thomas Jefferson đang rót cà phê từ chiếc tách vào đĩa,
Washington liền hỏi: "Thế tại sao Ngài lại đổ cà phê vào đĩa như vậy?";
Jefferson trả lời: "Để làm cho cà phê nguội đi". Washington mỉm cười "Điều
đó cũng giống như việc chúng ta đổ cơ quan lập pháp ấy vào chiếc đĩa
Thượng viện để nó nguội bớt đi!".
Vấn đề mấu chốt nhất được Gouverneur Morris trình bày rất súc tích ngày 30
tháng Năm là sự khác biệt giữa mô hình chính quyền của một liên bang và
chính quyền của một quốc gia mà "chính quyền liên bang chỉ thuần túy như
một hiệp ước được thiết lập dựa trên sự cam kết tốt đẹp của các bên. Còn
chính quyền quốc gia điều hành một cách toàn diện và mang tính cưỡng ép".
Morris ủng hộ mô hình chính quyền quốc gia với một quyền lực tuyệt đối, có
khả năng thực thi mọi thẩm quyền cần thiết chứ không chỉ cái thứ chính
quyền mờ nhạt, phân rã và thiếu hiệu quả như chính quyền Hợp bang đương
thời.
Quan điểm quốc gia chủ nghĩa này đã làm điên đầu nhiều đại biểu khác. Họ
e sợ về khả...
 





