TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Trang học liệu của nhà trường Trang học liệu trực tuyến của nhà trường được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy – học, tự học và đổi mới phương pháp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đây là nơi tập hợp, lưu trữ và chia sẻ các học liệu số như: bài giảng, giáo án, đề kiểm tra, phiếu học tập, video minh họa, tài liệu tham khảo… do giáo viên trong trường biên soạn và tuyển chọn. Thông qua trang học liệu, giáo viên thuận tiện trong việc trao đổi chuyên môn, sử dụng tài nguyên chung, đồng thời hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố kiến thức và học tập mọi lúc, mọi nơi. Trang học liệu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và hình thành thói quen tự học, học tập suốt đời cho học sinh.

    Ảnh ngẫu nhiên

    💕💕 Đọc sách là gieo hạt giống cho trí tuệ.” – Ngạn ngữ phương Tây💕hư viện tốt là nền móng của một nền giáo dục tốt.” – Khuyết danh💕

    Video sự tích cây nêu đất

    Lịch sử Việt Nam bằng tranh 22- Chiến thắng quân Mông lần thứ nhất (1)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 15h:43' 17-11-2024
    Dung lượng: 6.5 MB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    Tái bản lần thứ 2

    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
    General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data

    Chiến thắng quân Mông lần thứ nhất / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân
    biên soạn ; họa sĩ Nguyễn Trung Tín. - Tái bản lần 2. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
    96 tr. : minh họa ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.22).
    1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 1225-1400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
    II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnam — History — Trần dynasty, 1225-1400 — Pictorical works.
    959.7024 — dc 22
    C533

    LỜI GIỚI THIỆU
    Người xưa vẫn thường bảo rằng: “Cơ trời, vận nước”. Cơ trời
    xoay vần, vận nước gặp cơn nguy khốn. Người Mông Cổ - vốn vẫn
    bị nhà Tống miệt thị là bọn man di – phút chốc bỗng trở nên hùng
    mạnh, nuôi mộng bành trướng, xua quân đi khắp Á – Âu tiến hành
    xâm lược. Nước ta tuy nhỏ, nhưng địa thế chiến lược, làm bàn đạp
    tấn công nhà Tống, thâu tóm Trung Hoa, nên chẳng thể nằm ngoài sự
    láo liên của chúng. Chúng khinh bạc cho rằng ta chỉ là tiểu quốc, chỉ
    cần hù dọa rồi lại vỗ về lừa bịp, chiếm được nước ta như trở bàn tay.
    Ấy vậy mà chúng chẳng thể ngờ rằng: Nước ta tuy nhỏ, dân thưa
    mà lại chẳng thiếu người hào kiệt. Vận nước gặp buổi lâm nguy cũng
    là lúc rõ mặt kẻ anh hùng. Dẫu cũng có kẻ bạc nhược, sinh lòng hám
    lợi mê danh, nhưng bên bậc minh quân chẳng thiếu bề tôi trung, lại
    thao lược việc quân, quên thân vì nước. Chẳng những thế mà, dân –
    quân một lòng, chẳng tiếc tấm thân, cùng nhau hướng về vận nước.
    Vậy nên, thế giặc mạnh mà ta không nao núng, chẳng mấy chốc mà
    đuổi được kẻ thù khuất dạng, sử cũ còn ghi danh.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 22 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh “Chiến thắng quân Mông lần thứ nhất”
    phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
    Trung Tín thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 22 của bộ Lịch sử
    Việt Nam bằng tranh.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    Từ những bộ lạc riêng rẽ, Thành Cát Tư Hãn đã thống
    nhất và dựng nên đế quốc Mông Cổ. Từ đây, mộng bành
    trướng của người Mông Cổ bắt đầu được thực hiện. Họ
    xua quân đi khắp Á – Âu, khởi đầu bằng việc xâm lược
    Tây Hạ ở phía bắc Trung Hoa.
    Với dự định dùng Đại Việt làm bàn đạp tiêu diệt Nam
    Tống, Mông Cổ đã xua binh xâm lược nước ta. Dẫu cuộc
    chiến khởi đầu với sự thất bại của Đại Việt nhưng cuối
    cùng Đại Việt đã đánh đuổi được quân xâm lược, bảo vệ
    vẹn toàn độc lập chủ quyền của nước ta.

    4

    Thành Cát Tư Hãn

    Vào đầu thế kỷ XIII, nước Đại Việt xảy ra những cuộc nội loạn
    cuối nhà Lý, đầu nhà Trần. Trong khi ấy, tại vùng thảo nguyên
    thuộc nước Mông Cổ ngày nay, Thiết Mộc Chân (Temujin) đánh
    gục các bộ lạc riêng lẻ, thống nhất đất nước, lên làm Đại Hãn tức
    Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan). Đại Hãn là danh xưng của
    hoàng đế nước Mông Cổ.
    5

    Bấy giờ, người Mông Cổ sinh sống theo lối du mục. Đi đến đâu,
    họ dựng lều trại đến đấy. Của cải quan trọng của họ là bò, cừu và
    quý nhất là ngựa. Quân Mông Cổ rất có tài cưỡi ngựa, bắn cung.
    Sức mạnh của quân đội Mông Cổ chủ yếu dựa đoàn kỵ binh (lính
    cưỡi ngựa). Có câu truyền tụng về sức mạnh của quân Mông Cổ
    như sau: “Hễ nơi nào có vó ngựa quân Mông Cổ đi qua, thì nơi
    ấy cỏ không thể nào mọc lên được nữa”.
    6

    Ngoài ra, quân Mông Cổ còn có chiến thuật đánh trận mãnh
    liệt, khi ẩn khi hiện. Khi bắt đầu giao phong, toán kỵ binh ào ạt
    xông thẳng vào đối phương. Nếu đối phương không nao núng,
    toán kỵ binh ấy tản ra ngay, nhường chỗ cho toán khác tấn công.
    Và cứ thế, từng toán liên hoàn áp đảo cho đến khi hạ gục được
    họ. Trong trường hợp không hạ được đối phương bằng cách ấy,
    quân Mông Cổ xua súc vật vào trận địa hoặc bao vây địch cho
    đến khi hết lương thực.
    7

    Với đoàn quân thiện chiến ấy, Thành Cát Tư Hãn tung hoành
    khắp Âu - Á. Các quốc gia ở phía bắc Trung Quốc như Tây Hạ,
    Kim, Triều Tiên... và cả miền Trung Á đều không kháng cự được,
    trở thành thuộc địa của Mông Cổ. Sau khi Thành Cát Tư Hãn chết,
    con là Oa Khoát Đài (Ogodai) lên thay, vẫn tiếp tục con đường
    xâm lăng. Đế quốc Mông Cổ được thành lập. Cuộc viễn chinh
    tiến về phía Tây, chiếm lấy vùng đất sông Volga và xâm nhập
    vào châu Âu. Cả châu Âu rúng động.
    8

    Năm 1251, cháu nội của Thành Cát Tư
    Hãn là Mông Kha (Môngke) lên ngôi Hãn.
    Đế quốc Mông Cổ bấy giờ đã rất rộng lớn,
    trải dài từ bờ Thái Bình Dương cho đến tận
    bờ Hắc Hải. Nhưng quân Mông Cổ không
    dừng ở đấy. Mông Kha có kế hoạch xâm
    chiếm hai nước Tống và Đại Lý (thuộc
    Trung Quốc hiện nay).

    9

    Năm 1252, em của Mông Kha là Hốt Tất Liệt (Kublai) cử Ngột
    Lương Hợp Thai (Uriyankhadai) đánh lấy nước Đại Lý (là vùng
    đất Vân Nam thuộc Trung Quốc hiện nay, phía bắc Đại Việt). Vua
    nước Đại Lý thua trận, bị bắt, phải đầu hàng. Sau chiến thắng ấy,
    quân Mông Cổ chuẩn bị tấn công nước Tống.

    10

    Trước khi xuất quân đánh Tống, Mông Kha làm lễ tế cờ trên
    bờ sông Karulan rồi chia quân ra làm bốn cánh. Ba cánh quân
    có nhiệm vụ vượt sông Trường Giang, đánh từ phía bắc xuống;
    trong đó có một cánh do Mông Kha đích thân chỉ huy. Cánh quân
    thứ tư do Ngột Lương Hợp Thai dẫn đầu, xuất phát từ Đại Lý,
    có nhiệm vụ đánh chiếm Đại Việt để làm bàn đạp đánh vào sau
    lưng nước Tống.

    11

    Để dễ dàng chiếm Đại Việt, Ngột Lương Hợp Thai lệnh cho
    một đoàn sứ giả đến Đại Việt chiêu hàng. Đoàn sứ giả nghênh
    ngang đến Thăng Long, ra mắt vua Trần Thái Tông và uốn lưỡi
    dụ dỗ. Chúng bảo rằng quân Mông Cổ chỉ mượn đường qua Đại
    Việt để tiến đánh nước Tống chứ không có ý đồ xâm lấn Đại Việt.
    Vua Trần Thái Tông không cần nghe dài dòng, hạ lệnh tống giam
    đoàn sứ giả vào ngục.
    12

    Là người nhìn xa trông rộng, nhà vua dự đoán sẽ có ngày vó
    ngựa Mông Cổ xâm lấn Đại Việt, nên đã có chính sách quân sự
    rất sáng suốt. Đó là chính sách “ngụ binh ư nông”: Khi trong nước
    có cảnh chiến tranh thì triều đình cứ theo hộ khẩu, gọi tất cả trai
    tráng vào lính. Vào thời bình, họ được trở về quê làm ruộng. Nhờ
    đó, việc tuyển quân rất nhanh chóng nhưng cũng rất kỹ lưỡng, chỉ
    chọn những trai tráng khỏe mạnh.
    13

    Ngoài ra, các thân vương quý tộc cũng có quyền tuyển mộ lính
    và lập nên quân đội của riêng mình. Số quân lính này cộng với
    quân đội của triều đình tạo thành một lực lượng rất hùng mạnh.
    Có sách cho rằng quân số dưới thời này lên đến 200.000 người.
    Các tướng lĩnh chỉ huy lại là những người tinh thông võ nghệ. Họ
    đều bắt buộc phải học tập chiến thuật ở Giảng võ đường.
    14

    Giảng võ đường được thành lập vào năm 1253, là lò dạy về nghệ
    thuật quân sự. Tại đây, các tướng lĩnh học hỏi binh pháp và tập
    dàn quân đánh trận. Nếu tập trận nhỏ thì bố trận ở hồ Lục Thủy
    (còn gọi là hồ Thủy Quân, nay là hồ Hoàn Kiếm. Lúc đó hồ Lục
    Thủy còn rộng lớn, thông với sông Cái). Nếu tập trận lớn thì dàn
    quân ở Đông Bộ Đầu trên sông Cái (tức sông Hồng). Về vũ khí,
    quân nhà Trần còn được trang bị hồi hồi pháo (tức máy ném đá)
    và hỏa khí (bắn lửa bằng ống đồng).

    15

    Với lực lượng quân sự như thế, vua Trần Thái Tông vững lòng
    nghênh chiến. Vào tháng 9 âm lịch năm Đinh Tị (1257), nhà vua
    ra lệnh cho viên tướng trẻ Trần Quốc Tuấn đem quân thủy bộ
    lên phòng ngự vùng biên giới, đồng thời xúc tiến việc sắm sửa
    vũ khí. Lệnh ban xuống cho toàn dân khẩn trương rèn dao, mài
    kiếm, vót tên.

    16

    Trong khi vua Trần Thái Tông chuẩn bị binh mã thì Ngột Lương
    Hợp Thai vẫn đợi tin tức của đoàn sứ giả. Đợi mãi không được,
    y áp sát quân đến biên giới phía bắc của Đại Việt, đồng thời liên
    tiếp sai hai đoàn sứ giả nữa đến chiêu dụ vua Trần. Nhưng hai
    đoàn sau cũng bặt vô âm tín. Ngột Lương Hợp Thai vô cùng tức
    giận bèn ra lệnh xuất quân.

    17

    Cánh quân đi đầu của Mông Cổ tiến dọc theo bờ sông Thao, lấn
    sâu vào đất Đại Việt. Còn một cánh do con trai của Ngột Lương
    Hợp Thai là A Châu (Aju, có sách gọi là A Truật) đi sau một đoạn
    để yểm trợ. Hai cánh quân này vừa tiến vừa thăm dò tình hình
    quân Trần để cấp báo cho đại quân ở phía sau.

    18

    Ngay khi quân giặc vừa rục rịch xuất binh, ở Thăng Long vua
    Trần đã nhận được tin cáo cấp từ biên giới báo về. Nhà vua bàn
    bạc với các tướng và chọn Bình Lệ Nguyên, một cánh đồng rộng
    lớn nằm giữa sông Thao và sông Cà Lồ (nay thuộc Mê Linh, Hà
    Nội) để dàn trận. Đây là nơi dòng sông có nhiều rạch cắt ngang
    như những chiến hào thiên nhiên rất thuận tiện cho việc ẩn quân
    để chống giặc cũng như rút quân khi cần thiết.
    19

    Vua Trần Thái Tông thân chinh cầm quân chống giặc. Ngài
    được một dũng tướng tài ba là Lê Tần giúp sức. Sử sách ghi lại
    rằng Lê Tần là người gan dạ, tính tình điềm tĩnh mà lại đa mưu
    túc kế. Ông cùng bàn bạc với nhà vua để bày thế trận đồng thời
    vẫn không quên hun đúc tinh thần chiến đấu của quân sĩ. Nhờ thế,
    quân tướng trên dưới đều một lòng quyết tâm đánh giặc.

    20

    Trong lúc gấp rút chuẩn bị, quan
    Chưởng ấn (quan giữ các ấn của nhà
    vua) đem giấu ấn báu lên trên xà ngang
    nóc cung điện Đại Minh và chỉ đem
    theo ấn mật dùng trong nội bộ. Nhưng
    nửa đường, chiếc ấn mật bị rơi mất. Để
    chỉ huy việc quân, vua đành phải sai thợ
    khắc một chiếc ấn bằng gỗ(*) dùng tạm.
    * Ấn là tượng trưng quyền uy của vua, thường
    được đúc bằng vàng ròng hay đồng đỏ.

    21

    Dù mất ấn nhưng việc chuyển quân vẫn tiến hành khẩn trương.
    Thuyền binh của Đại Việt chở quân, voi, ngựa đến Bình Lệ Nguyên
    (thuộc Vĩnh Phúc ngày nay). Quân lính và voi, ngựa đổ bộ lên cánh
    đồng, dàn trận san sát. Thuyền được đưa tránh xuống bến Lãnh Mỹ
    ở khúc sông phía dưới (nay là xóm Bến, làng Thịnh Kỷ, Mê Linh,
    Hà Nội), có nhiệm vụ đón bộ binh nếu thế trận trên bờ thất lợi.

    22

    A Châu cho quân đi dò thám, thấy tình hình chuẩn bị ứng chiến
    của quân đội nhà Trần bèn thông báo cho cha. Được tin báo, vào
    ngày 12 tháng chạp âm lịch (17-1-1258), Ngột Lương Hợp Thai
    thân hành đem đại binh xâm nhập vào đất Đại Việt và gặp hai
    cánh đi trước ở vào khoảng Việt Trì ngày nay. Hợp quân xong,
    đại quân Mông Cổ tiến đến nơi quân Đại Việt chốt giữ và dàn trận
    bên kia bờ sông để chuẩn bị điều binh tấn công.

    23

    Tướng tiên phong của Mông Cổ là Triệu Triệt Đô (Cacakdu,
    có sách phiên âm là Triệt Triệt Đô) được giao nhiệm vụ dẫn 1000
    quân đi trước, vượt qua sông nhưng không đánh ngay mà chờ cánh
    quân tập hậu đánh vào sau lưng quân Đại Việt mới xông ra cướp
    thuyền, chặn đường rút lui và bắt sống vua Trần. Việc vượt sông
    tập kích phía sau do cánh quân của A Châu đảm nhiệm, phối hợp
    với đại quân do Ngột Lương Hợp Thai đích thân chỉ huy tấn công
    chính diện vào quân Trần.
    24

    25

    Trước sức mạnh hung hãn của quân Mông Cổ thiện chiến, vua
    Trần Thái Tông không nề hà hiểm nguy, tự mình dẫn quân tướng
    cự địch. Nhờ địa hình chiến trường phức tạp, nên lúc đầu quân
    Trần chiếm lợi thế, hạ gục nhiều tên lính Mông Cổ.

    26

    27

    Nhưng đại quân Mông Cổ lại gồm toàn những tay thiện xạ
    bách phát bách trúng và giàu kinh nghiệm trận mạc. Không tấn
    công được người, chúng dùng cung tên bắn loạn xạ vào voi ngựa
    của quân Đại Việt khiến những con vật này hoảng sợ, lồng lên.
    Cuối cùng, thế trận bị vỡ, quân Đại Việt phải rút lui theo đường
    sông như đã định.

    28

    Trong khi đó, Triệu Triệt Đô đã kéo được quân đến gần bến
    giấu thuyền của quân Đại Việt, cố gắng thực hiện âm mưu cướp
    thuyền để hòng bắt sống vua Trần. Nhưng toán quân bảo vệ thuyền
    tuy lực lượng ít vẫn liều chết xông ra ứng chiến, chặn ngang quân
    của Triệu Triệt Đô. Nhờ thế, vua Trần thoát được lên thuyền.

    29

    30

    Kỵ binh Mông Cổ truy kích, bám theo thuyền của quân Trần
    đang xuôi dòng. Chúng vừa phóng ngựa dọc theo bờ, vừa ra sức
    bắn tên như mưa hòng giết chết vua Trần Thái Tông. Lê Tần nhanh
    trí, vớ tấm ván thuyền che cho nhà vua. Đến khi chiến thuyền vượt
    ra khỏi tầm bắn, tấm ván chi chít tên cắm như lông nhím.

    31

    32

    Lo lắng vì không hoàn
    thành nhiệm vụ được giao,
    quân của Triệu Triệt Đô cố
    truy đuổi mãi. Nhưng thuyền
    vua nhờ xuôi dòng và nhờ
    quân sĩ hết lòng chèo chống
    nên đi rất nhanh, chúng đành
    phải quay về. Thấy không bắt
    được vua Trần, Ngột Lương
    Hợp Thai tức giận cho gọi
    tướng tiên phong lên hỏi tội.
    Triệu Triệt Đô hoảng sợ, uống
    thuốc độc tự vẫn.
    33

    Trong khi ấy, tại bản doanh nhà Trần, một số tướng muốn điều
    động hết lực lượng từ Thăng Long lên để đánh một trận sống mái
    với giặc. Nhưng Lê Tần, vốn là người trông xa biết rộng, ra sức
    can ngăn. Ông tâu cùng nhà vua: “Nếu bây giờ mà ta dốc hết lực
    lượng ra cố đánh, thì chẳng khác nào một con bạc vét hết đồng
    tiền cuối cùng quăng vào chiếu bạc, tai họa cháy túi là tất nhiên”.
    34

    Nghe lời khuyên phải,
    nhà vua đem quân trở về
    để bảo toàn lực lượng
    và tính kế lâu dài. Đến
    cầu Phù Lỗ (trên sông
    Cà Lồ, cách cầu Phù Lỗ
    ngày nay một đoạn), vua
    cho quân phá cầu và lập
    phòng tuyến ở bờ nam
    để kìm chân quân Mông
    Cổ cho đại quân rút lui
    an toàn. Việc vừa xong
    thì đạo kỵ binh giặc
    cũng vừa ập đến.

    35

    Tuy không có cầu cũng không có thuyền bè, nhưng vốn là
    những tên thiện chiến, giàu kinh nghiệm, kỵ binh Mông Cổ vẫn
    tìm được cách qua sông. Chúng cho một toán đi ven bờ sông dò
    đường. Toán này dùng cung tên bắn xuống nước. Nếu chỗ nào
    cạn thì mũi tên sẽ cắm xuống đất mà không nổi lên. Và như thế,
    chúng cho ngựa men theo những chỗ không có tên nổi, dẫn đoàn
    kỵ binh qua sông, tiếp tục truy kích quân Đại Việt.

    36

    Phú Lương hầu, một tướng trong dòng họ nhà Trần, đứng ra
    chặn địch. Ông hy sinh nhưng quân Đại Việt đã rút lui an toàn.
    Đại quân về đóng tại bến Đông Bộ Đầu ở phía đông thành Thăng
    Long(*), sau đó nhà vua cho quân rút về đóng ở sông Thiên Mạc(**),
    cách Thăng Long khoảng 20 cây số về phía nam.
    * Ở dốc Hàng Than, phía trên cầu Long Biên, Hà Nội.
    ** Ở Khoái Châu, Hưng Yên ngày nay.

    37

    Dân chúng cũng được huy động rút khỏi
    Thăng Long. Giữa lúc tình hình khẩn cấp, bà
    Linh Từ - vợ của Thái sư Trần Thủ Độ - đã đứng
    ra quán xuyến cho hoàng gia cùng vợ con các
    tướng rút theo được bình yên. Bà còn lo toan mọi
    việc hậu cần: từ gạo, muối, chăn, mền và ngay
    cả vũ khí nhẹ cũng được đem theo hết sức chu
    đáo. Nhờ đó, vua và các tướng yên tâm chuẩn
    bị chống giặc.

    38

    Quân Mông Cổ kéo vào thành Thăng
    Long, hí hửng nghĩ rằng đã làm chủ được một
    kinh đô giàu có đầy của cải. Nhưng càng tiến
    vào, chúng càng thất vọng. Nhân dân hưởng
    ứng triều đình, bỏ thành mà đi. Thăng Long
    chỉ còn là tòa thành vắng lặng, vườn không
    nhà trống. Quân Mông Cổ không thể cướp
    bóc được gì nhiều.

    39

    Sực nhớ các đoàn sứ giả đã phái đi trước đây, Ngột Lương
    Hợp Thai cho quân lùng sục mãi mới tìm thấy chúng trong ngục
    thất. Tất cả đều bị trói nằm lăn lóc. Có một tên sợ quá đã chết.
    Ngột Lương Hợp Thai tức lồng lên, cho người đi cướp bóc khắp
    nơi để trả thù.
    40

    Trong khi ấy, vua Trần Thái Tông tìm mọi cách đẩy lui quân
    xâm lăng. Nhà vua đi thuyền đến gặp người em ruột tên là Trần
    Nhật Hạo để vấn kế. Trước thế giặc quá lớn, Trần Nhật Hạo khiếp
    sợ đến nỗi không nói được mà cũng không đứng dậy được. Ông
    ta run run lấy ngón tay chấm xuống nước rồi viết vào mạn thuyền
    hai chữ “nhập Tống”, ý khuyên vua nên chạy qua Trung Quốc để
    dựa vào nước Tống.

    41

    Ngao ngán trước tinh thần bạc nhược của người em, vua Trần
    Thái Tông quay thuyền đi đến gặp Thái sư Trần Thủ Độ. Trái
    hẳn với Trần Nhật Hạo, Trần Thủ Độ khẳng khái tâu: “Đầu thần
    chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác”. Nói đoạn, ông cùng
    nhà vua bàn định kế hoạch đánh giặc. Việc trước tiên là lo lương
    thảo, việc thứ hai là lo binh khí.

    42

    Về lương thảo thì nhà vua không cần bận tâm vì toàn dân đoàn
    kết góp gạo nuôi quân. Còn binh khí thì bà Linh Từ lại một lần
    nữa tỏ ra rất năng nổ. Bà vận động dân chúng thu nhặt những binh
    khí bị rơi vãi khi rút lui, đồng thời khẩn trương rèn giáo mác, vót
    tên góp thêm cho quân đội. Bà còn thân hành đi gom góp vũ khí
    ở các nhà giàu có. Nhờ quân dân chung tay góp sức, chẳng mấy
    chốc, quân Đại Việt đã lấy lại sức mạnh.

    43

    Trong khi đó, tình trạng của quân Mông Cổ thì lại quá tồi tệ.
    Cảnh vườn không nhà trống ở Thăng Long làm cho chúng khổ
    sở. Lương thực mang theo đã cạn mà lại không cướp bóc được gì
    nhiều nên chúng thường xuyên bị đói. Chúng chỉ nghĩ đến việc
    kiếm cái ăn để lấp vào dạ dày đang trống rỗng. Ngày Tết đầu năm
    đã cận kề mà chẳng được rượu chè đình đám, chúng không còn
    tinh thần chiến đấu nữa.

    44

    Thấy thời cơ đã đến, vào ngày 24 tháng chạp (29-1-1258), vua
    Trần Thái Tông ra lệnh xuất quân. Ngài cùng Thái tử Hoảng (sau
    này là vua Trần Thánh Tông) ngự trên lâu thuyền, chỉ huy đoàn
    thủy quân từ Thiên Mạc ngược dòng sông Hồng rồi ào ạt tiến về
    Thăng Long.

    45

    46

    Đoàn thủy quân đối trận với quân Mông Cổ ở Đông Bộ Đầu.
    Việc xáp chiến chỉ xảy ra chớp nhoáng. Quân ta khí thế đang
    hăng, càng đánh càng thắng. Chẳng bao lâu, quân Mông Cổ đã
    phải tháo chạy.

    47

    Chạy đến châu(*) Quy Hóa (tương đương
    với miền Yên Bái - Lào Cai hiện nay), giặc
    tưởng rằng đã thoát thân. Nào ngờ chủ trại
    là Hà Bổng đã mai phục sẵn, cho dân binh
    xông ra đánh, đoạt lại những của cải mà
    chúng đã cướp bóc được. Quân Mông Cổ
    đại bại, cố chạy thoát về Vân Nam. Chúng
    đói và mất hết ý chí, lại khiếp sợ đến nỗi
    không còn sức cướp bóc ở dọc đường. Vì
    thế dân chế diễu, gọi chúng là “giặc Phật”.
    * Nơi nào xa xôi hay miền núi thì gọi là châu.
    Quan cai trị ở đấy gọi là chủ trại.

    48
     
    Gửi ý kiến

    Học từ sách là học từ tinh hoa của nhân loại.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NAM ĐỒNG - TP. HẢI PHÒNG !