TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Trang học liệu của nhà trường Trang học liệu trực tuyến của nhà trường được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy – học, tự học và đổi mới phương pháp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đây là nơi tập hợp, lưu trữ và chia sẻ các học liệu số như: bài giảng, giáo án, đề kiểm tra, phiếu học tập, video minh họa, tài liệu tham khảo… do giáo viên trong trường biên soạn và tuyển chọn. Thông qua trang học liệu, giáo viên thuận tiện trong việc trao đổi chuyên môn, sử dụng tài nguyên chung, đồng thời hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố kiến thức và học tập mọi lúc, mọi nơi. Trang học liệu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và hình thành thói quen tự học, học tập suốt đời cho học sinh.

    Ảnh ngẫu nhiên

    💕💕 Đọc sách là gieo hạt giống cho trí tuệ.” – Ngạn ngữ phương Tây💕hư viện tốt là nền móng của một nền giáo dục tốt.” – Khuyết danh💕

    Video sự tích cây nêu đất

    Ký ức chến trranh phần 2

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 16h:46' 18-04-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Ký Sự Chiến Tranh Phần 2
    Nhiều tác giả

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Table of Contents
    THÁNG BA Ở TÂY NGUYÊN
    BẮC HẢI VÂN XUÂN 1975
    KÝ SỰ MIỀN ĐẤT LỬA
    (1)
    (3)
    (4)
    (5)
    (6)
    (7)
    (8)
    (9)
    (10)
    11
    12
    (13)
    14
    15
    16
    17
    18
    19
    20
    21
    22


    THÁNG BA Ở TÂY NGUYÊN

    Chương I
    MỘT CÁCH NGHĨ CÒN RỤT RÈ TRƯỚC MỘT TÌNH THẾ ĐÃ BAO LA
    Bài viết đầu tiên của năm 1975 đáng nhẽ phải được bắt đầu từ đêm 29 tháng Ba. Suốt một
    đêm ấy tôi không ngủ, cứ đứng sững ở tầng lầu hai của khách sạn HB, nhìn xuống đại lộ Trần
    Hưng Đạo đếm từng đoàn xe từ phía bắc thành phố Huế ào ào chạy qua mặt đường ướt đẫm
    ánh điện, vượt cầu Tràng Tiền, trở ra quốc lộ 1, đổ xuôi xuống Đà Nẵng vừa được giải phóng
    trong ngày. Xe vận tải quân sự, xe ca chở khách thường chạy trên các đường hàng tỉnh của
    miền Bắc, xe bọc sắt, xe tăng, xe chuyên chở cầu phà, xe chở xăng dầu, xe kéo pháo, xe kéo tên
    lửa, xe con chở cán bộ chỉ huy và cơ quan của các bộ tư lệnh. Tiếng động cơ của hàng ngàn cỗ
    máy nổ, xích sắt lăn nghiến trên mặt đường, một đoạn hợp ca bay lơ lửng, tiếng người chỉ huy
    hướng chạy cho đoàn xe lảnh lói ở một góc phố. Cái vệt dài vừa ồn ào vừa lặng lẽ, đoạn sáng
    đoạn tối, chuyển động đều đặn và trật tự như mãi mãi, như vô tận. Cái dòng người và xe và
    súng đạn bắt đầu từ đâu, chỗ bắt đầu của nó là ở đâu, khối người và xe đầu tiên xuất phát từ
    địa điểm nào, gồm những đơn vị nào, đi trong thời gian nào, và đâu là đoạn cuối của nó, những
    đơn vị sau cùng của nó? Người đi đầu tiên và người đi sau cùng khoảng cách là bao lâu, đoạn
    dài là bao xa? Cứ cho là đơn vị đầu tiên xuất phát từ ngày mồng 1 Tết năm Ất Mão? Không
    đúng! Có những đơn vị đã hành quân từ trước Tết, ăn Tết dọc đường. Hãy tính xa hơn : Đơn vị
    đầu tiên đã lên đường vào mùa xuân năm Giáp Dần? Vẫn chưa đúng! Họ đã đi từ Tết năm
    trước. Họ đã ra đi từ Tết những năm trước nữa. Tôi được biết có những bạn bè trở lại chiến
    trường cũ từ năm 1960. Đã là mười lăm năm! Thật ra khoảng cách và dặm dài của cuộc hành
    quân này phải tính theo chục năm, tính theo thế hệ, phải nhìn vào những cột số của Lịch sử. Là
    tháng 9 năm 1945! Là tháng 12 năm 1944! Là tháng 2 năm 1930! Quãng giữa là những tháng
    ngày, những sự kiện, những nhân vật lừng lẫy, phi thường.
    Đứng phơi mặt ngoài trời cả đêm, đứng không đổi chỗ, ý nghĩ mờ mờ ảo ảo, vừa là chính
    mình, vừa là người khác, quen thuộc vô cùng mà cũng ngỡ ngàng vô cùng. Việc tin chắc trước
    sau rồi cũng phải xảy ra đúng như thế, mà lại chưa hẳn tin sao lại có thể xảy ra gọn ghẽ, lẹ làng
    đến thế. Biến động lịch sử là gì? Là như thế đó! Là khi những dấu hiệu đầu tiên của những
    tháng ngày vĩ đại đã xuất hiện thì ta vẫn còn phân vân tự hỏi : đó là loại hiện tượng gì? Là khi
    những sự việc xảy ra có vẻ giống như trước đây, như là sự lắp lại những cái trước đây, nhưng ý
    nghĩa của nó thật ra đã thuộc về một giai đoạn hoàn toàn mới, đòi hỏi phải có ngay những
    phản ứng mới, những hành động mới. Là khi đã được tắm mình trong biến động đó bỗng chốc
    ta chợt nhận ra, như lần đầu tiên, cái ý nghĩa then chốt những việc đang làm và cả những việc
    đã làm, là ta cũng sẽ nhận ra, như là lần đầu tiên, tầm vóc của chính ta và cái tập thể to lớn bao
    quanh ta. Là khi sự lớn lên của mỗi người gần như có phép mầu, tài giỏi hơn cả bao giờ, táo
    bạo hơn cả bao giờ, uốn lượn theo sóng gió của lịch sử một cách tài ba, quyết định trong phút
    chốc những việc vô cùng ghê gớm mà không hề có mảy may sai trật.
    *
    * *
    Đi theo bộ đội vào chiến dịch lần này không phải không nhận ra những dấu hiệu của một
    năm quan trọng, nhất là với tôi lúc ra đi đã quá muộn. Chúng tôi ra đi khi chúng ta đã có trọn
    vẹn ba tỉnh Tây Nguyên, đã tổ chức một cuộc bao vây truy kích tài tình nhất ở Cheo Reo, Củng
    Sơn, dọc con đường 7. Khi chúng ta đã giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị, đã vượt sông Mỹ Chánh

    và đang vây hãm Huế. Đã giải phóng Quảng Ngãi, giải phóng Tam Kỳ, dồn ép địch co rút về Đà
    Nẵng và khu vực xung quanh. Vẫn biết là đang đi vào một năm khác thường, nhưng vì sao lại có
    thể là trong năm nay, lại bắt đầu từ cái tháng Ba này thì chưa hiểu. Chưa thể hiểu do đâu sức
    kháng cự của địch lại đột nhiên quá yếu ớt, sự rút chạy của chúng quá hoảng hốt, quá hỗn loạn.
    Chúng ta đã gặp được may mắn chăng? Kẻ địch đã rơi trượt vào một sai lầm rất đỗi nghiêm
    trọng chăng? Hoặc giả một yếu tố nào đó rất kỳ lạ, rất khác thường, vượt khỏi dự tính đã xuất
    hiện? Nghĩ tới cái khác thường, bởi vì quân địch còn đông, vũ khí chưa thiếu, tuy đang gặp
    nhiều khó khăn rất nan giải, đâu đã đến nỗi tan vỡ quá dễ dàng. Chúng tháo chạy như có một
    cái đích để nhắm hẳn hoi. Chúng tháo chạy như muốn nhứ dử chúng ta bước sâu vào một cạm
    bẫy ác hiểm nào đó. Vì rằng suốt ba chục năm chiến đấu, có bao giờ được chứng kiến một kẻ
    địch tháo chạy dễ dàng. Vốn quen tính mỗi thước đất một vệt máu, nay lướt xe hàng trăm cây
    số mà máu đổ không nhiều nên không khỏi có chút ít ngờ vực. Xét cho cùng, thì sự rút chạy nào
    cũng đều do bị ép buộc, bị thúc bách. Rút chạy một bộ phận để cứu gỡ cái toàn thể. Phải có cái
    đã đổ vỡ và cái còn có thể vớt vát thì mới nghĩ ra cái kế rút chạy. Ấy là nói nếu như có một cái
    kế rút chạy thật. Không dưng ai muốn chạy. Không cảm thấy bị đe dọa, bị tiêu diệt, việc gì phải
    bày đặt ra cái trò rút chạy. Dầu là rút chạy trong chủ động, trong kế hoạch, trong trật tự và an
    ninh tuyệt đối thì vẫn cứ phải để lại cho đối phương một nửa những cái đã có. Nếu không để lại
    thì cũng phải hủy đi. Vẫn cứ là một sự mất mát nặng nề. Đằng này chúng không chỉ “để lại” hầu
    như trọn vẹn của cải mà còn cả những đội quân cũng gần như trọn vẹn. Mất của còn mong bù
    đắp lại được, mất đất còn mong đánh chiếm lại được, chứ đã để mất đi những đội quân vào
    hàng tinh nhuệ thì bù đắp bằng cách nào? Mà đã mất đi những đội quân thì chẳng thể có mưu
    đồ nào được thực hiện, nếu như bọn chúng còn nuôi dưỡng một mưu đồ. Vậy thì ta thắng là do
    bộ đội ta mạnh, mạnh về mọi mặt, mạnh hơn cả mọi năm; quân ngụy thua là do chúng yếu, yếu
    hơn ta nghĩ nhiều, yếu trong mọi mặt. Nhưng chúng ta đã mạnh lên như thế nào, mạnh bên
    trong gian nan, trong thiếu thốn, trong vô vàn khó khăn của một cuộc kháng chiến kéo dài?
    Chúng đã yếu đi như thế nào, yếu đi giữa những kho bom, kho đạn, những sân bay, những quân
    cảng, những xa lộ? Yếu đi giữa những hàng hóa, của cải do Mỹ trút vào để trang điểm cho một
    mặt hàng? Giữa những lon, ngù, mũ, gậy do Mỹ cấp phát để tô vẽ cho một thể chế?
    Đó là những bí mật mà lần đi này phải tìm ra những căn cứ xác thực để hiểu được đến cốt
    lõi. Một nhiệm vụ kể ra cũng là dễ dãi vì lời giải đâu có giấu kín. Dễ dãi nhưng không phải là ít
    hứng thú. Còn như bạn đọc lại không cảm thấy hứng thú thì hiển nhiên phần trách nhiệm phải
    thuộc về kẻ thuật chuyện rồi.
    *
    * *
    Ra khỏi vùng ngoại ô phía nam Hà Nội là đã nhận ra ngay cái cảnh tượng hội hè của chiến
    dịch sau chót. Còn nhớ một lần được đọc một câu thơ, đại ý : đi đánh Mỹ vui như đi trẩy hội.
    Cảm thấy ý thơ lãng mạn quá. Những năm đánh Mỹ là những năm cực nhọc, gian nan khôn xiết,
    tự hào hơn cả bao giờ, mà chịu đựng cũng vô cùng. Vẫn có tiếng cười, vẫn có tiếng hát, nhưng
    ngắm kỹ từng khuôn mặt không ai không có những nếp nhăn của ưu tư. Trung ương lo việc cả
    nước, cán bộ lo việc từng ngành, từng đơn vị từng địa phương. Trong mỗi gia đình cũng kẻ ở
    người đi sum họp chia phôi mấy bận, tháng này nhận được tin vui tháng sau đã phải nhận tin
    buồn, chăn chiếu, mùng màn mỗi người cầm đi một mảnh, bà nuôi cháu, chị địu em, hạt gạo
    cắn ba, hớp canh sẻ nửa, con mặc áo của bố, mẹ nhường quần cho con, nước mắt lúc vắng
    người, nụ cười lúc đông người, an ủi nhau, nâng dắt nhau năm này qua năm khác cho mãi tới
    mùa xuân của năm này. Mùa xuân năm 1975, chợt nhớ lại câu thơ ngày nọ, tưởng đâu như
    tiếng reo tự nhiên của lòng mình, chính mình đã từng viết nên câu thơ đó. Chiếc xe con của
    chúng tôi đã khôn ngoan vượt lách hai đoàn xe vận tải quân sự với hy vọng sẽ được chạy thênh
    thang trên đường 1. Nhưng sự khôn ngoan ấy đã lỗi thời! Vượt qua được đoàn xe này thì trước
    mặt đã là một đoàn xe khác, rồi một đoàn xe khác, lại một đoàn xe khác, xe chạy như vô tận, xe
    bịt bạt, đuôi bạt căng gió kêu như trống đập, xe cuốn bạt hai bên chật ních những khuôn mặt

    căng đỏ, tươi sáng, mũ mới, quần áo mới, súng đạn mới. Thị xã Vinh xanh lè những màu mũ,
    màu quần áo và ba lô của người ra đi. Rồi cũng vẫn là xe, là súng, là người. Xe con nối theo xe
    lớn, chen vào giữa đoàn xe lớn, chạy trước họ, rồi tụt sau họ. Người ngồi xe con nhìn lên người
    ngồi xe to, người ngồi xe to nhỏn nhoẻn cười, hỏi người ngồi ở xe con :
    - Các chú ơi, bây giờ mới được đi có muộn quá không?
    - Gặp nhau ở Đà Nẵng nhá!
    - Hẹn gặp ở dinh Độc lập!
    Xe vẫn chạy. Tiếng gọi hỏi bay lươn lướt bên tai của xe này, của xe kia. Dừng lại với nhau
    mươi lăm phút đợi phà, mùi quần áo mới, mùi da thịt trẻ bọc quanh nồng nàn, ngây ngất.
    - Em quê ở Hải Hưng à?
    - Bọn cháu đều ở Hà Bắc.
    - Các em sinh năm nào?
    - Cháu sinh năm 1956.
    - Cháu sinh năm 1957.
    Hưng Yên? Có Hải Hưng không? Đấy, đấy, bọn nó đều là dân Hải Hưng cả. Tiên Lữ? Chúng nó
    đi trước rồi? Khoái Châu, hả? Thanh niên phủ Khoái! Xin chào các đồng chí! Chúc các em lên
    đường may mắn, lập được nhiều công! Chúc đồng chí nhà báo lúc đi biết một, lúc về biết mười!
    Hẹn gặp! Lại gặp nhau trong đó nhé!
    Sáng sớm, ngồi trong xe bàn nhau sẽ ăn trưa ở Hà Tĩnh. Đến Hà Tĩnh còn sớm quá, lại hẹn
    đến Đồng Hới. Đã đến Đồng Hới tội gì dừng lại ăn cơm, qua Quán Hàu thôi, ở đó có phà, đợi
    hàng ngàn xe qua phà thì hết đêm chưa chắc đã sang được. Xe lại chạy, ăn lương khô, uống
    nước chè đặc cũng đã là sang lắm, ung dung lắm so với những lần đi chiến trường của những
    năm trước. Chạy đi thôi! Chạy nhanh lên! Chiếc xe con lao tuột xuống mố phà Quán Hàu thật
    ngổ ngáo, nhưng, ô kìa, đâu chỉ có một xe con mà đã vội lao lên phía trước. Đưa mắt nhìn ngang
    ngó dọc hàng trăm xe con đã sắp xếp thành hàng lối đợi lượt qua phà. Duy nhất có mỗi chiếc xe
    đến muộn lại định giở trò tranh chấp. Nhìn lại một lần nữa, hầu hết là người quen biết, là các
    cấp trên của mình ở các cơ quan bốn tổng cục của nhiều binh quân chủng. Đồng chí Hùng,
    nguyên là tham mưu phó một quân khu, vừa cười vừa gọi to, giọng khàn khàn : "Xe nhà báo còn
    chạy mãi đâu thế?". Cả mọi người đều nhìn bọn tôi mà tủm tỉm cười. Thế đấy! Mấy thằng nhà
    báo đến hay giở cái trò láu vặt. Đành vậy, đành phải phơi mặt ở mố phà này cả đêm nay thôi.
    ăn chiều nay ở đâu? Trưa mai ở đâu? Nhanh ra cũng phải trưa mai mới tới lượt sang phà. Phà
    đã quay sang. Các xe đến lượt được qua nổ máy. Các anh sướng nhá! Qua được đoạn sông này
    là cứ phóng thẳng đến tận bờ sông Thạch Hãn. Nghe nói công binh đã bắc được cầu phao ở đó
    rồi. Họ sẽ ăn bữa trưa mai trong thành cổ Quảng Trị. Có thể ăn bữa trưa ở bờ nam sông Mỹ
    Chánh. Trời ơi! Bao giờ đến lượt mình? Lại vẫn cái giọng khàn khàn quen thuộc từ đám người
    đứng lố nhố ở mố phà gọi với lên.
    - Xe mấy cậu nhà báo đâu?
    Tôi chạy vọt lại như tên bắn :
    - Có tôi!
    - Cho xe xuống đi?
    - Xe tôi hả? Xe tôi được xuống phà à?
    - Ưu tiên nhà báo!
    Lại thế nữa! Những người nhường bọn tôi đều đang cầm trong tay những nghị quyết,
    những phương án, những mệnh lệnh, tức là những thứ nóng cả. Còn bọn tôi, chậm vài ngày nào
    có sự tổn hại gì, thì bọn tôi chẳng đã bị chậm cả tháng đấy ư? Hết sức biết ơn các đồng chí.
    Thôi! Xuống đi! Con nhà lính mà ăn nói cũng màu mè. Lúc nào có sách thì nhớ gửi cho nhau!
    Lại con đường 1, lại xe và súng và người. Lại gọi nhau, hỏi nhau, đùa giỡn nhau trong giây phút
    xe nọ chạy bám lấy xe kia, rồi vượt qua, rồi lại bám đuổi một xe khác. Mặt người mờ đi trong
    đám bụi đã bắt đầu đỏ. Nắng tháng Ba vàng rực như mật phết, cái nắng hanh khô, nồng đượm,

    nói cho văn vẻ hơn sẽ là cái nắng ngọt ngào. Đi vào chiến trường giữa lúc các mặt trận ầm ầm
    tiếng súng tấn công, mà đi giữa ban ngày, mà hành quân nối xe nhau suốt một chặng đường
    dài năm trăm cây số, mà các bến bãi toàn là người, là xe, là xăng, là các thứ binh khí kỹ thuật. Đi
    đánh một triệu quân ngụy được coi là con ruột của Mỹ mà không thèm để ý đến người đẻ ra nó,
    đến ông chủ của nó. Thì người Mỹ cứ giả đò kinh ngạc, giả đò hỏi han, rồi tranh cãi, rồi hăm
    dọa, mặc! Việc mình mình cứ làm, không ai ngăn được, không kẻ nào dọa dẫm được. Chúng ta
    sẵn sàng đương đầu với mọi biến cố có thể xảy tới. Như mùa xuân năm 1968. Như mùa hè năm
    1972. Như những năm dài còn cả nửa triệu lính Mỹ ở đất liền, ở trên không, ở ngoài biển. Cái tư
    thế đĩnh đạc, thản nhiên của lần xuất quân năm nay đủ là một bằng chứng hiển nhiên của sự
    thách thức đó. Mà cũng chẳng phải chủ tâm thách thức một ai, việc của mình mà. Chẳng lẽ
    chúng ta lại không có quyền chăm lo công việc của chính chúng ta?

    Chương II
    VỐN LÀ NIỀM TIN CỦA CHÚNG TA NHƯNG ĐƯỢC DIỄN GIẢI QUA NHỮNG NHÂN VẬT
    RẤT BẤT NGỜ
    Trong ít ngày dừng chân tại Huế, tôi ở với đại đội 1 thuộc trung đoàn Phú Xuân, đóng quân
    ngay tại khách sạn HB. Bộ đội vào thành phố mỗi anh có một bộ quần áo, ba lô không, màn
    chăn không, mũ cũng không. Chỉ có súng đạn, có bạt võng, và một bộ quần áo mặc ngoài. Tất cả
    đã quăng lại dọc đường truy kích quân địch. Càng nhẹ càng tốt, chạy nhanh bao nhiêu đỡ tốn
    xương máu sau này bấy nhiêu, vừa chạy vừa gặm lương khô, hết lương khô thì uống nước suối
    mà đuổi giặc. Vừa chạy vừa đánh, vừa chạy vừa ngủ, định bụng vào Huế sẽ nghỉ ngơi, sẽ ngủ bù,
    sẽ làm vài bữa ăn thật thịnh soạn cho bõ những ngày cực nhọc, đói khát. Nay đã vào Huế vẫn
    chẳng một ai được ngủ một giấc cho thỏa mắt. Một đại đội phải gác hai cây cầu bắc qua sông
    Hương, gìn giữ an ninh hai đường phố, một cái chợ và trăm thứ việc giời ơi đất hỡi chẳng hiểu
    phải gọi là những việc gì. Vào thành phố, phơi mặt ngoài nắng ngoài mưa mười mấy tiếng
    đồng hồ mỗi ngày, mặt anh nào cũng hốc đi, da đen cháy, tròng con mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ.
    Và mệt quá, nhưng không thể nghỉ được, không thể ngủ được, đành vươn vai ra mà gánh lấy
    bao nhiêu thứ việc không tên của một vùng đông dân cư vừa được giải phóng.
    Cạnh nhà đại đội tôi ở có ngôi nhà nhỏ một tầng, mặt tiền là cửa hàng hẳn hoi nhưng không
    thấy buôn bán gì, lại dường như không được tu sửa từ lâu nên coi cũ nát quá. Chiều ngày mồng
    3 tháng Tư, trước nhà lại treo một tấm biển, viết chữ to: Nhà chiếm ngụ trái phép đã được ủy
    ban quân quản hoàn trả cho chủ cũ. Một ông già khoảng trên dưới sáu chục tuổi, dáng vẻ như
    công chức, đứng ở thềm nhà nhìn tôi cúi đầu chào. Tôi chào lại, tiện dịp hỏi luôn : "Sao lại có
    tấm biển này, hả ông?". Ông chủ nhà tươi cười : "Xin mời ông vào chơi, câu chuyện cũng dài".
    Nhà hẹp và nông, nền nhà nửa gạch nửa đất, các ngăn kệ bày hàng cũ mọt, trống trơn. Một gian
    nhà trống rỗng, hôi hám, đến ấm tách mời khách chắc cũng là của nhặt nhạnh nhưng lại có một
    bộ ghế tựa bọc lụa vàng hết sức sang trọng. Ông mời tôi một chén nước trà vừa loãng vừa
    nguội, hút thuốc của tôi, tự giới thiệu tên là Hợp, một thương gia ở Sài Gòn.
    - Cái nhà này vốn là của tôi - ông Hợp kể - Cách đây đã mươi năm tôi cho một người trong
    họ thuê, vì vợ tôi là người Huế. Sau người ấy dọn đi nhượng lại cho một gia đình quen biết, tất
    nhiên có sự đồng ý của tôi. Gia đình này có người con làm cảnh sát, đại úy chi trưởng cảnh sát
    quận. Họ hỏi mua, tôi không bán, vì đã có ý định nay mai xây cất thêm mở cửa hàng bán tơ lụa.
    Rồi tôi đòi lại, nhưng họ không trả. Mình có nhà nhưng họ có thế. Cái thế ông quận trưởng cảnh
    sát ở một thị xã như đây là lớn lắm, tỉnh trưởng cũng phải nể. Bên đòi, bên giữ. Cái nhà ngày
    một hư nát, đành phải chịu, chứ biết tính sao?. Tết ra, vợ chồng bàn nhau thu xếp hàng họ ở Sài

    Gòn ra Huế một chuyến, đến cửa nào thì đến, không tiếc tiền, cốt làm cho ra nhẽ, rồi có chịu
    mất cũng không ân hận. Vậy mà mất thật ông ạ. Tốn kém gần nửa triệu mà nhà vẫn mất. Thì
    vẫn là nhà của mình, nhưng mình không có quyền đòi. Hoặc là bán rẻ, hoặc chịu mất không.
    Tùy mình chọn.
    Tôi cười, nói đỡ lời :
    - Còn đang dang dở thì cách mạng đến, phải không ông?
    Ông Hợp cũng cười :
    - Đúng thế, cách mạng đến thế là tôi đòi ngay được nhà. Đưa đơn hôm mồng 2 tháng Tư, thì
    mồng 3 ban nhà đất cho gọi lên xem xét giấy tờ, rồi cấp giấy hoàn lại nhà cho chủ cũ. Một đằng
    chạy vạy mất năm năm, chi tiêu cả triệu bạc mà chịu mất nhà. Một đằng đi lại có hai lần, tốn
    kém có mỗi tờ giấy viết đơn, lập tức ngọc về chủ cũ.
    Tôi nói đùa :
    - Được cái xác nhà ngoài này lại mắc đám hàng họ trong kia, vẫn cứ là thiệt.
    Ông Hợp cãi ngay :
    - Mất thế nào? Chỉ tháng sau là tôi có cả trong ấy lẫn ngoài này.
    - Ông đoán chắc như thế ?
    Ông nhìn tôi, cười tủm tỉm :
    - Tôi tin chắc chứ. Vì tôi đã có đầy đủ chứng cớ để tin. Châm một điếu thuốc (vẫn là thuốc
    của tôi vì ông chỉ còn đủ tiền ăn chứ không có tiền mua thuốc), ông Hợp nói tiếp :
    - Với ông tôi chẳng dám giấu. Tôi là một thương gia có hạng ở trong ấy, tiếp xúc nhiều với
    các giới trong chánh phủ, trong quân đội nên tôi biết rõ họ. Vì biết họ nên tôi dám tin rằng chỉ
    nội tháng sau tôi sẽ trở lại Sài Gòn với tư cách là người được giải phóng đầu tiên của giới
    thương gia.
    Nói cho đúng, tôi chưa thể tin hẳn những lời lẽ quá thuận của vị đại diện tình cờ cho giới
    thương mại. Tôi vốn hay nghi ngờ những thay đổi quá dễ dãi. Tuy nhiên, ông ta cũng không có
    ý tâng bốc cách mạng, về phe với cách mạng bằng một tâm sự dối trá. Về sau, khi đã biết nhau
    hơn, ông còn thú nhận với tôi là đã trốn chạy trong ngày 21 nhưng không thoát. Hai vợ chồng,
    một đứa con mất bốn chục ngàn tiền vé chặng bay Huế - Đà Nẵng. Máy bay sắp cất cánh thì đạn
    pháo của giải phóng nổ ầm ầm khắp phi trường. Sân bay Phú Bài phải đóng cửa, hẹn hành
    khách đến ngày hôm sau. Sáng hôm sau hốt hoảng kéo nhau đến thì máy bay cùng toàn bộ
    hành lý đã biến mất tự khi nào. Tiền hết, quần áo thay cũng không có, đành là tay trắng trở lại
    Huế.
    - Tôi không đón chờ cách mạng - ông Hợp nói - nhưng tôi cũng không sợ hãi cách mạng.
    Phải là phản động hoặc rất ngu dốt mới sợ các ông. Tôi chỉ không thích các ông thôi, nếu ông
    cho phép tôi được nói thật như thế. Tại sao không thích? Vì cách mạng là sự hợp lý. Đất nước
    này muốn phát triển cho hợp lý thì phải mở mang nghề nông, mở mang công nghệ, tự lập tự
    cường. Nếu có buôn bán cũng là làm lợi cho sản xuất, cho dân sinh. Canh nông thì tôi không
    thích, đã quen ở tỉnh thành rồi. Công nghệ càng không biết gì. Chỉ biết có mỗi nghề buôn. Mà
    nghề buôn trong này phải lấy gian manh làm thủ đoạn chính mới mong có lãi. Vả lại, chúng tôi
    còn là nhóm thương gia nhập khẩu vải sợi. Nhập khẩu tất phải dựa vào tiền của Mỹ. Trong tài
    khoản viện trợ của Mỹ hàng năm ở miền Nam có một ngân khoản dành cho hối xuất để nhập
    hàng hóa và máy móc nước ngoài. Số tiền đó do Bộ kinh tế đem chia cho các tổ hợp nhập khẩu.
    Muốn được đăng ký nhập khẩu đương nhiên phải có một số vốn nào đó, phải chịu những thủ
    tục nào đó. Nghĩa là phải có thế lực và kim ngân. Trước hết là kim ngân. Có kim ngân sẽ tìm ra
    thế lực. Tiếng là buôn vải sợi nhưng thật tình chỉ biết có mặt hàng trên bảng mẫu. Hàng vừa
    cập bến, tôi đã có mối bán rồi. Thậm chí tàu còn đang lênh đênh giữa biển mà hàng đã bán. Một
    chuyến hàng tính ra đã trả lãi cho nhà băng rồi, đã trả thuế nhập khẩu rồi, đã chi hàng trăm
    khoản lặt vặt khác vẫn cứ thu lợi bạc triệu. Tiền kiếm quá dễ. Nhưng đó là đồng tiền của gian
    trá, của bao nhiêu mưu mô lập cánh kéo phe, tôi xin thú thực với ông như thế. Đồng tiền ấy
    cách mạng không thể chấp nhận được, không có sự hợp lý nào có thể chấp nhận được khi cả

    nước đều đang vì chiến tranh mà khốn khó.
    Thốt ra được lời thú tội can đảm ấy khuôn mặt ông Hợp ửng đỏ lên, ánh mắt lấp lánh sau
    gương kính. Một ông già đến tinh khôn, đến lợi hại. Ông ta biết lên án mình, nhưng rồi vẫn cứ
    làm những công việc mà mình đã lên án.
    - Được gặp ông tuy tình cờ nhưng lại là sự giải thoát cần thiết đối với tôi. Không giải bày
    với ông, rồi tôi cũng phải tìm cách giải bày với một người nào khác, nhưng sẽ không phải là với
    chính quyền cách mạng. Tôi không muốn chính quyền mới hiểu nhẩm tôi, ở đời này thiếu gì kẻ
    xu thời.
    Tôi cười :
    - Thì giữa tôi với chính quyền cách mạng có gì là khác?
    - Ông ở đây rồi ông lại đi, ông không giúp được gì tôi, mà tôi cũng không nhờ cậy được gì
    nơi ông. Chúng ta nói chuyện với nhau bình đẳng và vô tư, không vấn vương một chút tư lợi
    nào. Như những người bạn (!). Vả lại bạn của tôi cũng không hiểu được tâm trạng của tôi trong
    những ngày này. Có thể họ còn ngờ vực hoặc chế giễu. Nhưng ông thì hiểu. Tôi tin là ông đã
    hiểu. Tôi xin nói tiếp : Năm nọ, nhân một chuyến đi Nhật để xem mặt hàng và ký hợp đồng,
    ngồi ăn trưa tại một quán cơm bình dân vùng ngoại ô Đông Kinh, có một ông già cứ nhìn tôi
    chằm chặp. Rồi ông hỏi tôi bằng tiếng Pháp :
    "Thưa ông, ông là người Việt Nam?
    "Vâng, tôi là người Việt Nam.
    "Ông ta lại hỏi tiếp :
    "- Ông ở Hà Nội?
    "Thế là tôi hiểu ngay, đành phải nói bừa :
    "- Tôi ở Bắc Việt Nam.
    "Tôi sinh trưởng ở vùng Bắc Ninh, kể ra cũng có quyền để trả lời như thế. Ông già liền kêu
    to :
    "- Thật may mắn cho tôi hết sức!
    "Rồi ông xin phép được ngồi cùng bàn với tôi, tự giới thiệu là hội viên của một tổ chức
    quyên góp thuốc men cứu trợ cho Bắc Việt Nam. Ông nhìn tôi như một thần tượng hằng tôn
    thờ, rồi bảo : "Các ông dám chịu nạn cho cả loài người được cứu vớt khỏi cảnh trầm luân. Cái
    phong độ ấy chỉ có thể ví với các bậc giáo chủ, những người đã tạo lập nên các đạo giáo lớn".
    "Ông già còn nói rất nhiều, vừa nói vừa khóc. Mà người Nhật thì tôi biết, họ giữ gìn lắm, kín
    đáo lắm. Nhưng tôi nào có nghe thấy gì. Chỉ xấu hổ. Xấu hổ và nhục nhã. Từ bữa ấy tuy là vẫn
    sống rất trưởng giả, nhưng đã không còn yên tâm như trước. Tâm trí luôn luôn bị ám ảnh :
    mình là kẻ có tội, mình đang sống giữa một đám người mắc tội. Có tội tất phải đền tội. Mình
    không có dịp được đền tội, thì con cháu mình sẽ phải đền tội thay cho ông cha nó. Xưa nay đã
    mấy ai thoát ra khỏi cái luật nhân quả. Hàng triệu người đã chết cho nền độc lập, không nhẽ
    những kẻ sống bất hợp pháp như chúng tôi lại không bị trừng phạt. Trước sau sẽ có ngày bị
    trừng phạt. Thế là sự trừng phạt cho tất cả đã đến, riêng với tôi thì nó đến sớm hơn, từ ba năm
    về trước, từ cái ngày tôi được gặp ông già người Nhật nọ. Nhân đây, tôi xin kể ông nghe một
    câu chuyện nhỏ, theo tôi nghĩ cũng là một dấu hiệu trong vô vàn dấu hiệu báo trước cái tình
    thế hôm nay. Bữa ấy là tối mồng 2 Tết năm Ất Mão, mấy anh em trong tổ hợp nhập khẩu kéo lại
    đằng nhà tôi uống rượu. Chúng tôi rất thích những buổi tối như thế. Một căn phòng thật yên
    tĩnh, mấy chai rượu thật ngon, một hộp xì gà hảo hạng. Có chuyện gì thì nói, không có gì để nói
    thì nín lặng, hoàn toàn tự do. Thường là vẫn có nhiều chuyện để nói, để chửi, những chuyện
    riêng của ông bà Thiệu, của ông bà Khiêm, của các ông tướng, các bà tướng. Gọi là bàn chuyện
    quốc gia cũng được, vì các nhân vật điểm đến đều là những bộ mặt tiêu biểu của chính trường.
    Gọi là nói chuyện áp phe cũng được vì không có một chính khách nào, một tướng lĩnh nào lại
    không dính đến một vụ áp-phe. Người ta thường đồn tướng Ngô Quang Trưởng tư lệnh quân
    khu 1 là thanh liêm nhất, vợ con không được dính líu đến việc quân cơ của chồng. Nhưng theo
    tôi biết, ông ta đang làm một vụ áp-phe kinh thiên động địa : thay Thiệu làm tổng thống trong

    những năm tới. Một vụ áp-phe cỡ quốc gia như vậy nếu không có Mỹ đỡ đầu làm gì nổi? Bỏ
    miếng bé, ăn miếng lớn thì đúng phải. Còn bảo là vì dân vì nước thì lại quá hoang đường. Chúng
    tôi chửi chúng nó theo kiểu dân chạy chửi lẫn nhau. Nó có thế lớn, lực trường nên chạy được
    mối to : như buôn nha phiến trắng chẳng hạn. Mình thế bé, lực đoản thì chạy mối nhỏ, nhưng
    không phải là ít lãi. Giữa lúc chửi bới cho hả, thì một anh bạn tôi lên tiếng : "Chửi Thiệu thì chửi
    nhưng còn nó mình mới được ngồi đây uống uýt-ky, hút xì gà. Chứ mai kia mấy ông Việt cộng
    nhào vô thì bọn mình chỉ đáng đem bắn bỏ". Bao nhiêu cái miệng đã định há ra lại vội vàng
    ngậm chặt. Mặt mũi anh nào cũng sượng sùng, cũng ngượng ngập. Đến nhìn mặt nhau cũng
    khó. Cùng phường cùng cánh cả. Cùng là những kẻ có tội cả. Mình chửi nó tức tự chửi mình.
    Chẳng có trò đểu nào của nó mà mình không từng nhúng tay. Nó làm lớn nên tăm tiếng rộng,
    mình làm nhỏ nên chỉ có mấy thằng biết với nhau thôi. Mình tuyên án nó với bao nhiêu lý lẽ
    đanh thép, nhưng nghĩ lại, mình đâu có đứng ngoài. Chưa bao giờ chúng tôi cảm thấy thấm thía
    sự tự kết án như cái tối hôm đó. Một xã hội mà một nửa số thành viên, ấy là tôi muốn tìm một
    tỷ lệ lạc quan, đều mặc cảm có ít nhiều phạm tội, đều có thể tự kết án, một xã hội như thế thì
    tồn tại sao được. Nó chưa sụp đổ năm 1968, năm 1972 vì đang còn một lực lượng ngoại lai ra
    sức chống chọi. Năm nay, cái trụ chống ấy không còn nữa thì tất cả sẽ tan tành, chỉ sớm tối là
    tan tành.
    *
    * *
    Trong mấy ngày sau cùng ở lại Huế, tôi có được cái may mắn chứng kiến một vụ đánh cá
    giữa mấy người bạn. Việc đem ra cá nhau đã khác thường : vào tháng nào thì Quân giải phóng
    sẽ lấy xong Sài Gòn? Những người tham gia còn khác thường hơn : Một nhà buôn đồ sứ Đà Lạt,
    một cựu giáo sư dạy Pháp văn theo đạo Thiên chúa, và một thượng tọa con cháu của đức Thích
    Ca. Thật ra sự tính toán của họ chẳng trái ngược nhau là mấy : Cách mạng sẽ vào Sài Gòn trong
    tháng Năm hoặc thượng tuần tháng Sáu. Chỉ còn khác nhau : sẽ lấy Sài Gòn bằng hiệp thương
    hay bằng vũ lực. Khi ta đã chiếm Phan Rang, Phan Thiết thì ngay sự khác nhau chút ít ấy cũng
    không còn. Cả ba người đều nhận định : Quân giải phóng nhất định sẽ tiến thẳng vào Sài Gòn.
    Đầu hàng sớm thì đổ máu ít, đầu hàng muộn thì đổ máu nhiều. Chỉ còn thế. Họ bảo tôi : Cá
    nhau là khi bài toán còn chưa có lời giải. Nay lời giải đã rõ thì còn cá cuộc gì. Cả ba chúng tôi sẽ
    được cả. Nhân vật chính của nhóm ba người là ông Kim, trạc tuổi tôi, bốn mươi lăm hoặc bốn
    mươi sáu, nhưng còn trẻ lắm, ham hiểu biết, khá nhạy bén với những thay đổi của thời cuộc.
    Nhà buôn này đã từng cầm súng đánh Pháp trong mấy năm đầu, còn về sau... "Về sau thì như
    “vu” (1) biết đấy, “moa” (2) yếu hèn, “moa” thối chí nên bây giờ mới phải cúi mặt khi nhìn lại
    đồng đội năm xưa" (những lúc thân tình nhất, Kim thường xưng hô là “vu” và “moa”. Thoạt
    nghe thì ngượng, nhưng dần dần cũng quen đi).
    - Anh chỉ cần nhận là đã yếu hèn, tức thì mọi tội lỗi coi như được xóa sạch?
    Tất nhiên anh có quyền nghi ngờ, nhưng tôi đã ăn năn bằng sinh mạng của chính tôi, chứ
    không chỉ bằng một lời nói đẹp. Nói cho thật, sự ăn năn của tôi chỉ mới có từ mùa xuân năm
    1968. Đường Phan Bội Châu hiện nay là mới xây cất lại chứ đường phố cũ đã bị bọn Mỹ và các
    trận cận chiến phá hủy sạch trơn rồi. Trận đánh đã sang ngày thứ ba tôi vẫn còn ở lại Huế. Vợ
    con về quê từ chiều mồng 2 Tết, riêng tôi ở lại đợi thu xếp xong hàng họ rồi cũng về theo. Sáng
    hôm đó, tôi còn nhớ là sáng ngày mồng 4, vừa ra mở cửa sau, tức là cái cửa ăn sang đường
    Phan Bội Châu - Bờ Hồ, chợt thấy một hình người nằm gọn một góc cái bậc hè xây cao của nhà
    trước mặt. Anh ta vận áo cánh đen, quần cộc đen, ôm trong lòng khẩu B.40 mà ngủ. Mà như còn
    nhỏ tuổi lắm, mà gầy yếu quá, xanh tái quá. Anh Việt cộng! Anh Bộ đội! Anh Vệ quốc! Đoàn vệ
    quốc quân một lần ra đi... nghĩ rằng đã trốn được quá khứ, ai dè, vâng, ai dè... Tôi nhìn trước
    nhìn sau rồi chạy vọt qua, khẽ lay gọi anh. Anh tỉnh ngủ rất nhanh, ngồi bật ngay dậy, nhìn tôi
    trừng trừng, hỏi :
    "Ông là ai?

    "Nhà tôi ở ngay đây, mời anh qua nhà tôi mà nghỉ.
    "Anh trù trừ một thoáng, rồi đứng dậy xách súng, bước theo. Tôi nấu vội hai túi mì, múc
    cho anh một chén, tôi một chén, rồi cùng ngồi ăn.
    "Anh hỏi tôi :
    "Thím với mấy em đâu cả?
    "Nhà tôi đưa các cháu về quê từ bữa trước:
    "Tạm tránh đi ít ngày cũng phải. Nay, bom đạn nhiều thế chú có hãi không?
    "Tôi cười :
    "Ai mà không hãi, nhưng làm sao được.
    "Lúc đầu thì hãi, rồi sau sẽ dạn dần, tôi cũng thế.
    "Mình biết cầm súng từ năm mười bảy tuổi, năm nay đã là ba mươi tám, nay phải nghe từ
    miệng một cậu bé hỏi có sợ súng không, nghĩ cũng đau lòng. Mà đúng, không sợ súng sao phải
    trốn chạy, trốn dài suốt hai cuộc kháng chiến. Trưa hôm đó, anh lại quay về nhà tôi cùng với
    một cậu nữa gửi bốn quả đạn. Anh khoe hồi sáng lại bắn cháy thêm một xe tăng ở bên kia cầu
    Gia Hội. Đến khó tin! Con người như cái bóng ma, khẩu súng như ống thổi lửa, mà bắn cháy xe
    tăng Mỹ? Nói anh tha lỗi, ngày ấy mấy thằng vẫn bảo nhỏ nhau : Đã bước sang quá nửa thế kỷ
    20 mà mấy ông nhà mình còn nuôi mộng hoang đường. Đánh đuổi Mỹ bằng súng đạn quả là
    chuyện rất hoang đường, một sức tin quá kỳ khôi. Chiến tranh còn phải kéo dài thêm ít năm
    nhưng rốt cuộc Mỹ nó thắng. Nó sẽ thắng mình bằng nhiều cách. Có tiền là sẽ có cách. Mình dầu
    khôn ngoan mấy vẫn là cái anh nghèo. Đã nghèo đừng có nói chuyện khôn ngoan. Kinh nghiệm
    đời tôi là thế. Nghĩ trong bụng thôi, chứ không tranh cãi. Các anh có niềm tin của các anh,
    chúng tôi có cái tin của chúng tôi, tranh cãi về niềm tin là vô nghĩa. Vả lại đằng nào tôi cũng sẽ
    về quê với gia đình. Vâng, đúng thế, lại tìm cách được xin trốn chạy các anh một lần nữa. Tôi
    chuẩn bị cho hai anh một tạ gạo, mắm muối, cá khô, bột ngọt, đủ thứ. Rồi xếp cả quần áo thay,
    bông băng và mấy loại thuốc thông dụng. Coi như đã làm tròn bổn phận một người dân vốn có
    cảm tình với kháng chiến. ăn cơm trưa xong, anh mang B.40 bảo tôi :
    "Chú có muốn coi bọn tôi bắn xe tăng không?
    "Khi nào?
    "Đêm nay hoặc sáng sớm mai, xe nó thường chạy nhiều vào lúc sớm.
    "Bằng cách nào?
    "Đi theo chúng tôi - rồi anh cười - nhưng nguy hiểm đấy chú lại chưa quen với bom đạn.
    "Đành phải ở lại thêm một ngày nữa, thêm một ngày coi Việt cộng bắn xe tăng? Một dịp
    may kể là cũng ít có. Đêm ấy mãi khuya hai anh mới về, nhìn anh mang đạn vẫn còn nguyên
    bốn quả, tôi hỏi đùa :
    "Mỹ nó hết xe tăng rồi ư?
    "Anh trả lời rất thật thà :
    "Còn nhiều lắm chú ơi, nhưng không tìm được góc bắn tốt.
    "Sáng ra được một lúc, khoảng bảy, tám giờ, tôi ngồi đọc sách chợt nghe có tiếng động cơ
    chuyển ầm ầm ở đầu phố. Anh giữ B.40 đang nằm trên phản vội lăn xuống đất, nằm áp tai nghe
    ngóng một lúc rồi xách súng đã lắp sẵn đạn nhào vụt ra. Tôi sực nhớ lời hẹn khi đêm cũng nhảy
    vội lên lầu trèo sang mái nhà bên cạnh, nằm dài trên đó mà nhìn xuống cái qu...
     
    Gửi ý kiến

    Học từ sách là học từ tinh hoa của nhân loại.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NAM ĐỒNG - TP. HẢI PHÒNG !