Video sự tích cây nêu đất
Lịch sử Việt Nam bằng tranh 16 - Nước Đại Việt (2)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 15h:41' 17-11-2024
Dung lượng: 7.5 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 15h:41' 17-11-2024
Dung lượng: 7.5 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ ba
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Nước Đại Việt / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ Nguyễn
Đức Quang Cảnh. - Tái bản lần 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
104 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.16).
1. Việt Nam — Lịch sử — Thời nhà Lý, 1009-1225 — Sách tranh. 2. Việt Nam —
Lịch sử — Thời nhà Trần, 1225-1400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh
Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Ly dynasty, 1009-1225 — Pictorial works. 2. Vietnam —
History — Tran dynasty, 1225-1400 — Pictorial works.
959.7023 — dc 22
N973
LỜI GIỚI THIỆU
Dựng nên nhà Lý là vua Lý Thái Tổ và làm rạng danh
nhà Lý chính là vua Lý Thánh Tông.
Khi vừa lên ngôi, vua Lý Thái Tông cho đổi quốc hiệu là
Đại Việt. Quốc hiệu được sử dụng trong khoảng 743 năm,
trải từ qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn.
Cũng như cha và ông, Lý Thánh Tông là người tài kiêm
văn võ. Ông nổi tiếng là một minh quân có nhiều đức độ
trong lịch sử Việt Nam. Người dùng đức cai trị nên được
trăm họ mến phục, ít có việc giặc giã nhưng vẫn khiến cho
phương bắc kiếng nể, phương nam kinh sợ.
Ông xứng đáng là người mở đầu cho quốc hiệu Đại Việt
hiển hách, xây dựng Văn Miếu, phá Tống (1060) và bình
Chiêm (1069), lấy được ba châu của Chiêm Thành.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 16 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Nước Đại Việt” phần
lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do
Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 16 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Vua Lý Thánh Tông tên thật Lý Nhật Tôn là năm 1023
1072 tại kinh đô Thăng Long, cai trị trong khoảng từ
1054 đến 1072.
Ông nổi tiếng là bậc minh quân, tận tụy với công việc
triều chính, thương dân như con, đối xử khoan hồng với
kẻ phạm tội.
Tháng Giêng, ngày Canh Dần, năm Nhâm Tý (tức 1
tháng 2 năm 1072), Lý Thánh Tông băng hà trị vì được
17 năm, hưởng thọ 49 tuổi.
4
Vua Lý Thái Tông băng hà vào năm 1054, truyền ngôi lại cho
con trưởng là Thái tử Nhật Tôn. Nhật Tôn còn có một người em
trai là hoàng tử Nhật Trung, nhưng Nhật Trung vốn nhu thuận,
không dòm ngó ngai vàng. Vì vậy, Thái tử lên ngôi không gặp
rắc rối như vua cha 26 năm trước(*), được cả hoàng gia lẫn triều
thần ủng hộ.
(*) Xem tập Xây đắp nhà Lý.
5
Sử không ghi rõ mẹ của Thái tử Nhật Tôn tên gì, chỉ biết bà
mang họ Mai. Tương truyền trước khi có thai Thái tử, bà nằm
mộng thấy mặt trăng rơi vào bụng. Đến ngày 25 tháng 2 năm
Quý Hợi (1023) thì Nhật Tôn ra đời tại cung Long Đức(*), vì lúc
này vua cha vẫn đang là Thái tử. Năm năm sau (1028), Lý Thái
Tông lên ngôi, bà Mai được lập làm Hoàng hậu, Nhật Tôn được
lập làm Thái tử. Khi Nhật Tôn lên làm vua, bà Mai được tôn làm
Kim Thiên Thái hậu.
(*) Xem tập Xây đắp nhà Lý.
6
Nhật Tôn vốn thông minh, từ nhỏ đã làu kinh sách, rành âm
luật, giỏi võ lược. Lớn lên, Thái tử thường được vua cha sai đi
đánh dẹp các nơi giặc giã, đi tới đâu thắng tới đó nên uy danh
vang lừng. Thêm nữa, Thái tử sống ở cung Long Đức, gần gũi với
dân chúng suốt 27 năm nên vốn sống rất phong phú. Do đó khi
lên ngôi, vua Lý Thánh Tông được trăm họ mến phục.
7
Là người có ý thức dân tộc và có óc tự cường, muốn đưa đất
nước trở nên hưng thịnh và ngày một lớn mạnh, vừa mới lên ngôi,
Lý Thánh Tông liền đổi tên nước là Đại Việt. Từ đấy nước ta có
tên mới, mở đầu kỷ nguyên Đại Việt, kéo dài đến 750 năm. (Cho
đến đầu thế kỷ 19, vào năm 1804, dưới triều vua Gia Long, tên
nước mới đổi thành Việt Nam như ngày nay).
8
9
Suốt 18 năm trị vì (1054-1072), nhà vua thay niên hiệu năm
lần(*), phần nhiều là để đánh dấu một sự kiện quan trọng nào đó.
Như năm Mậu Thân (1068), nhân dịp châu Chân Đăng dâng vua
hai thớt bạch tượng (voi trắng) quý, vua đổi niên hiệu thành Thiên
Huống Bảo Tượng, hoặc năm 1069 đổi thành Thần Võ để chứng
tỏ sức mạnh của Đại Việt.
(*) Đó là các niên hiệu Long Thụy Thái Bình (1054-1058). Chương Thánh
Gia Khánh (1059-1065), Long Chương Thiên Tự (1066-1067), Thiên
Huống Bảo Tượng (1068), Thần Võ (1069-1072).
10
Nhờ nhiều năm sống ở Đông cung, đã từng thấy
cảnh đói rét, sự oan uổng, bất công ở miền thôn dã,
nên nhà vua hiểu được nỗi khổ của dân chúng và rất
thương dân. Vừa lên làm vua, ngài đã cho các cung
nữ trong cung Thúy Hoa được trở về quê quán, sum
họp với gia đình, sống lại cuộc sống bình thường
như các cô gái khác.
11
Sau đó, ngài xuống chiếu cho đốt bỏ hết những hình cụ dùng
để tra tấn nạn nhân. Từ đấy tù nhân không còn bị xúc phạm đến
thân thể trong việc lấy cung nữa. Vào những năm gặp đại hạn,
mất mùa, lo dân chúng bị đói rét, nhà vua thường cho mở kho lấy
lúa, tiền, vải ra phát chẩn cho dân nghèo.
12
Một hôm, vào tiết đông rét mướt, vua chạnh nghĩ đến các tù
nhân, bèn bàn với các quan hầu rằng:
- Trẫm ở trong thâm cung, sưởi lò than thú(*), mặc áo hồ cừu(**)
mà còn rét như thế này... Huống chi những tù phạm bị giam trong
ngục, bị gông cùm trói buộc, ngay gian chưa phân minh, bụng
không đủ cơm no, áo không kín thân thể, một khi gặp cơn gió bấc
thổi, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm.
* Lò sưởi đốt bằng thứ than chế bằng xương động vật.
** Áo hồ cừu là loại áo làm bằng lông chồn, nhẹ và ấm.
13
Nói rồi, nhà vua truyền lệnh cho quan Hữu ty cấp phát chăn
chiếu đầy đủ cho tù nhân và cho ăn một ngày hai bữa. Từ đấy bớt
đi cảnh tù nhân phải chết oan uổng trong cơ hàn. Thương dân lành
có người vì kém hiểu biết mà phạm tội, vua Lý Thánh Tông còn
gia giảm một số hình phạt trong bộ luật Hình thư đã được viết ra
dưới thời vua cha Lý Thái Tông.
14
Một hôm, vào năm 1055, vua đang ngự trong điện Thiên Khánh
để xét án, có công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh. Bày tỏ
tấm lòng nhân ái của mình đối với muôn dân, ngài chỉ vào công
chúa và nói:
- Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì
trăm họ có kẻ không hiểu biết, tự dấn thân vào đường phạm pháp,
làm càn, phải tội, trẫm lấy làm thương xót lắm.
15
Cuối cùng nhà vua quyết định:
- Từ rày về sau tội trạng bất kể nặng nhẹ, cũng khoan thứ(*)
bớt đi.
Sau đó (1071), ngài còn định ra lệ cho phép người mắc tội
trượng hình(**) có thể dùng tiền để chuộc. Tuy thế, những người
phạm trọng tội mà bị xử án tử hình thì không được hưởng ân xá
bất kỳ trường hợp nào, ngay cả khi có kỳ đại xá.
* Hành động có tính khoan dung và tha thứ.
** Hình phạt bị đánh bằng trượng.
16
Nhằm duy trì sự liêm khiết của các quan xử án, vua quyết định
cấp lương bổng thật hậu cho họ. Các quan cao cấp trong tư pháp
như Sĩ sư Ngụy Trọng Hòa và Đặng Thể Tư được cấp mỗi tháng
50 quan tiền, 200 bó lúa và cá muối. Còn 10 viên ngục lại thì mỗi
tháng lãnh 20 quan tiền, 100 bó lúa.
17
Vua Lý Thánh Tông là người hay đi đây đó. Hầu như các châu
huyện trên khắp đất nước đều được ngài viếng thăm, ngay cả vùng
rừng núi xa xôi như châu Lạng. Khi thì ngài đi xem dân gặt lúa,
khi thì đi xem ngư dân đánh cá. Ngài lại chưa có con trai để lập
Thái tử, nên cũng thường đi cầu tự tại những nơi linh thiêng.
18
Vào năm 1062, vua đã 40 tuổi mà vẫn chưa có người thừa kế
ngai vàng, trong lòng buồn bực, nên thường du ngoạn để khuây
khỏa. Một hôm vua đi qua làng Thổ Lỗi (Gia Lâm, Hà Nội)(*)
thấy có ngôi chùa đẹp liền ghé vào thăm. Xa giá đi tới, dân làng
đổ xô đến chiêm ngưỡng long nhan. Nhưng kì lạ thay, bên gốc
lan, một người con gái mải mê hái dâu, không mảy may để ý đến
đấng thiên tử.
(*) Có sách nói là Mỹ Văn, Hưng Yên.
19
Vua ngạc nhiên, cho vời đến. Thấy nàng ăn nói lưu loát lại xinh
đẹp, vua bèn đưa về cung, cưới làm vợ, đặt tên là Ỷ Lan(*). Bốn
năm sau Ỷ Lan sinh được một hoàng nam, vua vô cùng mừng rỡ,
đặt tên là Càn Đức và phong làm Thái tử. Ỷ Lan cũng được phong
làm Nguyên phi(**).
* Ỷ Lan có nghĩa là dựa vào gốc cây lan.
** Nguyên phi đứng đầu hàng phi, chỉ đứng dưới hoàng hậu.
20
Các quan lại giúp việc đắc lực cho
nhà vua có nhiều người tài giỏi, trong đó
Lý Đạo Thành là một bậc đại phu được
nhiều người ngưỡng vọng. Ông được
vua Lý Thánh Tông cử làm Thái sư từ
năm 1054 ngay từ khi vua mới lên ngôi
và giữ chức vụ này cho đến hết triều đại
của Lý Thánh Tông.
21
Lý Đạo Thành là người theo đạo Phật, nhưng đồng thời
cũng rất sùng Nho giáo. Ông làm việc theo phương châm
của Nho giáo, đề cao lòng trung thành tuyệt đối với đấng
thiên tử và tôn trọng sự “chính danh” tức là mỗi người phải
làm đúng chức phận của mình để vua ra vua, tôi(*) ra tôi,
cha ra cha, con ra con, cho xã hội có kỷ cương, gia đình
có nền nếp.
* Tôi ở đây có nghĩa là bề tôi dưới quyền của vua.
22
Vua Lý Thánh Tông có ý muốn chỉnh đốn tác phong của quan
lại cho trang trọng. Vào mùa thu năm 1059, ngài thiết triều tại
điện thờ Thủy Tinh để cấp cho quần thần mũ phốc đầu(*) và giày
da. Từ đấy các quan khi vào chầu vua phải đội mũ và đi giày. Bốn
năm sau (1063), lại đặt thêm lệ tung hô để chúc tụng nhà vua.
Khi vào yết kiến, các quan phải xướng lên câu “Thánh cung vạn
phúc”(**) rồi quân sĩ đồng thanh hô theo.
* Mũ phốc đầu là mũ cánh chuồn.
** “Thánh cung vạn phúc” có nghĩa là nhà vua được muôn phước.
23
Đối với các quan đứng đầu các châu xa xôi ở biên giới, vua Lý
Thánh Tông tiếp tục đường lối của các vua trước, đối xử với họ
rất mềm dẻo. Vì thế, nhà vua rất được lòng các quan Châu mục.
Họ vẫn thường đem dâng biếu nhà vua những sản vật quý báu
của địa phương mình.
24
Ải Chi Lăng ngày nay. Ảnh: Vi Hồng Tuyên
Trong các châu ở vùng biên giới, châu Lạng là rộng lớn nhất
và quan trọng nhất vì vị trí chiến lược của nó. Châu này nằm trên
con đường bộ từ Trung Quốc sang Đại Việt(*). Châu Lạng lại có
động Giáp rất to, ở phía nam ải Chi Lăng. Thật là một nơi hiểm
yếu. Chính vì thế mà từ vua Thái Tổ, Thái Tông đến vua Thánh
Tông đều rất ưu ái đối với châu này.
* Châu Lạng nay là tỉnh Lạng Sơn và một phần tỉnh Bắc Giang.
25
Đời vua Lý Thái Tông đã gả công chúa Bình Dương cho quan
Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái. Công chúa sinh hạ được
người con trai là Thân Cảnh Nguyên. Sau này Cảnh Nguyên trở
thành một chàng trai đầy mưu trí và nối nghiệp cha, làm Châu
mục. Để tỏ rõ lòng trọng vọng đối với họ Thân, vào năm 1059,
trong một chuyến đi săn ở sông Nam Bình thuộc châu Lạng (gần
sông Thương, Bắc Giang), vua Lý Thánh Tông đã ghé thăm gia
đình công chúa Bình Dương.
26
Tại đây, nhà vua đã gặp Cảnh Nguyên và rất mến mộ chàng
trai tài trí này. Bảy năm sau (1066), khi người con gái yêu của vua
là công chúa Thiên Thành đến tuổi cập kê, vua gả nàng cho Thân
Cảnh Nguyên. Họ Thân từ đấy càng rất trung thành với nhà Lý và
trở thành phên giậu(*) chắc chắn trong việc chống quân Tống xâm
lược sau này. Nhờ chính sách kết thân ấy mà lòng dân miền núi
đều quy hướng về nhà vua.
* Phên giậu hay rào giậu - chỉ sự che chắn ở biên cương.
27
Vua Lý Thánh Tông có một đội quân rất hùng mạnh, binh pháp
tinh thông. Quân của vua được chia làm hai loại. Loại thứ nhất là
quân cấm vệ, để bảo vệ vua và kinh thành. Trước đây, dưới thời
vua Lý Thái Tông, toàn thể quân cấm vệ được chia ra làm 10 đơn
vị, mỗi đơn vị được gọi là quân. Mỗi quân là 200 người, có cả
lính kỵ và lính bắn đá.
28
Thời vua Lý Thánh Tông cho tăng thêm 6 quân nữa, tất cả là
16 quân. Quân cấm vệ là những chàng trai khỏe mạnh, thiện chiến
vào hạng nhất và rất trung thành với nhà vua. Trên trán mỗi người
đều thích chữ Thiên tử binh(*). Thường nhật, họ đóng chung quanh
kinh thành. Lúc vua đi đâu xa thì họ hộ giá. Khi lâm chiến, họ là
những người đi tiên phong trước mũi gươm, ngọn giáo của giặc.
* Tức là binh lính của nhà vua.
29
Loại quân thứ hai, không có quân số nhất định. Đó là những
người dân đến tuổi đầu quân, nhưng mỗi tháng chỉ lên cơ ngũ một
lần, gọi là đi phiên. Thời gian đi phiên không lâu. Hết phiên lại
về quê làm ruộng. Loại quân này đóng các châu quận, không có
lương, chỉ có người trưởng vì phải thường trực nên được cấp lúa
và vải. Hệ thống quân đội như vậy vừa được số đông lại không
phải phí tổn gì nhiều.
30
Bấy giờ thanh thế nước Đại Việt rất lẫy lừng, các nước nhỏ như
Chân Lạp, Chiêm Thành vẫn thường sang tiến cống. Ngay cả đối
với nước Trung Hoa hùng mạnh, vua Lý Thánh Tông vẫn giữ một
tư thế bình đẳng, đôi khi lại còn có vẻ cao ngạo nữa. Tuy vậy một
năm sau khi vua lên ngôi, nhà Tống sai sứ sang phong cho vua
làm Quận vương, nhà vua cũng chấp nhận để duy trì mối giao hảo.
31
Hai năm sau, nhân dịp vùng rừng núi có người bắt được hai con
thú lạ, vua bèn sai viên Ngoại lang Mai Nguyên Thanh đem sang
biếu cho vua Tống, nói gạt là con kỳ lân(*). Triều đình nhà Tống
xôn xao, ngỡ ngàng, vì cho đến bấy giờ, kỳ lân chỉ là một con vật
huyền thoại, không ai biết được thực hư như thế nào.
* Kỳ lân trong bộ “tứ linh” (xem tập Thăng Long buổi đầu) tượng trưng
cho thánh nhân và được tưởng tượng hình dáng gần giống con sư tử.
Có lẽ ở đây Lý Thánh Tông muốn ngầm ý nói với vua Tống: Đại Việt
đã có thánh nhân?
32
Sau, một viên quan nhà Tống là Điền
Huống cho rằng đấy không phải là kỳ lân,
bèn tâu lên vua Tống:
- Đó chỉ là con thú lạ, chứ không phải
con lân.
Điều này khiến các quan khác bàng
hoàng tức giận, muốn trả đũa Đại Việt.
33
Nhưng đại thần Tư Mã Quang phân tích:
- Ta chưa chắc chắn rằng đây là kỳ lân thực hay giả. Nhưng nếu
quả con lân thực mà xuất hiện không đúng lúc cũng không phải
là điềm lành. Còn nếu đúng là con lân giả, ta làm lớn chuyện thì
chỉ tổ cho người phương xa có dịp cười ta thôi.
Thế là, để giữ sĩ diện, nhà Tống đành phải ngậm bồ hòn làm
ngọt(*), vả lả, tặng quà cho sứ giả rồi làm lễ tiễn về.
(*) Quả bồ hòn gần giống quả nhãn, có vị rất đắng. Trước kia chưa có xà
phòng, dân chúng thường dùng quả này để giặt quần áo. Thành ngữ
“ngậm bồ hòn làm ngọt” để chỉ trạng thái miễn cưỡng phải chấp nhận
một chuyện không vừa lòng.
34
Đối với quan lại Trung Quốc cai trị tại các khu vực gần biên
giới Đại Việt, vua Thánh Tông tỏ ý coi thường. Vào năm 1060,
tại châu Lạng có một đảng cướp chạy sang huyện Như Ngao,
thuộc đất nhà Tống trốn lánh. Quan Châu mục châu Lạng là Thân
Thiệu Thái, chồng công chúa Bình Dương, đem quân vào địa giới
nhà Tống để truy lùng. Thân Thiệu Thái bắt được cả đảng cướp
cùng trâu ngựa không kể xiết.
35
Nhưng trong nhóm bị bắt lại có lẫn một viên quan của nhà
Tống là Dương Lữ Tài. Nhà Tống bèn sai người đi thương nghị,
lấy Ung châu làm nơi họp bàn. Vua Lý cũng sai sứ tới Ung châu.
Quan nhà Tống đem nhiều của cải ra đút lót cho sứ của Đại Việt
và gửi thư nhờ mang về dâng lên vua. Trong thư, quan nhà Tống
xin vua Lý trả lại Dương Lữ Tài. Nhà vua không đồng ý trao trả,
quan nhà Tống đành phải chịu, không dám gây hấn.
36
Dù biết Lý Thánh Tông không cung thuận, nhưng nhà Tống
vẫn gia phong thêm cho nhà vua vài tước hàm nữa, như năm 1064
phong là Đồng Binh Chương Sự, đến năm 1068 lại phong làm Nam
Bình vương. Bằng mặt nhưng không bằng lòng, nhà Tống vẫn
có ý xâm lấn Đại Việt. Trong khi ấy thì ở phía Nam, vua Chiêm
Thành cũng đang nuôi mộng trả thù cho cuộc thất trận năm 1047
dưới thời vua Lý Thái Tông.
37
Vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III) tổ chức vũ bị,
luyện tập quân lính và có ý muốn dựa thế của nhà Tống chống
Đại Việt, Chế Củ cho người sang cống nhà Tống phương vật(*)
để xin thần phục và xin mua ngựa. Vua Tống nắm lấy cơ hội, kết
liên cùng Chiêm Thành, tặng cho vua Chiêm một con ngựa bạch
và cho phép mua lừa ở Quảng Châu.
(*) Sản phẩm của địa phương.
38
Để đánh tan liên minh Tống - Chiêm Thành, vào mùa xuân
năm Kỷ Dậu (ngày 24 tháng 2 năm 1069), vua xuống chiếu thân
chinh đi đánh Chiêm Thành. Đề phòng sự cố soán nghịch trong
khi vua vắng mặt ở kinh thành, ngày 5 tháng 3 năm ấy, vua cho
cử hành lễ thề trọng thể tại sân Long Trì(*). Vua phong cho Lý
Thường Kiệt làm Đại tướng quân, lãnh ấn tiên phong, kiêm chức
Nguyên soái. Em của Lý Thường Kiệt là Thường Hiến cũng tham
gia trong đoàn quân chinh phạt.
(*) Lễ thề này thường gọi là lễ thề đền Đồng Cổ, đã được tổ chức thường xuyên
dưới triều vua Lý Thái Tông (xem tập Xây đắp nhà Lý).
39
Sau khi giao quyền bính cho Ỷ Lan Nguyên phi và Thái sư Lý
Đạo Thành, vào ngày 8-3-1069, vua hạ lệnh xuất quân và xuống
thuyền, rẽ sóng ra biển Đông. Thuyền lướt gió, trực chỉ hướng
Nam trong vòng nửa tháng thì đến cửa Nhật Lệ (Quảng Bình).
Tại đây, thủy quân Chiêm Thành đã đón đánh nhưng không chặn
được bước tiến của quân Đại Việt.
40
Ngày 3 tháng 4, đoàn thuyền của nhà vua đến Thị Nại (Quy
Nhơn). Bỗng nhiên có hai con chim cùng bay theo như thể dẫn
đường cho thuyền vậy. Đại quân đổ bộ ở bờ sông Tu Mao(*), sau
nhiều trận xáp chiến ác liệt đã chiếm được quốc đô Phật Thệ. Chế
Củ dẫn gia đình chạy về phía nam. Lý Thường Kiệt đem quân
đuổi đến biên giới Chân Lạp thì bắt được.
(*) Theo cụ Hoàng Xuân Hãn, thì đấy có thể là nhánh cực nam của hạ lưu
sông Tam Huyện (còn gọi là Tân An) ở Bình Định, theo Lý Thường
Kiệt, Sài Gòn, 1966, tr.63.
41
42
Vua khải hoàn trở về, được tiếp rước vô cùng long trọng. Để
chuộc tội, Chế Củ xin dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính
(Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay). Vua Lý Thánh Tông chấp
nhận và sai sứ sang nhà Tống báo tin. Trong lời biểu có viết: “Nước
Chiêm Thành đã lâu không tới cống. Tôi tự đem quân đánh...”.
Vua Tống tuy không bằng lòng nhưng cũng đành chấp nhận,
đồng thời từ bỏ ý đồ liên minh với Chiêm Thành.
43
Sau chiến thắng, vua Lý Thánh Tông ban
thưởng cho các quan quân có công trong cuộc
chinh chiến vừa qua. Lý Thường Kiệt được
phong lên làm Phụ quốc Thái phó. Ông còn được
nhà vua nhận làm con nuôi (tức là được đứng vào
hàng vương). Vua còn ghi công Thái sư Lý Đạo
Thành và Nguyên phi Ỷ Lan đã giữ yên được
đất nước trong lúc vua vắng mặt.
44
Đất nước ngày càng hưng thịnh. Hàng năm,
nhà vua vẫn giữ lệ cày Tịch Điền, không hề trễ
nải. Chiếu khuyến nông được ban ra (1056).
Ruộng nương xanh ngắt cây trái. Mỏ vàng mỏ
bạc được tích cực khai thác. Các ngành nghề
đều mở mang và phát triển. Ngân khố của nhà
vua đầy ắp đến nỗi có năm vua miễn thuế
(1055), hoặc có khi hủy cả một loại thuế
quan trọng như thuế cau (1066).
45
Nghề dệt truyền thống càng thêm phong phú nhờ du nhập
nghề dệt lĩnh Chiêm Thành. Nghề này do một người con gái
Chiêm Thành tên là Phan Thị Ngọc Đô truyền vào. Nhờ có tay
nghề độc đáo, nàng cùng 24 thị nữ được nhà vua đưa đến ở làng
Trích Sài cạnh bờ hồ Tây để sản xuất. Tại đây nàng truyền nghề
dệt lĩnh cho dân làng và tạo nên được một vùng chuyên nổi tiếng
về lĩnh Chiêm Thành. Khi nàng mất, dân làng lập miếu thờ, gọi
nàng là bà chúa Lĩnh và tôn làm tổ nghề của làng mình.
46
CHÚ THÍCH
Tỉnh lỵ ngày nay
Biên giới ngày nay
Chùa Thày
Tháp Báo Thiên
Chùa Lý Triều Quốc sư
Chùa một cột
Chùa Láng
Chùa Tam Sơn
Chùa Dặn
Đền Lý Bát Đế
Chùa Tiêu Sơn
Chùa tháp Phật tích
Chùa Bách Môn
Chùa Giạm
Chùa Hàm Long
Chùa Bà Tấm
Chùa Hương Lăng
Chùa Đậu
Chùa tháp Long Đọi
Chùa Côn Sơn
Chùa Quỳnh Lâm
Chùa Phù Vân Yên Tử
Chùa Non nước
Chùa Sùng Nghiêm
diện thánh
Chùa tháp Tường Long
Chùa trăm gian Hà Nội
Vua Lý Thánh Tông cũng là người sùng đạo Phật. Ngài cho
xây thêm rất nhiều chùa, tháp và đúc nhiều tượng Phật, như chùa
Đông Lâm, chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu - Bắc Ninh (1055), chùa
Thiên Phúc và Thiên Thọ (1057), chùa Sùng Nghiêm Báo Đức ở
châu Vũ Ninh (1059), chùa Nhị Thiên Vương ở Đông Nam thành
Thăng Long (1070)... Nay một số chùa còn dấu tích như chùa Phật
Tích (Bắc Ninh), chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh), chùa tháp Đồ
Sơn (Hải Phòng)... đều được dựng vào năm 1057.
47
Trên núi Lan Kha (huyện Tiên Du, Bắc Ninh) có một tượng
Phật A Di Đà bằng đá, cao hai thước rưỡi do nhà vua sai Lang
tướng Quách Mãn thực hiện năm 1057. Đặc biệt có chùa Sùng
Khánh Báo Thiên (gọi tắt là Báo Thiên), dựng vào năm 1056 ở
trong thành Thăng Long rất độc đáo. Chùa xây xong, vua cho lấy
12.000 cân đồng trong kho để đúc chuông và thảo một bài văn
để khắc vào đó.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Nước Đại Việt / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ Nguyễn
Đức Quang Cảnh. - Tái bản lần 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
104 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.16).
1. Việt Nam — Lịch sử — Thời nhà Lý, 1009-1225 — Sách tranh. 2. Việt Nam —
Lịch sử — Thời nhà Trần, 1225-1400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh
Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Ly dynasty, 1009-1225 — Pictorial works. 2. Vietnam —
History — Tran dynasty, 1225-1400 — Pictorial works.
959.7023 — dc 22
N973
LỜI GIỚI THIỆU
Dựng nên nhà Lý là vua Lý Thái Tổ và làm rạng danh
nhà Lý chính là vua Lý Thánh Tông.
Khi vừa lên ngôi, vua Lý Thái Tông cho đổi quốc hiệu là
Đại Việt. Quốc hiệu được sử dụng trong khoảng 743 năm,
trải từ qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn.
Cũng như cha và ông, Lý Thánh Tông là người tài kiêm
văn võ. Ông nổi tiếng là một minh quân có nhiều đức độ
trong lịch sử Việt Nam. Người dùng đức cai trị nên được
trăm họ mến phục, ít có việc giặc giã nhưng vẫn khiến cho
phương bắc kiếng nể, phương nam kinh sợ.
Ông xứng đáng là người mở đầu cho quốc hiệu Đại Việt
hiển hách, xây dựng Văn Miếu, phá Tống (1060) và bình
Chiêm (1069), lấy được ba châu của Chiêm Thành.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 16 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Nước Đại Việt” phần
lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do
Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 16 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Vua Lý Thánh Tông tên thật Lý Nhật Tôn là năm 1023
1072 tại kinh đô Thăng Long, cai trị trong khoảng từ
1054 đến 1072.
Ông nổi tiếng là bậc minh quân, tận tụy với công việc
triều chính, thương dân như con, đối xử khoan hồng với
kẻ phạm tội.
Tháng Giêng, ngày Canh Dần, năm Nhâm Tý (tức 1
tháng 2 năm 1072), Lý Thánh Tông băng hà trị vì được
17 năm, hưởng thọ 49 tuổi.
4
Vua Lý Thái Tông băng hà vào năm 1054, truyền ngôi lại cho
con trưởng là Thái tử Nhật Tôn. Nhật Tôn còn có một người em
trai là hoàng tử Nhật Trung, nhưng Nhật Trung vốn nhu thuận,
không dòm ngó ngai vàng. Vì vậy, Thái tử lên ngôi không gặp
rắc rối như vua cha 26 năm trước(*), được cả hoàng gia lẫn triều
thần ủng hộ.
(*) Xem tập Xây đắp nhà Lý.
5
Sử không ghi rõ mẹ của Thái tử Nhật Tôn tên gì, chỉ biết bà
mang họ Mai. Tương truyền trước khi có thai Thái tử, bà nằm
mộng thấy mặt trăng rơi vào bụng. Đến ngày 25 tháng 2 năm
Quý Hợi (1023) thì Nhật Tôn ra đời tại cung Long Đức(*), vì lúc
này vua cha vẫn đang là Thái tử. Năm năm sau (1028), Lý Thái
Tông lên ngôi, bà Mai được lập làm Hoàng hậu, Nhật Tôn được
lập làm Thái tử. Khi Nhật Tôn lên làm vua, bà Mai được tôn làm
Kim Thiên Thái hậu.
(*) Xem tập Xây đắp nhà Lý.
6
Nhật Tôn vốn thông minh, từ nhỏ đã làu kinh sách, rành âm
luật, giỏi võ lược. Lớn lên, Thái tử thường được vua cha sai đi
đánh dẹp các nơi giặc giã, đi tới đâu thắng tới đó nên uy danh
vang lừng. Thêm nữa, Thái tử sống ở cung Long Đức, gần gũi với
dân chúng suốt 27 năm nên vốn sống rất phong phú. Do đó khi
lên ngôi, vua Lý Thánh Tông được trăm họ mến phục.
7
Là người có ý thức dân tộc và có óc tự cường, muốn đưa đất
nước trở nên hưng thịnh và ngày một lớn mạnh, vừa mới lên ngôi,
Lý Thánh Tông liền đổi tên nước là Đại Việt. Từ đấy nước ta có
tên mới, mở đầu kỷ nguyên Đại Việt, kéo dài đến 750 năm. (Cho
đến đầu thế kỷ 19, vào năm 1804, dưới triều vua Gia Long, tên
nước mới đổi thành Việt Nam như ngày nay).
8
9
Suốt 18 năm trị vì (1054-1072), nhà vua thay niên hiệu năm
lần(*), phần nhiều là để đánh dấu một sự kiện quan trọng nào đó.
Như năm Mậu Thân (1068), nhân dịp châu Chân Đăng dâng vua
hai thớt bạch tượng (voi trắng) quý, vua đổi niên hiệu thành Thiên
Huống Bảo Tượng, hoặc năm 1069 đổi thành Thần Võ để chứng
tỏ sức mạnh của Đại Việt.
(*) Đó là các niên hiệu Long Thụy Thái Bình (1054-1058). Chương Thánh
Gia Khánh (1059-1065), Long Chương Thiên Tự (1066-1067), Thiên
Huống Bảo Tượng (1068), Thần Võ (1069-1072).
10
Nhờ nhiều năm sống ở Đông cung, đã từng thấy
cảnh đói rét, sự oan uổng, bất công ở miền thôn dã,
nên nhà vua hiểu được nỗi khổ của dân chúng và rất
thương dân. Vừa lên làm vua, ngài đã cho các cung
nữ trong cung Thúy Hoa được trở về quê quán, sum
họp với gia đình, sống lại cuộc sống bình thường
như các cô gái khác.
11
Sau đó, ngài xuống chiếu cho đốt bỏ hết những hình cụ dùng
để tra tấn nạn nhân. Từ đấy tù nhân không còn bị xúc phạm đến
thân thể trong việc lấy cung nữa. Vào những năm gặp đại hạn,
mất mùa, lo dân chúng bị đói rét, nhà vua thường cho mở kho lấy
lúa, tiền, vải ra phát chẩn cho dân nghèo.
12
Một hôm, vào tiết đông rét mướt, vua chạnh nghĩ đến các tù
nhân, bèn bàn với các quan hầu rằng:
- Trẫm ở trong thâm cung, sưởi lò than thú(*), mặc áo hồ cừu(**)
mà còn rét như thế này... Huống chi những tù phạm bị giam trong
ngục, bị gông cùm trói buộc, ngay gian chưa phân minh, bụng
không đủ cơm no, áo không kín thân thể, một khi gặp cơn gió bấc
thổi, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm.
* Lò sưởi đốt bằng thứ than chế bằng xương động vật.
** Áo hồ cừu là loại áo làm bằng lông chồn, nhẹ và ấm.
13
Nói rồi, nhà vua truyền lệnh cho quan Hữu ty cấp phát chăn
chiếu đầy đủ cho tù nhân và cho ăn một ngày hai bữa. Từ đấy bớt
đi cảnh tù nhân phải chết oan uổng trong cơ hàn. Thương dân lành
có người vì kém hiểu biết mà phạm tội, vua Lý Thánh Tông còn
gia giảm một số hình phạt trong bộ luật Hình thư đã được viết ra
dưới thời vua cha Lý Thái Tông.
14
Một hôm, vào năm 1055, vua đang ngự trong điện Thiên Khánh
để xét án, có công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh. Bày tỏ
tấm lòng nhân ái của mình đối với muôn dân, ngài chỉ vào công
chúa và nói:
- Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì
trăm họ có kẻ không hiểu biết, tự dấn thân vào đường phạm pháp,
làm càn, phải tội, trẫm lấy làm thương xót lắm.
15
Cuối cùng nhà vua quyết định:
- Từ rày về sau tội trạng bất kể nặng nhẹ, cũng khoan thứ(*)
bớt đi.
Sau đó (1071), ngài còn định ra lệ cho phép người mắc tội
trượng hình(**) có thể dùng tiền để chuộc. Tuy thế, những người
phạm trọng tội mà bị xử án tử hình thì không được hưởng ân xá
bất kỳ trường hợp nào, ngay cả khi có kỳ đại xá.
* Hành động có tính khoan dung và tha thứ.
** Hình phạt bị đánh bằng trượng.
16
Nhằm duy trì sự liêm khiết của các quan xử án, vua quyết định
cấp lương bổng thật hậu cho họ. Các quan cao cấp trong tư pháp
như Sĩ sư Ngụy Trọng Hòa và Đặng Thể Tư được cấp mỗi tháng
50 quan tiền, 200 bó lúa và cá muối. Còn 10 viên ngục lại thì mỗi
tháng lãnh 20 quan tiền, 100 bó lúa.
17
Vua Lý Thánh Tông là người hay đi đây đó. Hầu như các châu
huyện trên khắp đất nước đều được ngài viếng thăm, ngay cả vùng
rừng núi xa xôi như châu Lạng. Khi thì ngài đi xem dân gặt lúa,
khi thì đi xem ngư dân đánh cá. Ngài lại chưa có con trai để lập
Thái tử, nên cũng thường đi cầu tự tại những nơi linh thiêng.
18
Vào năm 1062, vua đã 40 tuổi mà vẫn chưa có người thừa kế
ngai vàng, trong lòng buồn bực, nên thường du ngoạn để khuây
khỏa. Một hôm vua đi qua làng Thổ Lỗi (Gia Lâm, Hà Nội)(*)
thấy có ngôi chùa đẹp liền ghé vào thăm. Xa giá đi tới, dân làng
đổ xô đến chiêm ngưỡng long nhan. Nhưng kì lạ thay, bên gốc
lan, một người con gái mải mê hái dâu, không mảy may để ý đến
đấng thiên tử.
(*) Có sách nói là Mỹ Văn, Hưng Yên.
19
Vua ngạc nhiên, cho vời đến. Thấy nàng ăn nói lưu loát lại xinh
đẹp, vua bèn đưa về cung, cưới làm vợ, đặt tên là Ỷ Lan(*). Bốn
năm sau Ỷ Lan sinh được một hoàng nam, vua vô cùng mừng rỡ,
đặt tên là Càn Đức và phong làm Thái tử. Ỷ Lan cũng được phong
làm Nguyên phi(**).
* Ỷ Lan có nghĩa là dựa vào gốc cây lan.
** Nguyên phi đứng đầu hàng phi, chỉ đứng dưới hoàng hậu.
20
Các quan lại giúp việc đắc lực cho
nhà vua có nhiều người tài giỏi, trong đó
Lý Đạo Thành là một bậc đại phu được
nhiều người ngưỡng vọng. Ông được
vua Lý Thánh Tông cử làm Thái sư từ
năm 1054 ngay từ khi vua mới lên ngôi
và giữ chức vụ này cho đến hết triều đại
của Lý Thánh Tông.
21
Lý Đạo Thành là người theo đạo Phật, nhưng đồng thời
cũng rất sùng Nho giáo. Ông làm việc theo phương châm
của Nho giáo, đề cao lòng trung thành tuyệt đối với đấng
thiên tử và tôn trọng sự “chính danh” tức là mỗi người phải
làm đúng chức phận của mình để vua ra vua, tôi(*) ra tôi,
cha ra cha, con ra con, cho xã hội có kỷ cương, gia đình
có nền nếp.
* Tôi ở đây có nghĩa là bề tôi dưới quyền của vua.
22
Vua Lý Thánh Tông có ý muốn chỉnh đốn tác phong của quan
lại cho trang trọng. Vào mùa thu năm 1059, ngài thiết triều tại
điện thờ Thủy Tinh để cấp cho quần thần mũ phốc đầu(*) và giày
da. Từ đấy các quan khi vào chầu vua phải đội mũ và đi giày. Bốn
năm sau (1063), lại đặt thêm lệ tung hô để chúc tụng nhà vua.
Khi vào yết kiến, các quan phải xướng lên câu “Thánh cung vạn
phúc”(**) rồi quân sĩ đồng thanh hô theo.
* Mũ phốc đầu là mũ cánh chuồn.
** “Thánh cung vạn phúc” có nghĩa là nhà vua được muôn phước.
23
Đối với các quan đứng đầu các châu xa xôi ở biên giới, vua Lý
Thánh Tông tiếp tục đường lối của các vua trước, đối xử với họ
rất mềm dẻo. Vì thế, nhà vua rất được lòng các quan Châu mục.
Họ vẫn thường đem dâng biếu nhà vua những sản vật quý báu
của địa phương mình.
24
Ải Chi Lăng ngày nay. Ảnh: Vi Hồng Tuyên
Trong các châu ở vùng biên giới, châu Lạng là rộng lớn nhất
và quan trọng nhất vì vị trí chiến lược của nó. Châu này nằm trên
con đường bộ từ Trung Quốc sang Đại Việt(*). Châu Lạng lại có
động Giáp rất to, ở phía nam ải Chi Lăng. Thật là một nơi hiểm
yếu. Chính vì thế mà từ vua Thái Tổ, Thái Tông đến vua Thánh
Tông đều rất ưu ái đối với châu này.
* Châu Lạng nay là tỉnh Lạng Sơn và một phần tỉnh Bắc Giang.
25
Đời vua Lý Thái Tông đã gả công chúa Bình Dương cho quan
Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái. Công chúa sinh hạ được
người con trai là Thân Cảnh Nguyên. Sau này Cảnh Nguyên trở
thành một chàng trai đầy mưu trí và nối nghiệp cha, làm Châu
mục. Để tỏ rõ lòng trọng vọng đối với họ Thân, vào năm 1059,
trong một chuyến đi săn ở sông Nam Bình thuộc châu Lạng (gần
sông Thương, Bắc Giang), vua Lý Thánh Tông đã ghé thăm gia
đình công chúa Bình Dương.
26
Tại đây, nhà vua đã gặp Cảnh Nguyên và rất mến mộ chàng
trai tài trí này. Bảy năm sau (1066), khi người con gái yêu của vua
là công chúa Thiên Thành đến tuổi cập kê, vua gả nàng cho Thân
Cảnh Nguyên. Họ Thân từ đấy càng rất trung thành với nhà Lý và
trở thành phên giậu(*) chắc chắn trong việc chống quân Tống xâm
lược sau này. Nhờ chính sách kết thân ấy mà lòng dân miền núi
đều quy hướng về nhà vua.
* Phên giậu hay rào giậu - chỉ sự che chắn ở biên cương.
27
Vua Lý Thánh Tông có một đội quân rất hùng mạnh, binh pháp
tinh thông. Quân của vua được chia làm hai loại. Loại thứ nhất là
quân cấm vệ, để bảo vệ vua và kinh thành. Trước đây, dưới thời
vua Lý Thái Tông, toàn thể quân cấm vệ được chia ra làm 10 đơn
vị, mỗi đơn vị được gọi là quân. Mỗi quân là 200 người, có cả
lính kỵ và lính bắn đá.
28
Thời vua Lý Thánh Tông cho tăng thêm 6 quân nữa, tất cả là
16 quân. Quân cấm vệ là những chàng trai khỏe mạnh, thiện chiến
vào hạng nhất và rất trung thành với nhà vua. Trên trán mỗi người
đều thích chữ Thiên tử binh(*). Thường nhật, họ đóng chung quanh
kinh thành. Lúc vua đi đâu xa thì họ hộ giá. Khi lâm chiến, họ là
những người đi tiên phong trước mũi gươm, ngọn giáo của giặc.
* Tức là binh lính của nhà vua.
29
Loại quân thứ hai, không có quân số nhất định. Đó là những
người dân đến tuổi đầu quân, nhưng mỗi tháng chỉ lên cơ ngũ một
lần, gọi là đi phiên. Thời gian đi phiên không lâu. Hết phiên lại
về quê làm ruộng. Loại quân này đóng các châu quận, không có
lương, chỉ có người trưởng vì phải thường trực nên được cấp lúa
và vải. Hệ thống quân đội như vậy vừa được số đông lại không
phải phí tổn gì nhiều.
30
Bấy giờ thanh thế nước Đại Việt rất lẫy lừng, các nước nhỏ như
Chân Lạp, Chiêm Thành vẫn thường sang tiến cống. Ngay cả đối
với nước Trung Hoa hùng mạnh, vua Lý Thánh Tông vẫn giữ một
tư thế bình đẳng, đôi khi lại còn có vẻ cao ngạo nữa. Tuy vậy một
năm sau khi vua lên ngôi, nhà Tống sai sứ sang phong cho vua
làm Quận vương, nhà vua cũng chấp nhận để duy trì mối giao hảo.
31
Hai năm sau, nhân dịp vùng rừng núi có người bắt được hai con
thú lạ, vua bèn sai viên Ngoại lang Mai Nguyên Thanh đem sang
biếu cho vua Tống, nói gạt là con kỳ lân(*). Triều đình nhà Tống
xôn xao, ngỡ ngàng, vì cho đến bấy giờ, kỳ lân chỉ là một con vật
huyền thoại, không ai biết được thực hư như thế nào.
* Kỳ lân trong bộ “tứ linh” (xem tập Thăng Long buổi đầu) tượng trưng
cho thánh nhân và được tưởng tượng hình dáng gần giống con sư tử.
Có lẽ ở đây Lý Thánh Tông muốn ngầm ý nói với vua Tống: Đại Việt
đã có thánh nhân?
32
Sau, một viên quan nhà Tống là Điền
Huống cho rằng đấy không phải là kỳ lân,
bèn tâu lên vua Tống:
- Đó chỉ là con thú lạ, chứ không phải
con lân.
Điều này khiến các quan khác bàng
hoàng tức giận, muốn trả đũa Đại Việt.
33
Nhưng đại thần Tư Mã Quang phân tích:
- Ta chưa chắc chắn rằng đây là kỳ lân thực hay giả. Nhưng nếu
quả con lân thực mà xuất hiện không đúng lúc cũng không phải
là điềm lành. Còn nếu đúng là con lân giả, ta làm lớn chuyện thì
chỉ tổ cho người phương xa có dịp cười ta thôi.
Thế là, để giữ sĩ diện, nhà Tống đành phải ngậm bồ hòn làm
ngọt(*), vả lả, tặng quà cho sứ giả rồi làm lễ tiễn về.
(*) Quả bồ hòn gần giống quả nhãn, có vị rất đắng. Trước kia chưa có xà
phòng, dân chúng thường dùng quả này để giặt quần áo. Thành ngữ
“ngậm bồ hòn làm ngọt” để chỉ trạng thái miễn cưỡng phải chấp nhận
một chuyện không vừa lòng.
34
Đối với quan lại Trung Quốc cai trị tại các khu vực gần biên
giới Đại Việt, vua Thánh Tông tỏ ý coi thường. Vào năm 1060,
tại châu Lạng có một đảng cướp chạy sang huyện Như Ngao,
thuộc đất nhà Tống trốn lánh. Quan Châu mục châu Lạng là Thân
Thiệu Thái, chồng công chúa Bình Dương, đem quân vào địa giới
nhà Tống để truy lùng. Thân Thiệu Thái bắt được cả đảng cướp
cùng trâu ngựa không kể xiết.
35
Nhưng trong nhóm bị bắt lại có lẫn một viên quan của nhà
Tống là Dương Lữ Tài. Nhà Tống bèn sai người đi thương nghị,
lấy Ung châu làm nơi họp bàn. Vua Lý cũng sai sứ tới Ung châu.
Quan nhà Tống đem nhiều của cải ra đút lót cho sứ của Đại Việt
và gửi thư nhờ mang về dâng lên vua. Trong thư, quan nhà Tống
xin vua Lý trả lại Dương Lữ Tài. Nhà vua không đồng ý trao trả,
quan nhà Tống đành phải chịu, không dám gây hấn.
36
Dù biết Lý Thánh Tông không cung thuận, nhưng nhà Tống
vẫn gia phong thêm cho nhà vua vài tước hàm nữa, như năm 1064
phong là Đồng Binh Chương Sự, đến năm 1068 lại phong làm Nam
Bình vương. Bằng mặt nhưng không bằng lòng, nhà Tống vẫn
có ý xâm lấn Đại Việt. Trong khi ấy thì ở phía Nam, vua Chiêm
Thành cũng đang nuôi mộng trả thù cho cuộc thất trận năm 1047
dưới thời vua Lý Thái Tông.
37
Vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III) tổ chức vũ bị,
luyện tập quân lính và có ý muốn dựa thế của nhà Tống chống
Đại Việt, Chế Củ cho người sang cống nhà Tống phương vật(*)
để xin thần phục và xin mua ngựa. Vua Tống nắm lấy cơ hội, kết
liên cùng Chiêm Thành, tặng cho vua Chiêm một con ngựa bạch
và cho phép mua lừa ở Quảng Châu.
(*) Sản phẩm của địa phương.
38
Để đánh tan liên minh Tống - Chiêm Thành, vào mùa xuân
năm Kỷ Dậu (ngày 24 tháng 2 năm 1069), vua xuống chiếu thân
chinh đi đánh Chiêm Thành. Đề phòng sự cố soán nghịch trong
khi vua vắng mặt ở kinh thành, ngày 5 tháng 3 năm ấy, vua cho
cử hành lễ thề trọng thể tại sân Long Trì(*). Vua phong cho Lý
Thường Kiệt làm Đại tướng quân, lãnh ấn tiên phong, kiêm chức
Nguyên soái. Em của Lý Thường Kiệt là Thường Hiến cũng tham
gia trong đoàn quân chinh phạt.
(*) Lễ thề này thường gọi là lễ thề đền Đồng Cổ, đã được tổ chức thường xuyên
dưới triều vua Lý Thái Tông (xem tập Xây đắp nhà Lý).
39
Sau khi giao quyền bính cho Ỷ Lan Nguyên phi và Thái sư Lý
Đạo Thành, vào ngày 8-3-1069, vua hạ lệnh xuất quân và xuống
thuyền, rẽ sóng ra biển Đông. Thuyền lướt gió, trực chỉ hướng
Nam trong vòng nửa tháng thì đến cửa Nhật Lệ (Quảng Bình).
Tại đây, thủy quân Chiêm Thành đã đón đánh nhưng không chặn
được bước tiến của quân Đại Việt.
40
Ngày 3 tháng 4, đoàn thuyền của nhà vua đến Thị Nại (Quy
Nhơn). Bỗng nhiên có hai con chim cùng bay theo như thể dẫn
đường cho thuyền vậy. Đại quân đổ bộ ở bờ sông Tu Mao(*), sau
nhiều trận xáp chiến ác liệt đã chiếm được quốc đô Phật Thệ. Chế
Củ dẫn gia đình chạy về phía nam. Lý Thường Kiệt đem quân
đuổi đến biên giới Chân Lạp thì bắt được.
(*) Theo cụ Hoàng Xuân Hãn, thì đấy có thể là nhánh cực nam của hạ lưu
sông Tam Huyện (còn gọi là Tân An) ở Bình Định, theo Lý Thường
Kiệt, Sài Gòn, 1966, tr.63.
41
42
Vua khải hoàn trở về, được tiếp rước vô cùng long trọng. Để
chuộc tội, Chế Củ xin dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính
(Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay). Vua Lý Thánh Tông chấp
nhận và sai sứ sang nhà Tống báo tin. Trong lời biểu có viết: “Nước
Chiêm Thành đã lâu không tới cống. Tôi tự đem quân đánh...”.
Vua Tống tuy không bằng lòng nhưng cũng đành chấp nhận,
đồng thời từ bỏ ý đồ liên minh với Chiêm Thành.
43
Sau chiến thắng, vua Lý Thánh Tông ban
thưởng cho các quan quân có công trong cuộc
chinh chiến vừa qua. Lý Thường Kiệt được
phong lên làm Phụ quốc Thái phó. Ông còn được
nhà vua nhận làm con nuôi (tức là được đứng vào
hàng vương). Vua còn ghi công Thái sư Lý Đạo
Thành và Nguyên phi Ỷ Lan đã giữ yên được
đất nước trong lúc vua vắng mặt.
44
Đất nước ngày càng hưng thịnh. Hàng năm,
nhà vua vẫn giữ lệ cày Tịch Điền, không hề trễ
nải. Chiếu khuyến nông được ban ra (1056).
Ruộng nương xanh ngắt cây trái. Mỏ vàng mỏ
bạc được tích cực khai thác. Các ngành nghề
đều mở mang và phát triển. Ngân khố của nhà
vua đầy ắp đến nỗi có năm vua miễn thuế
(1055), hoặc có khi hủy cả một loại thuế
quan trọng như thuế cau (1066).
45
Nghề dệt truyền thống càng thêm phong phú nhờ du nhập
nghề dệt lĩnh Chiêm Thành. Nghề này do một người con gái
Chiêm Thành tên là Phan Thị Ngọc Đô truyền vào. Nhờ có tay
nghề độc đáo, nàng cùng 24 thị nữ được nhà vua đưa đến ở làng
Trích Sài cạnh bờ hồ Tây để sản xuất. Tại đây nàng truyền nghề
dệt lĩnh cho dân làng và tạo nên được một vùng chuyên nổi tiếng
về lĩnh Chiêm Thành. Khi nàng mất, dân làng lập miếu thờ, gọi
nàng là bà chúa Lĩnh và tôn làm tổ nghề của làng mình.
46
CHÚ THÍCH
Tỉnh lỵ ngày nay
Biên giới ngày nay
Chùa Thày
Tháp Báo Thiên
Chùa Lý Triều Quốc sư
Chùa một cột
Chùa Láng
Chùa Tam Sơn
Chùa Dặn
Đền Lý Bát Đế
Chùa Tiêu Sơn
Chùa tháp Phật tích
Chùa Bách Môn
Chùa Giạm
Chùa Hàm Long
Chùa Bà Tấm
Chùa Hương Lăng
Chùa Đậu
Chùa tháp Long Đọi
Chùa Côn Sơn
Chùa Quỳnh Lâm
Chùa Phù Vân Yên Tử
Chùa Non nước
Chùa Sùng Nghiêm
diện thánh
Chùa tháp Tường Long
Chùa trăm gian Hà Nội
Vua Lý Thánh Tông cũng là người sùng đạo Phật. Ngài cho
xây thêm rất nhiều chùa, tháp và đúc nhiều tượng Phật, như chùa
Đông Lâm, chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu - Bắc Ninh (1055), chùa
Thiên Phúc và Thiên Thọ (1057), chùa Sùng Nghiêm Báo Đức ở
châu Vũ Ninh (1059), chùa Nhị Thiên Vương ở Đông Nam thành
Thăng Long (1070)... Nay một số chùa còn dấu tích như chùa Phật
Tích (Bắc Ninh), chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh), chùa tháp Đồ
Sơn (Hải Phòng)... đều được dựng vào năm 1057.
47
Trên núi Lan Kha (huyện Tiên Du, Bắc Ninh) có một tượng
Phật A Di Đà bằng đá, cao hai thước rưỡi do nhà vua sai Lang
tướng Quách Mãn thực hiện năm 1057. Đặc biệt có chùa Sùng
Khánh Báo Thiên (gọi tắt là Báo Thiên), dựng vào năm 1056 ở
trong thành Thăng Long rất độc đáo. Chùa xây xong, vua cho lấy
12.000 cân đồng trong kho để đúc chuông và thảo một bài văn
để khắc vào đó.
48
 





