Video sự tích cây nêu đất
Hồ Chí Minh - Hành trình 79 mùa xuân (1890-1969

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:20' 16-03-2024
Dung lượng: 18.5 MB
Số lượt tải: 11
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:20' 16-03-2024
Dung lượng: 18.5 MB
Số lượt tải: 11
Số lượt thích:
0 người
Đ Ò H O Ằ N G L\N H (Sưu tổm & biên soợn)
hớchI mM
Hành trình
mùa xuân
79
( I 8 9 0 - I 9 6 9 )
DC.036090
'1-^ >
-ỉ
■)ì
Đ ỏ HOANG linh
(Sưu tám 8t biên soạn)
HỔCHlMINH
Ỉy,mu9jr-y-
U » ||» ■wiMik<
Hành trinh
m
■Aniira
ù n
x u â n
NHÀ XUẤT BẢN H Ó N G BÀNG
Q36D90
í':
c íI
„,S ă)®
ỄllẼS,-
LỜI GIỚI THIỆU
Đã có nhiều sách, báo viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hóa. Chưa thống kê đầy đủ, nhưng ước tính con số phải hàng ngàn,
đặc biệt kê' từ khi Người được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc
UNESCO thông qua nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh trên toàn thế giới vào
năm 1990.
Tầm ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lan tỏa và in dấu sâu đậm
trong các nhà hoạt động chính trị, xã hội và nhân dân lao động, trí thức quốc tế từ
nhũng năm đầu của ihế kỷ XX.
Việt Nam - Hồ Chí Minh đã thành biểu tượng không tách rời. Tư tưởng, đạo đức,
nhân cách, trước tác, sự nghiệp hoạt động của Người là tài sản vô cùng quý giá cho
dân tộc và thời dại.
Việc xuất bản lần thứ hai Hổ Chí Minh toàn tập gồm 12 tập trong hai năm 19951996 do Nhà xuất bán Chính trị Quốc gia ấn hành đánh dấu một chặng đường nghiên
cứu sưu tầm iư liệu vổ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các sự kiện lịch sử cách mạng có liên
quan. Bộ sách được thực hiện theo quyết định ngày 22 tháng 12 năm 1994 của Ban Bí
thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Đó là một công trình tư liệu - khoa học, gồm
những tác phẩm, bài nói, bài viết quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1919
dến 1969. 'l'ừ bấy dến nay, nhiồu tư liệu mới của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
dược lìm thấy, xác minh và công bố.
Nhiổu sách, báo, hiện vật và các cuộc hội thảo, kỷ niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh
khắp mọi nơi, kc cả ở nước ngoài xuất hiện.
Các cuốn sách dưới đây: Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (1890-1911);
Nịịười dì tìm lùnli của ììước (1911-1930); Đường về T ổ quốc (1930-1941); Nguyễn
Ái Q hốc - ỈIỒ Clìí Minh (1941-1945); Hổ Chí Minh 474 ngày độc lập (1945-1946);
Hồ Chí Miiilì 9 năm kháng chiến (1946-1954); Hồ Chí Minh - Hành trình 79 mùa xuân
do các tác giả Nguyễn Văn Dương và Đỗ Hoàng Linh sưu tầm, biên soạn theo lối biên
niên, thời gian khi Người sinh ra (1890), ra đi tìm đường cứu nước (1911) rồi trở về
tổ quốc (1941)...
Đó là một cách làm hay. Dạng sách thực lục này cung cấp cho độc giả hình dung
các hoạt động của nhân vật diễn ra theo năm tháng, thậm chí ngày giờ, địa điểm, nội
dung. Các tác giả biên soạn đã có công trong việc sưu tầm tư liệu và hồi ký của các
nhân vật khác từng gặp gỡ, cùng hoạt động với Bác Hồ và chứng kiến sự việc, tham
chiếu niên biểu sự kiện lịch sử... để phục dựng cuộc đời hoạt động thật phong phú của
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi vậy các cuốn sách kể trên không bị khỏ cứng trong sự kiện
mà có da thịt, hơi thở của cuộc sống; tầm vóc của danh nhân, vì vậy thật lớn lao mà
gần gũi, sống động và thuyết phục. Qua mỗi việc làm, tư tưởng của nhà ái quốc vĩ đại
thường được thể hiện bằng hành động và lời nói ngắn gọn dễ hiểu; “Một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu”; “Dân chủ là để dân được mở miệng”; “Cán bộ là đầy tớ của
nhân dân.. “Đảng không phải tổ chức để làm quan phát tài”...
Có thể dẫn ra rất nhiều và đa dạng các câu nói của Bác Hồ trong các cuộc gặp gỡ,
làm việc, tiếp xúc của Người với đồng sự, công chúng.
Nhưng trong sâu thẳm đều có chung một nguồn mạch:
Giọng của Người không phải sấm trên cao
Am từng tiếng thấm vào lòng mong ước.
(Tố Hữu)
Đọc các cuốn sách trên bạn sẽ kinh ngạc về tầm nhìn, bản lĩnh chính trị, sức làm
việc bền bỉ, lòng tận tụy, cách thức tổ chức, điều hành đoàn thể và nhà nước; sự am
tường các nền vãn hóa, lòng trắc ẩn và lối sống giản dị, phong thái ung dung, chủ
động trước mọi hoàn cảnh lúc thắng lợi hoặc trong lao tù, hay khi vận nước ngàn cân
treo sợi tóc... của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - vị lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là giếng trời. (Trần Văn Giàu). Hồ Chí Minh trước hết là một con
người, con người của lịch sử và làm nên lịch sử. Hồ Chí Minh: Giản dị, lão thực, là hình
ảnh của dân tộc (Phạm Văn Đổng). Hồ Chí Minh, tên Người là cả một niềm thơ (Nhà
thơ Cu Ba Pêtơ Rôđrighết).
Nhân kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 67 năm nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (1945) và hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Công ty cổ phần Gia Lai CTC, Nhà xuất bản
Hồng Bàng, Nhà sách Huy Hoàng phối hợp xuất bản các ấn phẩm trên là một hành
động thiết thực, có ý nghĩa “soi đường cho quốc dân đi” như có lần Người đã phát
biểu khi nói về văn hóa.
TRẦN ĐÌNH VIỆT
LỜI NÓI ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập, rền luyện Đảng Cộng
sản Việt Nam và khai sinh Nhà nước Việt Nam mới, người đ ã cống hiến trọn đời mình
cho sự nghiệp đấu tranh giùnh độc lập, tự do, cho hạnh phúc của nhăn dân. Cuộc đời
và sự nghiệp vinh quang của Người là ''một biểu tượng kiệt xuất vể quyết tâm của cả
một dân rộc", đ ã "góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì lioà bình,
dộc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội". Người đ ã được UNESCO tôn vinh là:
Anh hùng giải pli(5ng dân tộc, nhà văn lĩoá kiệt xuất của dân tộc Việt Nam.
Sự nghiệp, tư tưởng, đạo dửc của Chủ tịch Hồ Chí Minh v ĩ đại là tài sản tinh thần
vô giá của các th ế hệ người Việt Nam, luôn tỏa sáng soi đường cho cách mạng Việt
Nam tiến lên giành ììhững tlìắng lợi vẻ vang và đang vững bước trên con đường đổi
mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bâng, dân chủ, văn minh. Cuộc đời
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
về linh thần đoàn kết chiến đấu, tấm gươìig về đạo đức cách mạng: Trung với nước,
lìiếii với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần
quốc t ế trong sáng.
Từ ỉ rước đến nay đ ã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tlìân thế, sự nghiệp
cùa Clìủ tịch Hồ Chí Minh và qua mỗi lần xuất bản, "cuộc đời oanh liệt, đầy gian
khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp d ẽ của
Người cíược tái hiện với nhiều tư liệu mới, nhiều khám phá giá trị, giúp cho nhân
dâii lú và bạn bè quốc t ế hiểu íliêm vê' tư tưởng, lý luận, đạo đức, phong cách của
một lãnlì tụ "thểphách đ ã mất mà tinh anh muôn thủa vẫn còn”.
Nhân kỷ niệm 43 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và
cũng d ể thiết thực hưởiig ímg cuộc vận động của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Truìig
ương Đảng: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức H ồ Chí Minh đối với toàn Đảng,
toán dán, toàn quân ta, xin trân trọng giới thiệu cuốn H ồ C h í Minh - Hành trình
79 mùa xuân nhằm phục vụ nhu cáu nghiên cứu, học tập tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp
Chù tịch Hổ Chí Minh của đỏng đảo các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là khuyến khích
th ế hệ trẻ, nliữníỊ chú nhân tương lai của nước nhà, làm theo tấm gương Bác Hồ, có ý
chí vươn lên, klìát vọng cống hiến, làm chủ cuộc sống, trung với nước, hiếu với dân.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc.
TÁC GIẢ
lElíẼrsx
1890- 1911
Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời thơ ấu tên là Nguyễn Sinh Cung*'\ sinh ngày 19-5-1890,
tại quê ngoại là làng Hoàng Trù (còn gọi là làng Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An),
trong một gia đình nhà Nho, nguồn gốc nông dân.
Cha của Người là Nguyễn Sinh sắc (Nguyễn Sinh Huy), sinh năm 1862, mất năm
1929, quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen) cùng thuộc xã Chung Cự, nay là
xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. ông Nguyễn Sinh sắc xuất thân từ gia
đình nông dân, mồ côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó làm việc và ham học. Vì vậy,
ông được nhà Nho Hoàng Xuân Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về
nuôi. Là người ham học và thông minh, lại được nhà Nho Hoàng Xuân Đường hết
lòng chăm sóc, dạy dỗ, ông thi đỗ Phó bảng và sống bằng nghề dạy học. Đối với các
con, ông Sắc giáo dục ý thức lao động và học lập để hiểu "đạo lý làm người". Khi còn
trỏ, như nhiều người có chí đương thời, ông dùi mài kinh sử, quyết chí đi thi. Nhưng
càng học, càng hiểu đời, ông nhận thấy: "Quan trườrig thị nô lệ trung chi nô lệ, liựu
nô !ệ'\ nghĩa là "Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn".
Do đó, sau khi đỗ Phó bảng, bị triều đình phong kiến thúc ép nhiều lần, ông buộc phải
ra làm quan. Mẹ của Người là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868, mất năm 1901, là một
phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hâu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng
thương yêu và chăm lo cho chồng con. Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có
tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884, mất năm 1954. Anh của Người là
Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888, mất năm 1950.
Các anh chị của Người lớn lên đéu chịu ảnh hưởng của ông bà, cha mẹ, chăm làm việc
và rấl thương người, đều là những người yêu nước, đã tham gia phong trào yêu nước
và bị thực dân Pháp bắt bớ tù đày. Từ lúc ra đời đến tuổi lên 5, Nguyễn Sinh Cung
sống ở quê nhà trong sự chăm sóc, thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ, lớn lên
trong truyền thống tốt đẹp của quê hương, hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa
trong cuộc sống và bất khuất trước kẻ thù. Là một cậu bé ham hiểu biết, Nguyễn Sinh
Cung thích nghe chuyện và hay hỏi những điều mới lạ, từ các hiện tượng thiên nhiên
đến những chuyện cổ tích mà bà ngoại và mẹ thường kể.
Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng với gia đình chuyển vào Huế lần thứ nhất,
khi ông Nguyễn Sinh sắc vào Kinh thi Hội. Từ cuối năm 1895 đến đầu năm 1901,
Trong một bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1954, Người ghi tên còn nhỏ của mình là Nguyễn
Sinh Côn. (Bản chụp bút tích, lưu Kho Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh).
______
Ễkã3v—
Nguyễn Sinh Cung sống cùng cha mẹ tại Huế, ở nhờ nhà một người quen ở trong
thành nội (nay là số nhà 112, đường Mai Thúc Loan). Đó là những năm tháng gia
đình ông Sắc sống trong cảnh gieo neo, thiếu thốn. Bà Hoàng Thị Loan làm nghề
dệt vải, còn ông sắc ngoài thời gian học, phải đi chép chữ thuê để kiếm sống, để
học và dự thi.
Có lần vua Thành Thái ngự du Xiiân. Cậu Cung nấp mình sau gốc cây, nhằm nhìn
írộm vua. Nhà vua chít khăn vàng ngồi chễm cliệ trên kiệu, trông như pho tượng. Dân
chúng di đường phải phủ phục xuống lạy vua liên hồi. Tối vê' cậu Cung đến bên khung
cửi, hoi mẹ:
- Vua cíaii chán sao phải khiêng, mẹ?
Nghe con hỏi đến vua, sợ con mắc tội "phạm thượng", bà Loan vội bảo:
- Chớ, chớ, đừng lìỏi rứa con. Làm vua ra đường luôn được ngồi kiệu.
Cung gật đầu cảm ơn mẹ, nhưng vẫn còn thắc mắc:
- Sao cha klìỏìiíỊ chít khăn vàng như vua cho đẹp, mẹ?
- Náy, con nlìớ nhé. Chi' có vua mới được chít khăn vàng.
Chưa tlìod mãn, Cung tiếp tục lìỏi:
- Ngoài dường, sao con lại thấy lính cũng chít khăn vàng dưới chán. Thế, lìọ
không sợ vua hả, mẹ?
Đến lúc này, bù Loan hốt hoảng vội can ngăn con:
- Sao con lại ví như thế. Đừng hỏi, đừng hỏi, cấm kỵ đấy con ạ.
Mỗi lần ra phố, thấy có việc gì xảy ra, cậu Cung thường về hỏi mẹ tận tường ngọn
lìguổn. Nhiều lúc bù Loan cũng bí trả ỉời nlìữìig cáu hỏi của cậu. Bà mừng là các con
sớm mở rộng tầm hiểu biết nhanh chóng và luôn có ý thức nhận biết mọi điều. Nliiùig
bà cứ lo lắiig, sợ con mình ra ngoài xã hội, trong vòng cương toả của giáo lý phong
kiến, thực dân, mà sơ sảy nói ra hay tỏ ỷ phản kháng những điều cơm kỵ, thì khó mà
lường trước dược tai Ììoạ. Bù lại những khoáng trống trong ý thức muốn nhận biết xã
hội của các con, bù Loan c ố truyền thềm nhiều những câu chuyện c ổ tích Việt Nam,
ca dao, tục ngữ, lẩy Kiều hay diệu ví của quê nhà cho các con. Những vốn liếng văn
hoá dán gian của bà được tiếp nhận từ chiếc nôi của gia đình, quê hương nay rất có
ích, dược phát huy, truyền lại cho hai con trẻ, trong hoàn cảnh xa nhà. Âu cũng là
tiếng lòng da diết nhớ quê của bà. Vốn hiểu biết và tình cám với quê hương dòn lên
câu chuyện, câu hát cho con nghe bằng cả tấm lòng người mẹ, gieo vào lòng con tình
yêu quê hương, đất nước và đạo lý làm người vốn được kết tụ từ dưới ỉuỹ tre làng, cất
lên từ mái tranh nghèo.
Làm người cỉói sạch, rách thơm
Công danh phủ nhẹ, nước non phải đền
Gần cuối năm 1898, ông Nguyễn Sinh sắc về dạy học cho một số học sinh ở làng
Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế
___ —
6 km. Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha về đây và bắt đầu học chữ Hán tại lớp
học của cha.
Tuy mới 8 tiiôi nhưng Cimí> rất thông minh, nhanh nhẹn và có trí nhớ khác
tlìườìg. Các bài học Nguyễn Sinh Cung chỉ đọc ba bốn lần là thuộé'K Ngoài giở
học, Nguyễn Siiiìi Cung thường cùng trẻ em trong làng ra chơi ở đình làng Dương
Nổ \à xuống tắm ỏ bến sông Phổ Lợi chạy ven làng. Có ììhững lúc, cậu tới thôn
Phò Am, cách Dương N ỗ khôììg xa, vào chơi ở Am Bà, một ngôi miếu nhỏ trong
thôn Có ìần, cậu cùng bạn học dựng một màn trong vở tuồng "Tiết cương phá
thiết klìẩu plìần" của quan tìiượììg thư Đào Tấn. Các cậu bé lấy nhựa cây tươi dán
cúiìl. hoa dâm bụt vào má, trán, câm, hoá trang thành vai tướng mặt đỏ và lấy mực
nho vẽ mật vai mình dóng. Sau vỏ diễn, hai anh em bị ngứa, gãi sưng cả mặt. Bà
Loai bắt hai anh em nằm sấp trên giường, định giơ roi đánh thì cậu Cung nói:
"Mẹ d ã cho con chơi hoa dâm hụt và nói hoa này hiền như Bụt thì con mới dán lên
mặt, nào ngờ...” Bật cười, hà Loan bỏ roi xuống và dặn: "Hoa dâm bụt hiền nhưng
iiììựL cây tươi dữ lấm, các con nhớ chưa?".
-Uối năm 1900, ông Nguyễn Sinh sắc được cử đi coi thi ở trường thi hương
Tharh Hoá. ông đưa Nguyễn Sinh Khiêm đi cùng, còn Nguyễn Sinh Cung thì về
sống với mẹ trong nội thành Huế. Bà Loan sinh bé Xin trong hoàn cảnh khó khăn
túng ihiếu nên lâm bệnh: Ngày 22 tlìáng chạp năm Canh Tý (tức ngày 10-2 năm
190.) bà Hoàng Thị Loan làm bệnh nặng. Tuy được bà con xung quanh giúp đỡ,
lìliiữg chỉ dược phần nào cơm cháo. Sữa không đủ phải cho con đi bú nhờ. Trong
ìioùr cánh dó, cậu Cung phải gồng mình lo loan, k ể cà việc cháo ăn cho mẹ, sữa bú
cho 'Dì. Bà Loan daii CỈỚIÌ, kinh hoàng khi cảm thấy cái chết đang đến gần với mình.
Càn' lìgìũ lòng bà càng daii thát lại, nước mắt chảy ròng khi nhìn thấy con mới sinh
gào khóc thiếu sữa. Bà lụi dần trong nỗi túi tê vì cơn đau bài căn bệnh hiểm nghèo.
Tluì' mẹ mê man bất tinh, em iịùo khóc, cậu Cung vội chạy đi chạy vê kêu bà con
xóm làng giúp đỡ. Động lòng thương xót, nhiều nguời đ ã hết ìòng giúp đ ỡ mẹ con
bù. Nhiều thầy thuốc trong vùng đ ỡ dược hà con mời đến tự nguyện chữa chạy,
ììỉiing bệnh quá nặng, bà Loan dỡ qua đời. Chẳng bao lâu sau, bé Xin quá yếu cũng
tlìec mẹ. Mới II tuổi, Nguyễn Sinh Cung đã chịu nỗi đau mất mẹ và em. Ngôi nhà
Iiịỉậ? trong lang thương. Hương trầm, hương thẻ cùng với những bó hoa Huệ trắng
toả 'iương trầm lắng dược bà con đưa tới phúng viếng thờ bà Loan, ở Huế, thời ấy,
clo liậí lệ khắc nghiệt của triều dinh, đám tang của dán thường không dược đưa qua
cúccổiig thùnh chính, và dặc biệt vào những ngày giáp Tết không được khóc, nên thi
hùi bù Loan được bà con lối p lìố lặng lẽ đưa xuống thuyền qua cống Thanh Long,
the( sông Đông Ba, ra sông Hương, rồi ngược dòng sông Hương về sông An Cựu.
Tieo lòi kế' của người nhà ông Nguyễn Sĩ Khuyến, có một hôm ông N guyễn Sinh sắc đi vắng,
N gu 'ễn Sinh Cung cất sách đi chơi. Bạn bè nhắc Cung học bài thì N guyễn Sinh Cung đã đọc thuộc
lòngm ột mạch 7 trang sách cho các bạn nghe. Ngoài ra cậu còn sáng luận ngữ mỗi ngày học 4 tờ, mỗi
tò II dòng, mỗi dòng 10 chữ chỉ đọc v à i lần người đã hiểu nghĩa. Là một cậu bé hiếu động, chẳng mây
khi íhỊu ngồi yên.
Đến gân ngã ha Giàug Xay thi lìái bà dược gánh bộ theo đường N gự Bình vù phần
Dìộ hù dược dặt trên llìềm cao của ngọn núi Tam Tầng, thuộc dãy Ngự Bình, mặt
liền iiịỊoảnh vé' cỉỉiili núi Bán, nơi 113 năm trước đó Vua Quang Trung dã làm lẽ tế
trời, lên Iigỏi ỉỉoàng dế, lãnh trách nhiệm trước quốc dân, tiến ra Bắc quét sạch
qiiàii xâm lược Thanh.
Được tin vợ qua đời, ông Nguyễn Sinh sắc vội trở lại Huế, đưa con về quê. Sau
khi thu xếp cuộc sống cho các con, được sự động viên của bà con trong họ nooài làn»
ông Nguyễn Sinh sắc lại vào Huế dự kỳ thi hội năm Tân Sửu. Lần này đi thi ông
mang tên mới là Nguyền Sinh Huy. Tháng 5-1901, ông Nguyễn Sinh Huy đậu Phó
bang khoa thi Ilội Tân Sửu. Khoảng tháng 9-1901, Nguyễn Sinh Cung cùng gia đình
chuyổn về sống ở quê nội. ông Nguyễn Sinh Huy làm lễ vào làng cho hai con trai với
tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).
cảnh sòng Lam - núi Hồng của Nghệ An
Tại quê nhà, Nguyễn Tất Thành được gửi đến học chữ Hán với các thầy giáo
Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần Thán. Các thầy đều là
nhĩiĩi" người yêu nước. Nguycn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi bàii
luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước. Nguyễn Tất Thành dần dần hiểu
được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan. Trong
những người mà ông sắc thường gặp gỡ có ông Phan Bội Châu. Giống như nhiều nhà
nho ycu nước lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng day dứt trước hiện tình đất nước và số
phận của dân lộc. Con người nhiệt huyết ấy trong lúc rượu say vẫn thường ngâm hai
câu ihơ của Viên Mai;
"Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn chương".
Nghĩa là:
"Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách,
Lập tlìân hèn nhất ấy (là) văn chương".
Câu ihơ đã tác động nhiều đên Nguyễn Tất Thành và góp phần định hướng cho
người thiếu niên sớm có hoài bão lớn. Càng đi vào cuộc sống của người dân địa
phương, Nguyễn Tất Thành càng thấm thìa thân phận cùng khổ của người dân mất
^Gg}Í3j
nước. Đó là nạn ihuố khoá nặng nề cùng với việc nhân dân bị bắt làm phu xây dựng
dường irong lính, làm đường lừ Cứa Rào, nơi rừng thiêng nước độc đi Xiêng Khoảng
(Lào), nhân dân lầm ihan, ai oán. than thở.
Nhà bên què nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà bên quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Níịiíyển Tất Tlìànli dược học chữ của thầy, nhưng diều quan trọng hơn, dỏ là học
lòni> vL nước lliiíơiiỵ dãn của íììầy Quỷ. Sống iroiiỊĩ sự dò la kiểm soát của bộ máy
tlìốiiịị trị từ lâiiii dểiỉ ííiilì, íìhưng thầy Quý khôììg hê ngấn ngại dạy cho học trò tư
íưài^ yêu nước thương (lân và chí làm trơi phái giúp ích cho dời. Thầy thường gửi
gắm tâm sự yêu nước và cám thù giặc vck) lìhữiìg hùi giáng cho học trò. Trên bàn thờ
____ ^SẼlíl)
phía trong lớp học thường có klìói hương, đèn nến thờ cụ Vương Thúc Mậu. Một lần
thắp (lùn, dầu sánh ra, íhầy nền ra cho học trò một v ế đối.
"Thắp đèn lên dầu vương ra đế".
Có học trò lớn tuổi đối một câu rất chỉnh:
"Đốt nhang rồi gió quạt bay tàn"
Trò Nguyễn Tất Thành xin dối:
"Cưỡi ngựa dong thẳng Tấn lên Đườiig".
Thầy khen củ hai câu, nhưiìg với câu sau, thầy cho rằng đối thoát hơn, nhiêu ỷ
hơn, không gò bó với ììghĩa đen của từíig từ trong v ế đối.
Vốn ham hiểu biết, Nguyễn Tất Tlĩàiih thường tìm đọc những cuốn sách mà các
bậc cha chú thường nhắc tới và luôn được phụ thân dẫn đi thăm các di tích lịch sử
vù các danh lam thắng cánh trong vùng. Ngoài việc học tập, Nguyễn Tất Thành
thường CÙIÌỊỊ bạn bè chơi các trò chơi của tuổi thiếu niên như đánh khăng, đánh trận
giả, cáu cú, bẫy chim, đánh vật, hoặc rủ nhau thăm các thắng cảnh, các dì tích văn
lìoá lịch sử trong vùng (núi Chung, đền Thánh Cả, chùa Đạt, đền Độc Lôi). Trong
dó, ììưi Nguyễn Tất Thành thường lui tới nhiều nhất là lò rền ông Điền và giếng Cốc
ở gần IIhù.
Cỏ lần NiỊiiyễn Tất Thành làm chung cùng các bạn trong làng một cái diều sáo.
Làm xong dem thả, diều không lên. sửa mấy cũng không được, các bợii nản chí bàn
phá đi lâm lại cái khác. Nguyễn Tất Thành không nghe theo các bạn mà tiếp tục sửa
chữa. Đến khi diều tung gió bay cao, các bạn hỏi về cách sửa chữa, Nguyễn Tất
Thành chỉ vẽ cho các bạn và báo: "Cứ kiên trì chịu khó là được".
Cũng một lần khác cùng các bạn câu cá ỏ cái ao gần nlĩà bà ngoại (làng Trừa),
khi một bạn giật mạnh cần câu, lưỡi câu sắc nlìọn, mắc vào tai Nguyễn Tất Thành,
máu ra nhiều cúc bạn lấ t lo sợ. Nhưng Nguyễn Tất Thành nén chịu đau, bình tĩnh
rút lưỡi câu ra, nhờ cúc bạn lấy "lá niệt" rửa sạch, đặt vào chỗ vết thương đê câm
máu, và dặn các bạn đừng nói cho bà ngoại biết kẻo bà lo. vết thương sau thành
sẹo, â ể d ấ u ấn ở tai Nguyễn Tất Thành.
Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành theo cha đến xã Võ Liệt, huyện Thanh
Chương, lỉnh Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Tại đây Nguyễn Tất Thành lại có dịp
nghe chuyện thời cuộc của các sĩ phu đến đàm đạo với cha mình. Cuối năm 1904,
Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, khi
ông Sắc đến đây dạy học. Ngoài thời gian học tập, Nguyễn Tất Thành thường theo cha
đốn các vùng trong tỉnh như làng Đông Thái, quê hương của Phan Đình Phùng, thăm
các di tích thành Lục Niên, miếu thờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, v.v... Tháng 71905, Nguyễn Tất Thành theo cha đến huyện Kiến Xương, Thái Bình, trong địp ông
Nguyễn Sinh sắc đi gặp các sĩ phu ở vùng đó. Khoảng tháng 9-1905, Nguyễn Tất
Thành và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị
(préparatoire) Trường tiểu học Pháp-bản xứ ở thành phố Vinh. Chính tại ngôi trường
____ lUísív--------------------
nàỵ, Nguyễn Tất Thành lần đầu liên được liếp xúc với khẩu hiệu T ự DO-BÌNH
ĐANG V á c Ái .
Sau nhiêu nãm lần ỉữa việc đi làm quan, cuối tháng 5-1906, ông Nguyễn Sinh
ỉỉity vào kinh đô Huế, nhậm chức. Nguyễn Tất Thành cùng đi theo cha và cùng với
anh í rai dược cha cho cíi học Trường tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên, lớp dự bị
(coiirs préparatoire, ílìáiìg 9-1906); ỉớp sơ đẳng ịcuors éìémetaire, tháng 9-1907).
Hai anh em Tất Tliàiili vẫn có ưit th ế về chữ Hán. Còn chữ Pháp thì d ĩ nhiên, họ khó
mù giỏi hơn các bạn con những ông quan to hay công chức của Pháp. Tuy thế, Tất
Thành vẫìì có lúc được thầy giáo khen. Một hôm, thầy giáo Thọ bảo cá lớp dịch câu
tiê)ìg Pháp. "O chút! o cìiut! o clìat! Voeỉei - vous manger le rat, monter sur la
poiitre". Tốt Tlìàiìlì đ ã sử diiiìg vốn dán ca của quê hương phườìig vải và dịch ngay
sang liếng Việt:
Con mòo! Con mèo! Con mèo!
Mày muốn chén chuột thì leo lên xà.
Càiiq học, Tất Thành càng chăm chỉ và càng tiến bộ. Ngoài việc học ở nhà
trường, Nguyễn Tất Thành còn nhờ người mượn sách ở Lẩu tàng thư (nơi hnt trữ sách
vù các loại vân thư của triều Nguyễn) về đọc. Nguyễn Tất Thành ham đọc sách, biết
íraiìlì llìiì íììời giờ nên kỳ nghỉ hè ìiùy anh dỡ dọc được nhiều loại sách quý. ở Huế, từ
vài năm nay xuất hiện nhiều sách báo Táu thư, Tán văn. Nhữìig loại sách báo đố bắt
nguồn từ phong trào Duy Tân theo xu hướng tư sản. Tiêu biểu cho xu hướng này ỏ
Tntiìg Hoa lù Khaug Hữu Vy, Lương Kììải Siêu. Chính Tán thư, Tân văn đ ã tác động
mạnh m ẽ đến nììiéii nhà chí s ĩ yêu nước Việt Nam. Khác hẳn các sách kinh điển Nho
giáo, câc loại sách mới lìờy chứa đựng nhiều kiến thức mới về khoa học tự nhiên và
klìoa học xã hội. NhiĩiìíỊ loại sách mới đó cồn giới thiệu với bạn đọc về' thân thế, sự
iiịỊliiêp vù tác plìẩm của nhrniịỊ nhà khai sáng Pháp ở th ế kỷ WIIỊ. Tất Thành cùng
cúc bạn lợi háo hức tìm dọc nlỉững loại sách của các nhà khai sáng Pháp như
Mỏììĩịtetxkiơ, Riiíxô, vỏiìte, v.v...
Năm học 1908-1909, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt chuyển sang học
Irường Quốc Học Huế. Trường Quốc học Huế được thành lập theo đạo dụ ngày
23 tháng 10 năm 1896 của vua Thành Thái, và nghị định ngày 18-11-1896 do toàn
quyền Đông Dương Rúlxô (A. Rousscau) ký. Trong nghị định này ghi rõ: Trường dựa
dưới quyền kiểm soát của Khâm sứ Trung Kỳ. Vào đầu năm 1908, ở Huế xảy ra một
sự kiện đáng ghi nhớ trong cuộc đời của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành. Tháng
4-1908, anh tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân tỉnh Thừa Thiên, khởi
đầu cho cuộc tranh đấu suốt đời Người vì quyền lợi của nhân đân lao động. Vì những
hoạt động yêu nước, tham gia cuộc đấu tranh của nông dân, Nguyễn Tất Thành bị
thực dán Pháp để ý theo dõi. ông Nguyễn Sinh Huy cũng bị chúng khiển trách vì đã
để cho con trai có những hoạt động bài Pháp. Tuy nhiên, tháng 8-1908, Nguyễn Tất
Thành, với lôn gọi Nguyễn Sinh Côn, vẫn được ông Hiệu trưởng Quốc học Sukê
(Chouquel) tiếp nhận vào học tại trường. Tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành vào lớp
trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen) tại Trường Quốc học Huế. Trong thời gian học tại
đây, Nguyễn Tâì Thành được tiếp xúc nhiều với sách báo Pháp. Các thầy giáo của
Trường Quốc học có cả người Pháp và người Việt Nam, cũng có những người yêu nước
như thầy Hoàng Thông, thầy Lê Văn Miến. Chính nhờ ảnh hưởng của các thầy giáo yêu
nước và sách báo tiên bộ mà anh được tiếp xúc, ý muốn đi sang phương Tây tìm hiểu
tình hình các nước và học hỏi những Ihành tựu của văn minh nhân loại từng bước lớn
dần trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành. Cùng thời gian đó, Nguyễn Tất Thành còn
được nghe kê' về những hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy
Tân và những bàn luận về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước.
Cụ Nguyễn Sinh sắc, ỉhân phụ của
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bà Nguyễn Thị Thanh, chị ruột của
Chủ tich HỐ Chí Minh
Cụ Hoàng Thị Loan, thân mẫu của
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Òng Nguyễn Sinh Khiêm, anh ruột của
Chủ tich Hồ Chí Minh
rSẼ}ílj
Trường Quốc học Huế, nơi Nguyễn Tâ't Thành từng học
Khoáng Iháng 6 nãm 1909, Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học Huế theo cha
vào Bình Định, khi ông được bố nhiệm chức Tri huyện Bình Khê. Trong thời gian ở
Bình Khê, Nguyỗn Tâì Thành Ihường được cha dẫn đi thăm các sĩ phu trong vùng và
Ihãm di tích lịch sử vùng Tây Sơn. Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha gửi đi
học liếp chương trình lóp cao đắng (lớp nhất) lại Trường tiểu học Pháp - Việt Quy
Nhơn (cours supérieur). Tháng 6-1910, Nguyễn Tất Thành hoàn thành chương trình
tiêu học. Sau khi nghe lin cha bị cách chức tri huyện Bình Khê, bị triệu hồi về Kinh,
anh không theo cha Irử vồ Huế mà quyết định đi tiếp xuống phía Nam. Trên đường từ
Quy Nhơn vào Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Phan Thiết, ở đây anh xin
vào làm trợ giáo (inonitcur), dạy môn thê dục, đồng thời phụ trách các hoạt động
ngoại khoá của trường Dục Thanh, mội trường tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội
và Nguyễn Quý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông, một nhân sĩ yêu nước) thành lập
năm 1907. Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ
sách của cụ Nguyỗn Thông đổ đọc. Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng
liến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rútxô (Rousaeau), Vônte (Voltair),
Mônatétxkiơ (Montesqieu). Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc anh
tìm đường đi ra nước ngoài. ilầni> /ìgày tiìầy Tlìủnli dành thời giờ đ ể đọc sách, chấm
hùi \ ù trò chuyện với các tììầy ẹiáo, học trò, cũiìg như bà COIÌ lao dộng xóm chài.
Buổi sáiìí>, tììây Tliàiìli dậy sớm, quét dọn nhà cửa, gánh nước, tưới cây với học trò.
Nliữiiíỉ htiôi lêii lớp, tìúìy Thành íỉiúní> hài rất kĩ. Gặp những chỗ khó, thây giảng đi,
giciìì'^ lại clìo học trò hiểu mới lììôi. Tlìầỵ Thành lá giáo viên đầu tiên dạy quốc ngữ ở
rĩẼ}ílj
Irườiìg Dục Thanh. Thây dạy lớp nhì và các lớp khác. Thầy không bao giờ dánìì mắng
học írò. Giờ nghỉ học, tháy ílìiữyiìg (lưa học trỏ đi chơi dọc bờ sông hay bờ biển.
N I u ĩiií ị
lúc di như vậy, tháy Thành thường giáng về địa lí và lịch sử đất nước cho học
trò ns>lie. Thầy cò/ì kểcìntyện Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung...
nít say sưa và lìấp dẫn.
Thầy là Iiqttòi kìiởì xướiìíị plioììg trào tập tìiể dục, tỉiể thao ở trường. Lúc âV,
Dục Thanh là trường duy nhất cố phong trào thể dục, th ể thao. Sáng súng, tiếng của
thầy Thành hô vang trêu sâu trườiìg. Thầy Thành chấm bài rất kĩ và phân minh.
Tliiíờiií' có kờni theo lời dặn dò chu dáo. Đối với nlìững học trò kém, ngoài giờ dạy ở
lớp, tlìầy CÒII ra bài cho làm thêm và thầy chấm đầy đủ. Vào những ngày chủ nhật,
Iìi>ày lể, ĩhầy úiCa học trò đi chơi ở động Thiềng Đức, đình làng Đức Nghĩa hoặc ra
hãi biển Thương Chánh, một bờ biển có nhiỂii ghềnh đá nổi giữa hai b ờ cát trắng,
nằm ở tà ìigạii sông Cà Ti. Tết trung thu năm Ỉ9Ỉ0, lúc mặt trăng đỏ, tròn và to như
cúi niâin vừci ló léII ở chân trời dằng Đông thì thầy Thành cùng học trò đón trưng
tìm hên <^hểnlì dâ sóng vỗ. Sau khi "phú cỏ", ăn bánh trung thu, ihầy Thành đ ã kể
iriiyền tììuyết chị Hằng - chú Cuội ngồi rồi giải thích theo khoa học về cấu tạo của
mặt írăiìg cho học trò nghe. Chuyện thầy kể d ễ hiểu và dí dỏm lìêii rất vui. Giọng
của thầy nhẹ nhàng, ấm áp, làm ai cũng nniốn nghe. Thầy Thành dạy ở đây không
lâu, lìhiciig d ã đ ể lại những ấn tượng và tình cảm sâu đậm trong học trỏ, thầy giáo
của trư
Ì
¥
Cuộc biểu tình chống thuế tại Huế
___
Trường Dục Thanh tại Phan Thiết, nơi Nguyễn Tâ't Thành từng dạy học
Tháng 2-1911, Nguyẻn Tất Thành rời Phan Thiết vào Sài Gòn. Anh ở tạm tại trụ
sở các chi nhánh cúa Liên Thành công ty đặt tại Sài Gòn, như nhà số 3, đường Tổng
đốc Phương (nay là số 5, đường Châu Văn Liêm); nhà số 128, Khánh Hội. ở Sài Gòn
một thừi gian ngắn, anh thường đi vào các xóm thợ nghèo, làm quen với những thanh
niên cùng lứa tuổi, ớ đâu anh cũng thấy nhân dân lao động bị đọa đày, khổ nhục.
Nguyẻn Tất Thành cũng hay dến những cửa hàng ở gần cảng Sài Gòn, nơi chuyên
nhận giặl là quần áo cho các ihúy thứ trên tàu Pháp, để tìm cách xin việc làm trên tàu,
thực hiện ước m{)f có nhũng chuyến đi xa. Năm ấy mới 21 tuổi, Nguyễn Tất Thành lấy
tên là Văn Ba. Mộl hỏm anh Ba dược mộí lìgười hạn dưa đi xem dền điện ở trước cửa
ỉiệiiì c\) phê của Pháp, xem chiếu bóng vù máy nước. Những cái đó írước kia anh chưa
hề íliáv. Rồi anh dược người hạn mời ăn kem. Anh rất lạ. Lầu đầu liên trong dời anh
mới hiêì niíii keni. Hai Uiịười hạn dắl nhau (li khắp thành phố, vá tất cả nhữììg cảnh
ỉiiỢĩìỌ, của tliủiìlì p h ố dầy rãy ìĩhữuịị hất câng ấy đập vào mắt họ. Đột lìlìiêii anh Ba
lìdì lìíitời hạn: "Aìiìi Lê, anh có yên Iiưâc không?". Người bạn ngạc nhiên và đáp:
"Tất hhiéiì là cỏ dìứ". Anh Ba hói tiếp: "Anh có thể giữ bí mật được không?", "Có",
" í ô i rniiốìi d i r a IIIIỚC lìg o à i, x e m n itớ c P h á p v ù c á c n ư ớ c k h á c . S a u k h i x e m x é t h ọ
làm Iirư th ế nào, tỏi s ẽ trỏ \'Ể iịiíỉp đổng hào nước ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra
cũììi> có CÍÌCII lììạo liiểiii, ví dụ như khi claii ốm... Áììli muốn đi với tôi không?'', "Nlìiúig
hdii
ƠI.
chúng ía Itíy dâu ra tiền mù di?'', "Đây, tiền đây", anh Ba vừa nói vừa giơ hai
hờn toy ra: "Cììúuiị ta s ẽ lùìu việc. Cliíiiií> ta s ẽ lùm bất cứ việc gì d ể sống và d ể đi.
Tliếai lì cùiìi> di vớ/ íỏi chứ'.''". Bị lỏi
C K ố ìì
vì lòng húng hái của Ba, người bạn dồng ý.
^}Í1 j
Nlìiniíỉ sau suy iii>lìT kĩ vê cuộc di có ve'phiêu ìưu, anh ...
hớchI mM
Hành trình
mùa xuân
79
( I 8 9 0 - I 9 6 9 )
DC.036090
'1-^ >
-ỉ
■)ì
Đ ỏ HOANG linh
(Sưu tám 8t biên soạn)
HỔCHlMINH
Ỉy,mu9jr-y-
U » ||» ■wiMik<
Hành trinh
m
■Aniira
ù n
x u â n
NHÀ XUẤT BẢN H Ó N G BÀNG
Q36D90
í':
c íI
„,S ă)®
ỄllẼS,-
LỜI GIỚI THIỆU
Đã có nhiều sách, báo viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hóa. Chưa thống kê đầy đủ, nhưng ước tính con số phải hàng ngàn,
đặc biệt kê' từ khi Người được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc
UNESCO thông qua nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh trên toàn thế giới vào
năm 1990.
Tầm ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lan tỏa và in dấu sâu đậm
trong các nhà hoạt động chính trị, xã hội và nhân dân lao động, trí thức quốc tế từ
nhũng năm đầu của ihế kỷ XX.
Việt Nam - Hồ Chí Minh đã thành biểu tượng không tách rời. Tư tưởng, đạo đức,
nhân cách, trước tác, sự nghiệp hoạt động của Người là tài sản vô cùng quý giá cho
dân tộc và thời dại.
Việc xuất bản lần thứ hai Hổ Chí Minh toàn tập gồm 12 tập trong hai năm 19951996 do Nhà xuất bán Chính trị Quốc gia ấn hành đánh dấu một chặng đường nghiên
cứu sưu tầm iư liệu vổ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các sự kiện lịch sử cách mạng có liên
quan. Bộ sách được thực hiện theo quyết định ngày 22 tháng 12 năm 1994 của Ban Bí
thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Đó là một công trình tư liệu - khoa học, gồm
những tác phẩm, bài nói, bài viết quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1919
dến 1969. 'l'ừ bấy dến nay, nhiồu tư liệu mới của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
dược lìm thấy, xác minh và công bố.
Nhiổu sách, báo, hiện vật và các cuộc hội thảo, kỷ niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh
khắp mọi nơi, kc cả ở nước ngoài xuất hiện.
Các cuốn sách dưới đây: Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (1890-1911);
Nịịười dì tìm lùnli của ììước (1911-1930); Đường về T ổ quốc (1930-1941); Nguyễn
Ái Q hốc - ỈIỒ Clìí Minh (1941-1945); Hổ Chí Minh 474 ngày độc lập (1945-1946);
Hồ Chí Miiilì 9 năm kháng chiến (1946-1954); Hồ Chí Minh - Hành trình 79 mùa xuân
do các tác giả Nguyễn Văn Dương và Đỗ Hoàng Linh sưu tầm, biên soạn theo lối biên
niên, thời gian khi Người sinh ra (1890), ra đi tìm đường cứu nước (1911) rồi trở về
tổ quốc (1941)...
Đó là một cách làm hay. Dạng sách thực lục này cung cấp cho độc giả hình dung
các hoạt động của nhân vật diễn ra theo năm tháng, thậm chí ngày giờ, địa điểm, nội
dung. Các tác giả biên soạn đã có công trong việc sưu tầm tư liệu và hồi ký của các
nhân vật khác từng gặp gỡ, cùng hoạt động với Bác Hồ và chứng kiến sự việc, tham
chiếu niên biểu sự kiện lịch sử... để phục dựng cuộc đời hoạt động thật phong phú của
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi vậy các cuốn sách kể trên không bị khỏ cứng trong sự kiện
mà có da thịt, hơi thở của cuộc sống; tầm vóc của danh nhân, vì vậy thật lớn lao mà
gần gũi, sống động và thuyết phục. Qua mỗi việc làm, tư tưởng của nhà ái quốc vĩ đại
thường được thể hiện bằng hành động và lời nói ngắn gọn dễ hiểu; “Một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu”; “Dân chủ là để dân được mở miệng”; “Cán bộ là đầy tớ của
nhân dân.. “Đảng không phải tổ chức để làm quan phát tài”...
Có thể dẫn ra rất nhiều và đa dạng các câu nói của Bác Hồ trong các cuộc gặp gỡ,
làm việc, tiếp xúc của Người với đồng sự, công chúng.
Nhưng trong sâu thẳm đều có chung một nguồn mạch:
Giọng của Người không phải sấm trên cao
Am từng tiếng thấm vào lòng mong ước.
(Tố Hữu)
Đọc các cuốn sách trên bạn sẽ kinh ngạc về tầm nhìn, bản lĩnh chính trị, sức làm
việc bền bỉ, lòng tận tụy, cách thức tổ chức, điều hành đoàn thể và nhà nước; sự am
tường các nền vãn hóa, lòng trắc ẩn và lối sống giản dị, phong thái ung dung, chủ
động trước mọi hoàn cảnh lúc thắng lợi hoặc trong lao tù, hay khi vận nước ngàn cân
treo sợi tóc... của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - vị lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là giếng trời. (Trần Văn Giàu). Hồ Chí Minh trước hết là một con
người, con người của lịch sử và làm nên lịch sử. Hồ Chí Minh: Giản dị, lão thực, là hình
ảnh của dân tộc (Phạm Văn Đổng). Hồ Chí Minh, tên Người là cả một niềm thơ (Nhà
thơ Cu Ba Pêtơ Rôđrighết).
Nhân kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 67 năm nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (1945) và hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Công ty cổ phần Gia Lai CTC, Nhà xuất bản
Hồng Bàng, Nhà sách Huy Hoàng phối hợp xuất bản các ấn phẩm trên là một hành
động thiết thực, có ý nghĩa “soi đường cho quốc dân đi” như có lần Người đã phát
biểu khi nói về văn hóa.
TRẦN ĐÌNH VIỆT
LỜI NÓI ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập, rền luyện Đảng Cộng
sản Việt Nam và khai sinh Nhà nước Việt Nam mới, người đ ã cống hiến trọn đời mình
cho sự nghiệp đấu tranh giùnh độc lập, tự do, cho hạnh phúc của nhăn dân. Cuộc đời
và sự nghiệp vinh quang của Người là ''một biểu tượng kiệt xuất vể quyết tâm của cả
một dân rộc", đ ã "góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì lioà bình,
dộc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội". Người đ ã được UNESCO tôn vinh là:
Anh hùng giải pli(5ng dân tộc, nhà văn lĩoá kiệt xuất của dân tộc Việt Nam.
Sự nghiệp, tư tưởng, đạo dửc của Chủ tịch Hồ Chí Minh v ĩ đại là tài sản tinh thần
vô giá của các th ế hệ người Việt Nam, luôn tỏa sáng soi đường cho cách mạng Việt
Nam tiến lên giành ììhững tlìắng lợi vẻ vang và đang vững bước trên con đường đổi
mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bâng, dân chủ, văn minh. Cuộc đời
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
về linh thần đoàn kết chiến đấu, tấm gươìig về đạo đức cách mạng: Trung với nước,
lìiếii với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần
quốc t ế trong sáng.
Từ ỉ rước đến nay đ ã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tlìân thế, sự nghiệp
cùa Clìủ tịch Hồ Chí Minh và qua mỗi lần xuất bản, "cuộc đời oanh liệt, đầy gian
khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp d ẽ của
Người cíược tái hiện với nhiều tư liệu mới, nhiều khám phá giá trị, giúp cho nhân
dâii lú và bạn bè quốc t ế hiểu íliêm vê' tư tưởng, lý luận, đạo đức, phong cách của
một lãnlì tụ "thểphách đ ã mất mà tinh anh muôn thủa vẫn còn”.
Nhân kỷ niệm 43 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và
cũng d ể thiết thực hưởiig ímg cuộc vận động của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Truìig
ương Đảng: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức H ồ Chí Minh đối với toàn Đảng,
toán dán, toàn quân ta, xin trân trọng giới thiệu cuốn H ồ C h í Minh - Hành trình
79 mùa xuân nhằm phục vụ nhu cáu nghiên cứu, học tập tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp
Chù tịch Hổ Chí Minh của đỏng đảo các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là khuyến khích
th ế hệ trẻ, nliữníỊ chú nhân tương lai của nước nhà, làm theo tấm gương Bác Hồ, có ý
chí vươn lên, klìát vọng cống hiến, làm chủ cuộc sống, trung với nước, hiếu với dân.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc.
TÁC GIẢ
lElíẼrsx
1890- 1911
Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời thơ ấu tên là Nguyễn Sinh Cung*'\ sinh ngày 19-5-1890,
tại quê ngoại là làng Hoàng Trù (còn gọi là làng Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An),
trong một gia đình nhà Nho, nguồn gốc nông dân.
Cha của Người là Nguyễn Sinh sắc (Nguyễn Sinh Huy), sinh năm 1862, mất năm
1929, quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen) cùng thuộc xã Chung Cự, nay là
xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. ông Nguyễn Sinh sắc xuất thân từ gia
đình nông dân, mồ côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó làm việc và ham học. Vì vậy,
ông được nhà Nho Hoàng Xuân Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về
nuôi. Là người ham học và thông minh, lại được nhà Nho Hoàng Xuân Đường hết
lòng chăm sóc, dạy dỗ, ông thi đỗ Phó bảng và sống bằng nghề dạy học. Đối với các
con, ông Sắc giáo dục ý thức lao động và học lập để hiểu "đạo lý làm người". Khi còn
trỏ, như nhiều người có chí đương thời, ông dùi mài kinh sử, quyết chí đi thi. Nhưng
càng học, càng hiểu đời, ông nhận thấy: "Quan trườrig thị nô lệ trung chi nô lệ, liựu
nô !ệ'\ nghĩa là "Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn".
Do đó, sau khi đỗ Phó bảng, bị triều đình phong kiến thúc ép nhiều lần, ông buộc phải
ra làm quan. Mẹ của Người là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868, mất năm 1901, là một
phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hâu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng
thương yêu và chăm lo cho chồng con. Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có
tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884, mất năm 1954. Anh của Người là
Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888, mất năm 1950.
Các anh chị của Người lớn lên đéu chịu ảnh hưởng của ông bà, cha mẹ, chăm làm việc
và rấl thương người, đều là những người yêu nước, đã tham gia phong trào yêu nước
và bị thực dân Pháp bắt bớ tù đày. Từ lúc ra đời đến tuổi lên 5, Nguyễn Sinh Cung
sống ở quê nhà trong sự chăm sóc, thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ, lớn lên
trong truyền thống tốt đẹp của quê hương, hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa
trong cuộc sống và bất khuất trước kẻ thù. Là một cậu bé ham hiểu biết, Nguyễn Sinh
Cung thích nghe chuyện và hay hỏi những điều mới lạ, từ các hiện tượng thiên nhiên
đến những chuyện cổ tích mà bà ngoại và mẹ thường kể.
Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng với gia đình chuyển vào Huế lần thứ nhất,
khi ông Nguyễn Sinh sắc vào Kinh thi Hội. Từ cuối năm 1895 đến đầu năm 1901,
Trong một bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1954, Người ghi tên còn nhỏ của mình là Nguyễn
Sinh Côn. (Bản chụp bút tích, lưu Kho Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh).
______
Ễkã3v—
Nguyễn Sinh Cung sống cùng cha mẹ tại Huế, ở nhờ nhà một người quen ở trong
thành nội (nay là số nhà 112, đường Mai Thúc Loan). Đó là những năm tháng gia
đình ông Sắc sống trong cảnh gieo neo, thiếu thốn. Bà Hoàng Thị Loan làm nghề
dệt vải, còn ông sắc ngoài thời gian học, phải đi chép chữ thuê để kiếm sống, để
học và dự thi.
Có lần vua Thành Thái ngự du Xiiân. Cậu Cung nấp mình sau gốc cây, nhằm nhìn
írộm vua. Nhà vua chít khăn vàng ngồi chễm cliệ trên kiệu, trông như pho tượng. Dân
chúng di đường phải phủ phục xuống lạy vua liên hồi. Tối vê' cậu Cung đến bên khung
cửi, hoi mẹ:
- Vua cíaii chán sao phải khiêng, mẹ?
Nghe con hỏi đến vua, sợ con mắc tội "phạm thượng", bà Loan vội bảo:
- Chớ, chớ, đừng lìỏi rứa con. Làm vua ra đường luôn được ngồi kiệu.
Cung gật đầu cảm ơn mẹ, nhưng vẫn còn thắc mắc:
- Sao cha klìỏìiíỊ chít khăn vàng như vua cho đẹp, mẹ?
- Náy, con nlìớ nhé. Chi' có vua mới được chít khăn vàng.
Chưa tlìod mãn, Cung tiếp tục lìỏi:
- Ngoài dường, sao con lại thấy lính cũng chít khăn vàng dưới chán. Thế, lìọ
không sợ vua hả, mẹ?
Đến lúc này, bù Loan hốt hoảng vội can ngăn con:
- Sao con lại ví như thế. Đừng hỏi, đừng hỏi, cấm kỵ đấy con ạ.
Mỗi lần ra phố, thấy có việc gì xảy ra, cậu Cung thường về hỏi mẹ tận tường ngọn
lìguổn. Nhiều lúc bù Loan cũng bí trả ỉời nlìữìig cáu hỏi của cậu. Bà mừng là các con
sớm mở rộng tầm hiểu biết nhanh chóng và luôn có ý thức nhận biết mọi điều. Nliiùig
bà cứ lo lắiig, sợ con mình ra ngoài xã hội, trong vòng cương toả của giáo lý phong
kiến, thực dân, mà sơ sảy nói ra hay tỏ ỷ phản kháng những điều cơm kỵ, thì khó mà
lường trước dược tai Ììoạ. Bù lại những khoáng trống trong ý thức muốn nhận biết xã
hội của các con, bù Loan c ố truyền thềm nhiều những câu chuyện c ổ tích Việt Nam,
ca dao, tục ngữ, lẩy Kiều hay diệu ví của quê nhà cho các con. Những vốn liếng văn
hoá dán gian của bà được tiếp nhận từ chiếc nôi của gia đình, quê hương nay rất có
ích, dược phát huy, truyền lại cho hai con trẻ, trong hoàn cảnh xa nhà. Âu cũng là
tiếng lòng da diết nhớ quê của bà. Vốn hiểu biết và tình cám với quê hương dòn lên
câu chuyện, câu hát cho con nghe bằng cả tấm lòng người mẹ, gieo vào lòng con tình
yêu quê hương, đất nước và đạo lý làm người vốn được kết tụ từ dưới ỉuỹ tre làng, cất
lên từ mái tranh nghèo.
Làm người cỉói sạch, rách thơm
Công danh phủ nhẹ, nước non phải đền
Gần cuối năm 1898, ông Nguyễn Sinh sắc về dạy học cho một số học sinh ở làng
Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế
___ —
6 km. Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha về đây và bắt đầu học chữ Hán tại lớp
học của cha.
Tuy mới 8 tiiôi nhưng Cimí> rất thông minh, nhanh nhẹn và có trí nhớ khác
tlìườìg. Các bài học Nguyễn Sinh Cung chỉ đọc ba bốn lần là thuộé'K Ngoài giở
học, Nguyễn Siiiìi Cung thường cùng trẻ em trong làng ra chơi ở đình làng Dương
Nổ \à xuống tắm ỏ bến sông Phổ Lợi chạy ven làng. Có ììhững lúc, cậu tới thôn
Phò Am, cách Dương N ỗ khôììg xa, vào chơi ở Am Bà, một ngôi miếu nhỏ trong
thôn Có ìần, cậu cùng bạn học dựng một màn trong vở tuồng "Tiết cương phá
thiết klìẩu plìần" của quan tìiượììg thư Đào Tấn. Các cậu bé lấy nhựa cây tươi dán
cúiìl. hoa dâm bụt vào má, trán, câm, hoá trang thành vai tướng mặt đỏ và lấy mực
nho vẽ mật vai mình dóng. Sau vỏ diễn, hai anh em bị ngứa, gãi sưng cả mặt. Bà
Loai bắt hai anh em nằm sấp trên giường, định giơ roi đánh thì cậu Cung nói:
"Mẹ d ã cho con chơi hoa dâm hụt và nói hoa này hiền như Bụt thì con mới dán lên
mặt, nào ngờ...” Bật cười, hà Loan bỏ roi xuống và dặn: "Hoa dâm bụt hiền nhưng
iiììựL cây tươi dữ lấm, các con nhớ chưa?".
-Uối năm 1900, ông Nguyễn Sinh sắc được cử đi coi thi ở trường thi hương
Tharh Hoá. ông đưa Nguyễn Sinh Khiêm đi cùng, còn Nguyễn Sinh Cung thì về
sống với mẹ trong nội thành Huế. Bà Loan sinh bé Xin trong hoàn cảnh khó khăn
túng ihiếu nên lâm bệnh: Ngày 22 tlìáng chạp năm Canh Tý (tức ngày 10-2 năm
190.) bà Hoàng Thị Loan làm bệnh nặng. Tuy được bà con xung quanh giúp đỡ,
lìliiữg chỉ dược phần nào cơm cháo. Sữa không đủ phải cho con đi bú nhờ. Trong
ìioùr cánh dó, cậu Cung phải gồng mình lo loan, k ể cà việc cháo ăn cho mẹ, sữa bú
cho 'Dì. Bà Loan daii CỈỚIÌ, kinh hoàng khi cảm thấy cái chết đang đến gần với mình.
Càn' lìgìũ lòng bà càng daii thát lại, nước mắt chảy ròng khi nhìn thấy con mới sinh
gào khóc thiếu sữa. Bà lụi dần trong nỗi túi tê vì cơn đau bài căn bệnh hiểm nghèo.
Tluì' mẹ mê man bất tinh, em iịùo khóc, cậu Cung vội chạy đi chạy vê kêu bà con
xóm làng giúp đỡ. Động lòng thương xót, nhiều nguời đ ã hết ìòng giúp đ ỡ mẹ con
bù. Nhiều thầy thuốc trong vùng đ ỡ dược hà con mời đến tự nguyện chữa chạy,
ììỉiing bệnh quá nặng, bà Loan dỡ qua đời. Chẳng bao lâu sau, bé Xin quá yếu cũng
tlìec mẹ. Mới II tuổi, Nguyễn Sinh Cung đã chịu nỗi đau mất mẹ và em. Ngôi nhà
Iiịỉậ? trong lang thương. Hương trầm, hương thẻ cùng với những bó hoa Huệ trắng
toả 'iương trầm lắng dược bà con đưa tới phúng viếng thờ bà Loan, ở Huế, thời ấy,
clo liậí lệ khắc nghiệt của triều dinh, đám tang của dán thường không dược đưa qua
cúccổiig thùnh chính, và dặc biệt vào những ngày giáp Tết không được khóc, nên thi
hùi bù Loan được bà con lối p lìố lặng lẽ đưa xuống thuyền qua cống Thanh Long,
the( sông Đông Ba, ra sông Hương, rồi ngược dòng sông Hương về sông An Cựu.
Tieo lòi kế' của người nhà ông Nguyễn Sĩ Khuyến, có một hôm ông N guyễn Sinh sắc đi vắng,
N gu 'ễn Sinh Cung cất sách đi chơi. Bạn bè nhắc Cung học bài thì N guyễn Sinh Cung đã đọc thuộc
lòngm ột mạch 7 trang sách cho các bạn nghe. Ngoài ra cậu còn sáng luận ngữ mỗi ngày học 4 tờ, mỗi
tò II dòng, mỗi dòng 10 chữ chỉ đọc v à i lần người đã hiểu nghĩa. Là một cậu bé hiếu động, chẳng mây
khi íhỊu ngồi yên.
Đến gân ngã ha Giàug Xay thi lìái bà dược gánh bộ theo đường N gự Bình vù phần
Dìộ hù dược dặt trên llìềm cao của ngọn núi Tam Tầng, thuộc dãy Ngự Bình, mặt
liền iiịỊoảnh vé' cỉỉiili núi Bán, nơi 113 năm trước đó Vua Quang Trung dã làm lẽ tế
trời, lên Iigỏi ỉỉoàng dế, lãnh trách nhiệm trước quốc dân, tiến ra Bắc quét sạch
qiiàii xâm lược Thanh.
Được tin vợ qua đời, ông Nguyễn Sinh sắc vội trở lại Huế, đưa con về quê. Sau
khi thu xếp cuộc sống cho các con, được sự động viên của bà con trong họ nooài làn»
ông Nguyễn Sinh sắc lại vào Huế dự kỳ thi hội năm Tân Sửu. Lần này đi thi ông
mang tên mới là Nguyền Sinh Huy. Tháng 5-1901, ông Nguyễn Sinh Huy đậu Phó
bang khoa thi Ilội Tân Sửu. Khoảng tháng 9-1901, Nguyễn Sinh Cung cùng gia đình
chuyổn về sống ở quê nội. ông Nguyễn Sinh Huy làm lễ vào làng cho hai con trai với
tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).
cảnh sòng Lam - núi Hồng của Nghệ An
Tại quê nhà, Nguyễn Tất Thành được gửi đến học chữ Hán với các thầy giáo
Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần Thán. Các thầy đều là
nhĩiĩi" người yêu nước. Nguycn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi bàii
luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước. Nguyễn Tất Thành dần dần hiểu
được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan. Trong
những người mà ông sắc thường gặp gỡ có ông Phan Bội Châu. Giống như nhiều nhà
nho ycu nước lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng day dứt trước hiện tình đất nước và số
phận của dân lộc. Con người nhiệt huyết ấy trong lúc rượu say vẫn thường ngâm hai
câu ihơ của Viên Mai;
"Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn chương".
Nghĩa là:
"Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách,
Lập tlìân hèn nhất ấy (là) văn chương".
Câu ihơ đã tác động nhiều đên Nguyễn Tất Thành và góp phần định hướng cho
người thiếu niên sớm có hoài bão lớn. Càng đi vào cuộc sống của người dân địa
phương, Nguyễn Tất Thành càng thấm thìa thân phận cùng khổ của người dân mất
^Gg}Í3j
nước. Đó là nạn ihuố khoá nặng nề cùng với việc nhân dân bị bắt làm phu xây dựng
dường irong lính, làm đường lừ Cứa Rào, nơi rừng thiêng nước độc đi Xiêng Khoảng
(Lào), nhân dân lầm ihan, ai oán. than thở.
Nhà bên què nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà bên quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Níịiíyển Tất Tlìànli dược học chữ của thầy, nhưng diều quan trọng hơn, dỏ là học
lòni> vL nước lliiíơiiỵ dãn của íììầy Quỷ. Sống iroiiỊĩ sự dò la kiểm soát của bộ máy
tlìốiiịị trị từ lâiiii dểiỉ ííiilì, íìhưng thầy Quý khôììg hê ngấn ngại dạy cho học trò tư
íưài^ yêu nước thương (lân và chí làm trơi phái giúp ích cho dời. Thầy thường gửi
gắm tâm sự yêu nước và cám thù giặc vck) lìhữiìg hùi giáng cho học trò. Trên bàn thờ
____ ^SẼlíl)
phía trong lớp học thường có klìói hương, đèn nến thờ cụ Vương Thúc Mậu. Một lần
thắp (lùn, dầu sánh ra, íhầy nền ra cho học trò một v ế đối.
"Thắp đèn lên dầu vương ra đế".
Có học trò lớn tuổi đối một câu rất chỉnh:
"Đốt nhang rồi gió quạt bay tàn"
Trò Nguyễn Tất Thành xin dối:
"Cưỡi ngựa dong thẳng Tấn lên Đườiig".
Thầy khen củ hai câu, nhưiìg với câu sau, thầy cho rằng đối thoát hơn, nhiêu ỷ
hơn, không gò bó với ììghĩa đen của từíig từ trong v ế đối.
Vốn ham hiểu biết, Nguyễn Tất Tlĩàiih thường tìm đọc những cuốn sách mà các
bậc cha chú thường nhắc tới và luôn được phụ thân dẫn đi thăm các di tích lịch sử
vù các danh lam thắng cánh trong vùng. Ngoài việc học tập, Nguyễn Tất Thành
thường CÙIÌỊỊ bạn bè chơi các trò chơi của tuổi thiếu niên như đánh khăng, đánh trận
giả, cáu cú, bẫy chim, đánh vật, hoặc rủ nhau thăm các thắng cảnh, các dì tích văn
lìoá lịch sử trong vùng (núi Chung, đền Thánh Cả, chùa Đạt, đền Độc Lôi). Trong
dó, ììưi Nguyễn Tất Thành thường lui tới nhiều nhất là lò rền ông Điền và giếng Cốc
ở gần IIhù.
Cỏ lần NiỊiiyễn Tất Thành làm chung cùng các bạn trong làng một cái diều sáo.
Làm xong dem thả, diều không lên. sửa mấy cũng không được, các bợii nản chí bàn
phá đi lâm lại cái khác. Nguyễn Tất Thành không nghe theo các bạn mà tiếp tục sửa
chữa. Đến khi diều tung gió bay cao, các bạn hỏi về cách sửa chữa, Nguyễn Tất
Thành chỉ vẽ cho các bạn và báo: "Cứ kiên trì chịu khó là được".
Cũng một lần khác cùng các bạn câu cá ỏ cái ao gần nlĩà bà ngoại (làng Trừa),
khi một bạn giật mạnh cần câu, lưỡi câu sắc nlìọn, mắc vào tai Nguyễn Tất Thành,
máu ra nhiều cúc bạn lấ t lo sợ. Nhưng Nguyễn Tất Thành nén chịu đau, bình tĩnh
rút lưỡi câu ra, nhờ cúc bạn lấy "lá niệt" rửa sạch, đặt vào chỗ vết thương đê câm
máu, và dặn các bạn đừng nói cho bà ngoại biết kẻo bà lo. vết thương sau thành
sẹo, â ể d ấ u ấn ở tai Nguyễn Tất Thành.
Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành theo cha đến xã Võ Liệt, huyện Thanh
Chương, lỉnh Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Tại đây Nguyễn Tất Thành lại có dịp
nghe chuyện thời cuộc của các sĩ phu đến đàm đạo với cha mình. Cuối năm 1904,
Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, khi
ông Sắc đến đây dạy học. Ngoài thời gian học tập, Nguyễn Tất Thành thường theo cha
đốn các vùng trong tỉnh như làng Đông Thái, quê hương của Phan Đình Phùng, thăm
các di tích thành Lục Niên, miếu thờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, v.v... Tháng 71905, Nguyễn Tất Thành theo cha đến huyện Kiến Xương, Thái Bình, trong địp ông
Nguyễn Sinh sắc đi gặp các sĩ phu ở vùng đó. Khoảng tháng 9-1905, Nguyễn Tất
Thành và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị
(préparatoire) Trường tiểu học Pháp-bản xứ ở thành phố Vinh. Chính tại ngôi trường
____ lUísív--------------------
nàỵ, Nguyễn Tất Thành lần đầu liên được liếp xúc với khẩu hiệu T ự DO-BÌNH
ĐANG V á c Ái .
Sau nhiêu nãm lần ỉữa việc đi làm quan, cuối tháng 5-1906, ông Nguyễn Sinh
ỉỉity vào kinh đô Huế, nhậm chức. Nguyễn Tất Thành cùng đi theo cha và cùng với
anh í rai dược cha cho cíi học Trường tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên, lớp dự bị
(coiirs préparatoire, ílìáiìg 9-1906); ỉớp sơ đẳng ịcuors éìémetaire, tháng 9-1907).
Hai anh em Tất Tliàiili vẫn có ưit th ế về chữ Hán. Còn chữ Pháp thì d ĩ nhiên, họ khó
mù giỏi hơn các bạn con những ông quan to hay công chức của Pháp. Tuy thế, Tất
Thành vẫìì có lúc được thầy giáo khen. Một hôm, thầy giáo Thọ bảo cá lớp dịch câu
tiê)ìg Pháp. "O chút! o cìiut! o clìat! Voeỉei - vous manger le rat, monter sur la
poiitre". Tốt Tlìàiìlì đ ã sử diiiìg vốn dán ca của quê hương phườìig vải và dịch ngay
sang liếng Việt:
Con mòo! Con mèo! Con mèo!
Mày muốn chén chuột thì leo lên xà.
Càiiq học, Tất Thành càng chăm chỉ và càng tiến bộ. Ngoài việc học ở nhà
trường, Nguyễn Tất Thành còn nhờ người mượn sách ở Lẩu tàng thư (nơi hnt trữ sách
vù các loại vân thư của triều Nguyễn) về đọc. Nguyễn Tất Thành ham đọc sách, biết
íraiìlì llìiì íììời giờ nên kỳ nghỉ hè ìiùy anh dỡ dọc được nhiều loại sách quý. ở Huế, từ
vài năm nay xuất hiện nhiều sách báo Táu thư, Tán văn. Nhữìig loại sách báo đố bắt
nguồn từ phong trào Duy Tân theo xu hướng tư sản. Tiêu biểu cho xu hướng này ỏ
Tntiìg Hoa lù Khaug Hữu Vy, Lương Kììải Siêu. Chính Tán thư, Tân văn đ ã tác động
mạnh m ẽ đến nììiéii nhà chí s ĩ yêu nước Việt Nam. Khác hẳn các sách kinh điển Nho
giáo, câc loại sách mới lìờy chứa đựng nhiều kiến thức mới về khoa học tự nhiên và
klìoa học xã hội. NhiĩiìíỊ loại sách mới đó cồn giới thiệu với bạn đọc về' thân thế, sự
iiịỊliiêp vù tác plìẩm của nhrniịỊ nhà khai sáng Pháp ở th ế kỷ WIIỊ. Tất Thành cùng
cúc bạn lợi háo hức tìm dọc nlỉững loại sách của các nhà khai sáng Pháp như
Mỏììĩịtetxkiơ, Riiíxô, vỏiìte, v.v...
Năm học 1908-1909, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt chuyển sang học
Irường Quốc Học Huế. Trường Quốc học Huế được thành lập theo đạo dụ ngày
23 tháng 10 năm 1896 của vua Thành Thái, và nghị định ngày 18-11-1896 do toàn
quyền Đông Dương Rúlxô (A. Rousscau) ký. Trong nghị định này ghi rõ: Trường dựa
dưới quyền kiểm soát của Khâm sứ Trung Kỳ. Vào đầu năm 1908, ở Huế xảy ra một
sự kiện đáng ghi nhớ trong cuộc đời của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành. Tháng
4-1908, anh tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân tỉnh Thừa Thiên, khởi
đầu cho cuộc tranh đấu suốt đời Người vì quyền lợi của nhân đân lao động. Vì những
hoạt động yêu nước, tham gia cuộc đấu tranh của nông dân, Nguyễn Tất Thành bị
thực dán Pháp để ý theo dõi. ông Nguyễn Sinh Huy cũng bị chúng khiển trách vì đã
để cho con trai có những hoạt động bài Pháp. Tuy nhiên, tháng 8-1908, Nguyễn Tất
Thành, với lôn gọi Nguyễn Sinh Côn, vẫn được ông Hiệu trưởng Quốc học Sukê
(Chouquel) tiếp nhận vào học tại trường. Tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành vào lớp
trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen) tại Trường Quốc học Huế. Trong thời gian học tại
đây, Nguyễn Tâì Thành được tiếp xúc nhiều với sách báo Pháp. Các thầy giáo của
Trường Quốc học có cả người Pháp và người Việt Nam, cũng có những người yêu nước
như thầy Hoàng Thông, thầy Lê Văn Miến. Chính nhờ ảnh hưởng của các thầy giáo yêu
nước và sách báo tiên bộ mà anh được tiếp xúc, ý muốn đi sang phương Tây tìm hiểu
tình hình các nước và học hỏi những Ihành tựu của văn minh nhân loại từng bước lớn
dần trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành. Cùng thời gian đó, Nguyễn Tất Thành còn
được nghe kê' về những hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy
Tân và những bàn luận về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước.
Cụ Nguyễn Sinh sắc, ỉhân phụ của
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bà Nguyễn Thị Thanh, chị ruột của
Chủ tich HỐ Chí Minh
Cụ Hoàng Thị Loan, thân mẫu của
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Òng Nguyễn Sinh Khiêm, anh ruột của
Chủ tich Hồ Chí Minh
rSẼ}ílj
Trường Quốc học Huế, nơi Nguyễn Tâ't Thành từng học
Khoáng Iháng 6 nãm 1909, Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học Huế theo cha
vào Bình Định, khi ông được bố nhiệm chức Tri huyện Bình Khê. Trong thời gian ở
Bình Khê, Nguyỗn Tâì Thành Ihường được cha dẫn đi thăm các sĩ phu trong vùng và
Ihãm di tích lịch sử vùng Tây Sơn. Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha gửi đi
học liếp chương trình lóp cao đắng (lớp nhất) lại Trường tiểu học Pháp - Việt Quy
Nhơn (cours supérieur). Tháng 6-1910, Nguyễn Tất Thành hoàn thành chương trình
tiêu học. Sau khi nghe lin cha bị cách chức tri huyện Bình Khê, bị triệu hồi về Kinh,
anh không theo cha Irử vồ Huế mà quyết định đi tiếp xuống phía Nam. Trên đường từ
Quy Nhơn vào Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Phan Thiết, ở đây anh xin
vào làm trợ giáo (inonitcur), dạy môn thê dục, đồng thời phụ trách các hoạt động
ngoại khoá của trường Dục Thanh, mội trường tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội
và Nguyễn Quý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông, một nhân sĩ yêu nước) thành lập
năm 1907. Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ
sách của cụ Nguyỗn Thông đổ đọc. Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng
liến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rútxô (Rousaeau), Vônte (Voltair),
Mônatétxkiơ (Montesqieu). Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc anh
tìm đường đi ra nước ngoài. ilầni> /ìgày tiìầy Tlìủnli dành thời giờ đ ể đọc sách, chấm
hùi \ ù trò chuyện với các tììầy ẹiáo, học trò, cũiìg như bà COIÌ lao dộng xóm chài.
Buổi sáiìí>, tììây Tliàiìli dậy sớm, quét dọn nhà cửa, gánh nước, tưới cây với học trò.
Nliữiiíỉ htiôi lêii lớp, tìúìy Thành íỉiúní> hài rất kĩ. Gặp những chỗ khó, thây giảng đi,
giciìì'^ lại clìo học trò hiểu mới lììôi. Tlìầỵ Thành lá giáo viên đầu tiên dạy quốc ngữ ở
rĩẼ}ílj
Irườiìg Dục Thanh. Thây dạy lớp nhì và các lớp khác. Thầy không bao giờ dánìì mắng
học írò. Giờ nghỉ học, tháy ílìiữyiìg (lưa học trỏ đi chơi dọc bờ sông hay bờ biển.
N I u ĩiií ị
lúc di như vậy, tháy Thành thường giáng về địa lí và lịch sử đất nước cho học
trò ns>lie. Thầy cò/ì kểcìntyện Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung...
nít say sưa và lìấp dẫn.
Thầy là Iiqttòi kìiởì xướiìíị plioììg trào tập tìiể dục, tỉiể thao ở trường. Lúc âV,
Dục Thanh là trường duy nhất cố phong trào thể dục, th ể thao. Sáng súng, tiếng của
thầy Thành hô vang trêu sâu trườiìg. Thầy Thành chấm bài rất kĩ và phân minh.
Tliiíờiií' có kờni theo lời dặn dò chu dáo. Đối với nlìững học trò kém, ngoài giờ dạy ở
lớp, tlìầy CÒII ra bài cho làm thêm và thầy chấm đầy đủ. Vào những ngày chủ nhật,
Iìi>ày lể, ĩhầy úiCa học trò đi chơi ở động Thiềng Đức, đình làng Đức Nghĩa hoặc ra
hãi biển Thương Chánh, một bờ biển có nhiỂii ghềnh đá nổi giữa hai b ờ cát trắng,
nằm ở tà ìigạii sông Cà Ti. Tết trung thu năm Ỉ9Ỉ0, lúc mặt trăng đỏ, tròn và to như
cúi niâin vừci ló léII ở chân trời dằng Đông thì thầy Thành cùng học trò đón trưng
tìm hên <^hểnlì dâ sóng vỗ. Sau khi "phú cỏ", ăn bánh trung thu, ihầy Thành đ ã kể
iriiyền tììuyết chị Hằng - chú Cuội ngồi rồi giải thích theo khoa học về cấu tạo của
mặt írăiìg cho học trò nghe. Chuyện thầy kể d ễ hiểu và dí dỏm lìêii rất vui. Giọng
của thầy nhẹ nhàng, ấm áp, làm ai cũng nniốn nghe. Thầy Thành dạy ở đây không
lâu, lìhiciig d ã đ ể lại những ấn tượng và tình cảm sâu đậm trong học trỏ, thầy giáo
của trư
Ì
¥
Cuộc biểu tình chống thuế tại Huế
___
Trường Dục Thanh tại Phan Thiết, nơi Nguyễn Tâ't Thành từng dạy học
Tháng 2-1911, Nguyẻn Tất Thành rời Phan Thiết vào Sài Gòn. Anh ở tạm tại trụ
sở các chi nhánh cúa Liên Thành công ty đặt tại Sài Gòn, như nhà số 3, đường Tổng
đốc Phương (nay là số 5, đường Châu Văn Liêm); nhà số 128, Khánh Hội. ở Sài Gòn
một thừi gian ngắn, anh thường đi vào các xóm thợ nghèo, làm quen với những thanh
niên cùng lứa tuổi, ớ đâu anh cũng thấy nhân dân lao động bị đọa đày, khổ nhục.
Nguyẻn Tất Thành cũng hay dến những cửa hàng ở gần cảng Sài Gòn, nơi chuyên
nhận giặl là quần áo cho các ihúy thứ trên tàu Pháp, để tìm cách xin việc làm trên tàu,
thực hiện ước m{)f có nhũng chuyến đi xa. Năm ấy mới 21 tuổi, Nguyễn Tất Thành lấy
tên là Văn Ba. Mộl hỏm anh Ba dược mộí lìgười hạn dưa đi xem dền điện ở trước cửa
ỉiệiiì c\) phê của Pháp, xem chiếu bóng vù máy nước. Những cái đó írước kia anh chưa
hề íliáv. Rồi anh dược người hạn mời ăn kem. Anh rất lạ. Lầu đầu liên trong dời anh
mới hiêì niíii keni. Hai Uiịười hạn dắl nhau (li khắp thành phố, vá tất cả nhữììg cảnh
ỉiiỢĩìỌ, của tliủiìlì p h ố dầy rãy ìĩhữuịị hất câng ấy đập vào mắt họ. Đột lìlìiêii anh Ba
lìdì lìíitời hạn: "Aìiìi Lê, anh có yên Iiưâc không?". Người bạn ngạc nhiên và đáp:
"Tất hhiéiì là cỏ dìứ". Anh Ba hói tiếp: "Anh có thể giữ bí mật được không?", "Có",
" í ô i rniiốìi d i r a IIIIỚC lìg o à i, x e m n itớ c P h á p v ù c á c n ư ớ c k h á c . S a u k h i x e m x é t h ọ
làm Iirư th ế nào, tỏi s ẽ trỏ \'Ể iịiíỉp đổng hào nước ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra
cũììi> có CÍÌCII lììạo liiểiii, ví dụ như khi claii ốm... Áììli muốn đi với tôi không?'', "Nlìiúig
hdii
ƠI.
chúng ía Itíy dâu ra tiền mù di?'', "Đây, tiền đây", anh Ba vừa nói vừa giơ hai
hờn toy ra: "Cììúuiị ta s ẽ lùìu việc. Cliíiiií> ta s ẽ lùm bất cứ việc gì d ể sống và d ể đi.
Tliếai lì cùiìi> di vớ/ íỏi chứ'.''". Bị lỏi
C K ố ìì
vì lòng húng hái của Ba, người bạn dồng ý.
^}Í1 j
Nlìiniíỉ sau suy iii>lìT kĩ vê cuộc di có ve'phiêu ìưu, anh ...
 





