TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Trang học liệu của nhà trường Trang học liệu trực tuyến của nhà trường được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy – học, tự học và đổi mới phương pháp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đây là nơi tập hợp, lưu trữ và chia sẻ các học liệu số như: bài giảng, giáo án, đề kiểm tra, phiếu học tập, video minh họa, tài liệu tham khảo… do giáo viên trong trường biên soạn và tuyển chọn. Thông qua trang học liệu, giáo viên thuận tiện trong việc trao đổi chuyên môn, sử dụng tài nguyên chung, đồng thời hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố kiến thức và học tập mọi lúc, mọi nơi. Trang học liệu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và hình thành thói quen tự học, học tập suốt đời cho học sinh.

    Ảnh ngẫu nhiên

    💕💕 Đọc sách là gieo hạt giống cho trí tuệ.” – Ngạn ngữ phương Tây💕hư viện tốt là nền móng của một nền giáo dục tốt.” – Khuyết danh💕

    Video sự tích cây nêu đất

    Lịch sử Việt Nam bằng tranh 30 - Sự tàn bạo của giặc Minh (1)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 15h:47' 17-11-2024
    Dung lượng: 5.3 MB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    Tái bản lần thứ 4

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Lâm Chí Trung
    Biên tập hình ảnh: Phan Thành Nam
    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH
    TP.HCM

    Sự tàn bạo của giặc Minh / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ;
    họa sĩ Nguyễn Quang Vinh. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
    96 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.30).
    1. Việt Nam — Lịch sử — Thời kỳ đô hộ của nhà Minh, 1407-1427 — Sách tranh. 2.
    Việt Nam — Lịch sử — Khởi nghĩa Lam Sơn, 1418-1428 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
    II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnam — History — Colonial period of Ming dynasty, 1407-1427 — Pictorial works.
    2. Vietnam — History — Lam Sơn Uprising, 1418-1428 — Pictorial works.
    959.70252 — dc 22
    S938

    LỜI GIỚI THIỆU
    Năm 1407, sau khi bắt được Hồ Hán Thương, nhà Minh đã
    đánh bại nhà Hồ và bắt đầu đặt ách thống trị lên nước ta. Từ
    đây, nước ta thêm một lần nữa bị Bắc thuộc. Những năm tháng
    đau thương của cả dân tộc ta trong thời kỳ bị quân Minh đô hộ
    đã được bậc danh nhân Nguyễn Trãi ghi lại một cách xót xa:
    Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
    Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
    (Trích Bình Ngô đại cáo, bản dịch của Ngô Tất Tố)
    Chúng bắt dân ta lên rừng xuống biển, vào nơi sơn lam chướng
    khí, tìm vật lạ. Lại sưu cao, thuế nặng dân nào chịu xiết. Chẳng
    những thế, thâm hiểm hơn, chúng còn muốn đồng hóa dân ta, xóa
    đi bản sắc nước nhà. Nhưng dân ta vốn chẳng yếu hèn, lại sẵn
    có truyền thống đánh đuổi ngoại xâm, vì vậy mà có người đứng
    lên hiệu triệu, cùng văn thần tướng giỏi, nhân dân hết lòng phò
    tá ngôi phục giang sơn. Dù thất bại vì lý do gì, xong đó cũng là
    những tiền đề quan trọng cho khởi nghĩa Lam Sơn sau này.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 30 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh “Sự tàn bạo của giặc Minh” phần lời
    do Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
    Quang Vinh thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 30 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    Từ những mất mát, đau thương bởi sự bạo tàn của quân
    giặc, ngay từ năm 1407 cho đến năm 1419, nhiều cuộc
    khởi nghĩa chống quân Minh đã liên tục nổi dậy trên khắp
    đất nước. Tuy đều bị thất bại nhưng những cuộc khởi nghĩa
    này đã để lại cho lịch sử những tấm gương anh hùng thiết
    tháo sáng ngời.
    Mời bạn cùng trở lại với những năm tháng đen tối nhất
    mà cả dân tộc ta phải sống dưới ách thống trị tàn bạo của
    quân Minh; cũng là lúc bắt đầu của những cuộc chiến
    đấu gian khổ nhưng đầy hào hùng của cha ông ta thuở ấy.

    4

    Ngay từ giữa năm 1407, nghĩa là ngay sau khi
    nhà Hồ hoàn toàn đại bại, giặc Minh đã vất bỏ ngọn
    cờ giả hiệu “phù Trần diệt Hồ”. Gần như toàn bộ
    vua tôi nhà Hồ đều bị bắt và bị giải về Trung Quốc,
    nhưng nhà Trần thì chẳng hề được dựng lên.

    5

    Giặc quyết thủ tiêu nền độc lập của nước ta và mưu toan biến
    nước ta thành một bộ phận của lãnh thổ nhà Minh. Chúng mượn tay
    bọn Việt gian mà đặc biệt là tên Mạc Thúy, lấy danh nghĩa là “kỳ
    lão” của nước ta, dâng thư về triều Minh nói rằng: “Họ Trần nay
    không còn ai mà đất nước An Nam lại vốn là vùng Giao Châu cũ
    của thiên triều, vậy xin thiên triều chia đặt quận huyện như xưa”.

    6

    Đầu tháng 6 năm Đinh Hợi (1407), vua Minh lúc ấy là Minh
    Thành Tổ hạ chiếu đổi tên nước ta là Giao Chỉ. Bấy giờ tướng
    giặc Trương Phụ tâu về triều là đã lấy được tất cả 27 phủ và châu,
    92 huyện với 1.858.400 hộ dân. Khoảng 1 năm sau (1408), y về
    Trung Quốc dâng lên vua Minh bản đồ nước ta: “Đông Tây dài
    1760 dặm, Nam Bắc dài 2800 dặm”. Theo đề nghị của Trương
    Phụ, vua Minh chia nước ta làm 15 phủ, tất cả quản lĩnh 36 châu
    và 191 huyện, chưa kể 5 châu tự trị khác.
    7

    Để kịp thời đối phó với mọi hành vi phản kháng của nhân dân
    ta, giặc đồng thời lập nên hai hệ thống chính quyền khác nhau.
    Một là chính quyền quân sự do các tướng của nhà Minh trực tiếp
    nắm giữ. Hai là chính quyền dân sự gồm các quan lại do nhà Minh
    phái sang. Cả hai chính quyền cùng hợp sức để khống chế và bóc
    lột nhân dân ta.

    8

    Trong guồng máy cai trị, giặc nham hiểm sử dụng một số tên
    Việt gian phản phúc làm tay sai. Đó là Mạc Thúy giữ chức Tả
    Tham nghị, Mạc Huân giữ chức Hữu Tham nghị, Lương Nhữ Hốt
    giữ chức Tả Tham chính, Nguyễn Huân giữ chức Tả Bố chính v.v...
    Ngoài ra, giặc còn bắt hàng loạt tráng dinh nước ta vào lính, tạo
    nên một đội ngũ ngụy binh với mưu đồ “dùng người Việt, đánh
    người Việt”.
    9

    Hàng loạt những đồn ải và thành lũy được dựng lên, hàng loạt
    những hình phạt man rợ được đem ra áp dụng. Ai mới hơi có ý
    chống đối, dù là nhỏ nhặt, giặc cũng bắt đem mổ bụng moi gan
    hoặc thiêu sống, nấu trong vạc dầu, đem rán mỡ v.v... Chúng hy
    vọng với những biện pháp cứng rắn đó, chúng sẽ dập tắt được sự
    phản kháng của dân ta và mau chóng lập được nền đô hộ vững
    chắc lên toàn cõi.

    10

    Sử cũ cho hay, phàm là nơi quan lại nhà Minh làm việc hoặc
    là nơi hiểm yếu, chúng đều bắt dân ta xây thành đắp lũy để phòng
    giữ lâu dài. Tính chung cả nước lúc giờ có đến 39 thành lũy lớn.
    Một số thành lũy của quân Minh vẫn còn dấu vết đến tận hôm nay
    như dấu vết thành Cổ Lộng ở Ý Yên (Nam Định), dấu vết thành
    Điêu Diêu (ở Gia Lâm, Hà Nội) v.v...
    11

    Để đảm bảo sự liên lạc thường xuyên và chặt chẽ giữa các địa
    phương, trên các trục lộ giao thông chính, cứ khoảng 10 dặm,
    quân Minh lại dựng một nhà dịch trạm. Cả nước ta lúc này có đến
    374 nhà dịch trạm, mỗi nơi có một đơn vị lính đóng giữ. Đơn vị
    lính này không những bảo đảm liên lạc và phục vụ việc đi lại của
    quan lại nhà Minh mà còn sẵn sàng đàn áp mọi sự phản kháng
    của dân ta khi cần thiết.
    12

    Ngay sau khi vừa xây dựng xong guồng máy chính quyền
    đô hộ, giặc tiến hành thống kê dân số và đo đạc đất đai nhằm
    thực hiện chính sách bóc lột đối với dân ta. Theo bản tấu của
    Trương Phụ gửi cho vua Minh năm 1408, dân số ở vùng đồng
    bằng nước ta là 3.120.000 người, còn ở vùng trung du và miền núi
    là 2.087.000 người. Tuy nhiên, con số đó chưa hẳn là thực tế vì
    việc thống kê dân số tuy gắt gao nhưng do sự phản
    kháng bằng hình thức lẩn trốn của nhân dân
    ta, giặc không sao nắm được một cách
    đầy đủ và chính xác lực lượng dân
    cư từng vùng.

    13

    Muốn đo đạc đất đai, làm cơ sở đánh thuế, giặc đã huy động
    một lực lượng đông đảo quan quân rải ra khắp mọi miền của đất
    nước ta. Tính đến năm 1417, trừ phủ Thăng Hoa (vùng Quảng
    Nam và Quảng Ngãi ngày nay) là nơi xa xôi chưa đo đạc được,
    còn lại chúng đã thống kê được 17.442 khoảnh và 35 mẫu lẻ.
    Bấy giờ mỗi khoảnh là 100 mẫu. Nói khác hơn, giặc đã nắm
    được trên 1.744.200 mẫu đất. Hiển nhiên đó là đất ruộng, đất
    canh tác lâu đời.

    14

    Đô hộ nước ta, quân Minh đã thực hiện chế độ vơ vét rất tàn
    nhẫn. Chế độ này thể hiện tập trung ở hai khoản chính. Đó là thuế
    khóa và cống phẩm. Trên hình thức, thuế của nhà Minh không có
    gì khác với thuế thời Hồ, nhưng trong thực tế lại cao hơn gấp 3
    lần. Lý do là vì quân Minh bắt dân ta tính một mẫu thành ba mẫu.

    15

    Trong mọi khoản thu, cống phẩm là khoản thu nặng nề và phức
    tạp hơn cả. Đối với vùng rừng núi, quân Minh bắt dân ta phải nạp
    sừng tê, ngà voi, lông chim quý (như chim công, chim trĩ...), thú
    hiếm... cùng các loại hương liệu (như trầm hương, quế...). Đó là
    thu theo định kì. Ngoài ra, hễ dân có của ngon vật lạ, bất kể là từ
    nguồn gốc nào, cũng đều phải đem nạp cho quan lại nơi sở tại.
    16

    Đối với vùng đồng bằng, giặc thu các đặc sản nổi tiếng của ta
    đem về Trung Quốc. Ba loại đặc sản thường đứng đầu trong danh
    mục cống phẩm và quân Minh vơ vét nhiều nhất là tơ lụa, sơn
    và quạt giấy. Theo thống kê của chính sử nhà Minh thì từ năm
    1416 đến năm 1423, chúng đã thu về Trung Quốc tất cả 12.471
    tấm lụa (mỗi tấm tương đương khoảng 10m), 15.100 cân sơn và
    75.965 cái quạt giấy.

    17

    Đối với vùng ven biển, đặc sản quân
    Minh vơ vét nhiều nhất là ngọc trai, san
    hô và các thứ hải sản khác. Để có những
    thứ này, quân Minh buộc nhân dân ta
    làm việc trong điều kiện cực kì khó khăn
    và nguy hiểm. Nhiều người đã phải chết
    một cách thảm thương khi lặn xuống đáy
    biển để mò trai tìm ngọc. Ở vùng ven
    biển, quân Minh quản lý rất chặt việc
    sản xuất và kinh doanh muối, hòng qua
    đó khống chế nhân dân các vùng khác.

    18

    Để dễ bề kiểm soát và đề phòng mọi mưu toan nổi dậy, cũng
    là có điều kiện vơ vét thêm của cải của dân ta, quân Minh lập ra
    rất nhiều Ty Tuần kiểm. Trên danh nghĩa, ty này là cơ quan có
    nhiệm vụ thu thuế và lưu thông hàng hóa, song trong thực tế thì
    đây chính là những đồn kiểm soát đặc biệt của quân Minh. Từ
    khoảng năm 1417 trở đi, cả nước ta có đến 187 Ty Tuần kiểm như
    thế. Số thuế quân Minh thu được từ các ty này cũng vô cùng lớn.

    19

    Từ khi thiết lập được hệ thống chính quyền đô hộ trên toàn cõi
    nước ta, quân Minh thực hiện chính sách bắt người ngày càng ráo
    riết. Lúc đầu, chúng chỉ mới bắt người vào lính, nhưng sau đó,
    chúng bắt bất cứ ai xét thấy cần. Lực lượng thứ nhất mà chúng
    bắt là nho sĩ có tài của nước ta. Mưu đồ của chúng là thủ tiêu đội
    ngũ trí thức, đẩy dân ta vào tình trạng ngu dốt, tối tăm để khống
    chế dễ dàng hơn.

    20

    Lực lượng thứ hai mà quân Minh bắt và bắt rất nhiều là những
    người thợ thủ công lành nghề. Họ bị đưa về Trung Quốc và bị
    buộc phải phục dịch cho những công trình xây dựng của triều đình
    nhà Minh. Riêng năm 1407, chỉ một mình Trương Phụ đã bắt và
    đem về Trung Quốc 7.700 thợ đủ mọi ngành nghề. Trong số này
    có Nguyễn An là một thợ thủ công rất lừng danh.
    21

    Năm 1417, nhà Minh cho dời đô từ Nam Kinh đến Bắc Kinh.
    Công trình kiến tạo to lớn này đã tiêu tốn không biết bao nhiêu là
    của cải và công sức. Để có đủ nhân công, quân Minh tìm mọi cách
    để bắt phu. Ngoài số phu người Trung Quốc, hàng vạn người Việt
    cũng bị bắt đưa về Trung Quốc làm phu dịch. Bấy giờ, tất cả đàn
    ông từ 16 tuổi đến 60 tuổi đều phải đi phu. Mãn hạn đi phu sang
    Trung Quốc phần lớn dân phu đều lâm vào cảnh sức cùng, lực kiệt.

    22

    Trong chính sách bắt người của quân Minh, tàn bạo hơn cả
    vẫn là việc bắt phụ nữ và trẻ em. Phụ nữ bị bắt để mua vui cho
    giặc. Còn trẻ em là trai mà khôi ngô tuấn tú thì chúng bắt đem về
    Trung Quốc, nuôi dạy theo lối nhồi nhét những tư tưởng coi rẻ tổ
    tiên dân tộc mình và sau đó, biến tất cả thành hoạn quan để khi
    có điều kiện thì đưa lực lượng này về quấy phá nước ta.

    23

    Bấy giờ, những người ái nam ái nữ
    trong xã hội cũng bị quân Minh ráo riết
    lùng bắt. Họ bị đưa về Trung Quốc huấn
    luyện và được phong một chức vụ nhỏ
    trong hàng hoạn quan để rồi sau đó thả
    về nước ta làm tay sai cho bọn quan lại
    đô hộ. Tuy không nhiều nhưng trong số
    này cũng có kẻ đã thành trợ thủ nguy
    hiểm của giặc.

    24

    Trong mọi chính sách của giặc, nguy hiểm hơn cả là chính sách
    đồng hóa. Giặc bắt dân ta bỏ tập tục của tổ tiên để theo phong
    tục tập quán của nhà Minh. Từ cách làm nhà ở, cách ăn mặc đến
    cả cách để tóc đều phải rập theo khuôn mẫu của dân Minh. Cũng
    từ đây kẻ thù bắt dân ta phải tuân thủ mọi định chế của pháp luật
    do triều Minh định ra. Những thành tựu to lớn của lịch sử pháp
    quyền nước nhà như Hình thư thời Lý (biên soạn xong năm 1042),
    Hoàng triều đại điển và Hình thư thời Trần (biên soạn xong năm
    1341) đều bị xóa bỏ.
    25

    Giặc điên cuồng tìm mọi cách để hủy hoại nền văn hóa nước ta.
    Chúng sục sạo khắp nơi, tìm kiếm và tịch thu sách vở quý của ta đem về
    Trung Hoa. Trong số đó có Đại Việt sử ký, 30 quyển, do Bảng nhãn Lê
    Văn Hưu soạn; Việt thế chí do Hồ Tông Thốc soạn: Binh thư yếu lược
    do Trần Hưng Đạo soạn; Kiến trung thường lễ, 10 quyển, do vua Trần
    Thái Tông soạn. Nhiều loại sách khác đã bị chúng đốt bỏ. Chưa thời
    kỳ nào sách vở của tổ tiên ta bị tổn hại khủng khiếp như thời kỳ này(*).
    * Theo thống kê của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, mục Văn lịch
    chí thì quân Minh đã tịch thu trên 30 bộ sách lớn, rất có giá trị để đem về Trung Quốc.

    26

    Không chỉ sách vở, quân Minh còn chú ý đến tất cả những
    hiện vật có chạm hoặc khắc chữ. Những gì có thể tịch thu được
    là chúng tịch thu. Những gì không tịch thu được thì chúng hủy
    hoại. Hoàng loạt bia đá bị chúng đập nát. Tất cả những hiện vật
    có chữ đều bị chúng đốt hoặc đập phá tan hoang. Hầu như chẳng
    còn công trình văn hóa vật chất nào của tổ tiên lại có may mắn
    tồn tại một cách nguyên vẹn.

    27

    Hiện vật bị quân Minh tịch thu nhiều nhất
    là các loại đồng, như nồi đồng, mâm đồng,
    thau đồng, dụng cụ lao động bằng đồng...
    (trong nhà dân); chuông đồng, chiêng đồng,
    khánh đồng, tượng đồng, vạc đồng... (trong
    cung đình, chùa chiền, đến miếu). Quân
    Minh đã phá hủy 2 trong 4 tứ đại khí(*) của
    nước ta là chuông Quy Điền và vạc Phổ
    Minh được làm từ thời Lý.
    * là bốn kỳ quan, bốn vật quốc bảo và là bốn công
    trình nghệ thuật bằng đồng nổi tiếng của văn
    hóa thời Lý, Trần.

    28

    Gắn liền với việc cướp phá
    sách vở và những hiện vật có chữ,
    giặc tìm đủ mọi cách để hạn chế
    việc học hành và thi cử của
    nhân dân ta. Lúc đầu, nhà
    Minh đã qui định số người
    được đi thi Cống sĩ ở địa
    phương như sau: Mỗi phủ
    mỗi năm được cử hai người,
    mỗi châu hai năm được cử ba
    người và mỗi huyện mỗi năm
    được cử một người. Đó chỉ mới
    là số người được cử đi thi, còn
    số người đỗ thì hẳn nhiên là
    không đáng kể. Từ năm 1418
    trở đi, con số quy định đó
    giảm chỉ còn một nửa.
    29

    Trong khi đó, những hoạt động mê tín
    dị đoan thì mỗi ngày một tăng do sự bắt
    buộc của giặc Minh. Ngay trong năm Giáp
    Ngọ (1414), tướng giặc là Hoàng Phúc đã hạ
    lệnh cho tất cả các phủ, châu và huyện đều
    phải lập đền thờ thần Núi, thần Sông, thần
    Mây, thần Gió của địa phương mình. Mỗi
    năm, các địa phương phải tổ chức hai lần tế
    lễ. Bởi lệnh này, cả nước ta bấy giờ có đến
    444 đàn tế lễ, trong đó có 148 đàn tế thần.

    30

    Năm 1418, giặc tiến hành một loạt những biện pháp thống trị
    rất khắt khe. Muốn củng cố địa vị của mình để dốc toàn lực vào
    việc đàn áp những cuộc khởi nghĩa của dân ta, và cũng để xiết chặt
    mối dây ràng buộc đối với xã hội ta, chúng ta đẩy mạnh hai hoạt
    động quan trọng: một là kiểm kê và nắm chắc hộ tịch của dân; hai
    là nắm lấy nhu cầu thiết yếu nhất của con người, đó là muối ăn.

    31

    Để kiểm kê và nắm được hộ tịch
    của dân ta, năm 1419, Tổng binh Lý
    Bân dâng thư về triều, tâu xin cho Giao
    Chỉ được làm và cấp hộ thiếp cho dân, đồng
    thời lập hoàng sách cho tất cả các địa phương
    theo chế độ của Trung Quốc. Hộ thiếp là tờ khai
    nhân khẩu của mọi gia đình, còn hoàng sách là
    cuốn sổ có bìa màu vàng dùng để ghi chép về
    nhân đinh, đất đai và các loại thuế khóa, sưu
    dịch. Đây là hai phương tiện rất lợi hại của giặc
    để đô hộ dân ta.

    32

    Mặt khác, quân Minh tiến hành quản lý một cách rất gắt gao
    tất cả những hoạt động sản xuất và kinh doanh muối. Bởi chúng
    biết rõ rằng, con người có thể nhịn được nhiều thứ nhưng thật khó
    mà nhịn nổi muối. Vì thế, chúng lập ra cơ quan Giao Chỉ Diêm
    khóa Đề cử Ty. Nhiệm vụ của cơ quan này là kiểm soát thật chặt
    tất cả các hộ sống bằng nghề muối của nước ta.

    33

    Tất cả muối sản xuất được, chúng bắt nạp hết vào Diêm khố
    (kho trữ muối). Giao Chỉ Diêm khóa Đề cử Ty là cơ quan duy
    nhất độc quyền phân phối muối từ các Diêm khố. Bấy giờ, tất cả
    những người buôn bán muối đều phải đến cơ quan này để xin giấy
    phép, gọi là giấy khám hợp. Giấy này chỉ có giá trị trong một thời
    gian nhất định. Những trường hợp đặc biệt, cơ quan Bố chính Ty
    cũng có thể cấp giấy này. Những người buôn mỗi chuyến dưới
    mười cân muối gọi là Tiểu khám hợp. Còn mười cân trở lên gọi
    là Đại khám hợp.

    34

    Bất cứ ai buôn muối hoặc chuyên chở muối mà không có giấy
    khám hợp đều bị quân Minh trị tội rất nặng. Chúng còn quy định
    mỗi người đi đường chỉ được mang theo tối đa là ba bát muối và
    một lọ mắm. Năm Quý Tỵ (1413), tướng giặc là Trương Phụ từng
    nhiều lần sai quân lính đem muối đi đổi lương thực và thực phẩm.
    Đối với vùng rừng núi và trung du, chúng bán muối với giá rất cao.

    35

    Càng ngày, sức chống trả của nhân dân ta cùng quyết liệt, vì vậy
    giặc Minh càng phải tăng cường lực lượng. Nhưng số quân tăng
    kéo theo nhu cầu về binh lương cũng tăng. Những biện pháp bóc
    lộ với nhiều mánh khóe nói trên vẫn không thể giúp quân Minh
    có đủ quân lương. Năm Đinh Dậu (1417), tướng giặc là Trần Trí
    tâu về triều rằng, mỗi năm quan quân nhà Minh ở nước ta cần đến
    692.400 thạch lương nhưng chúng chỉ mới thu được 57.700 thạch.

    36

    Vì thế, năm Tân Sửu (1421), tướng giặc là
    Lý Bân đã đề ra kế hoạch lập đồn điền, bắt
    quân đội phải làm ruộng để tự túc một phần
    lương thực và thực phẩm. Mỗi đồn điền là
    một đơn vị quân đội, vừa sản xuất vừa khống
    chế nhân dân các vùng xung quanh. Để lập
    đồn điền, quân Minh đã tiến hành tước đoạt
    rất nhiều đất đai của nhân dân ta. Hàng loạt
    người mất đi ruộng đất và bị đuổi ra khỏi
    quê cha đất tổ.

    37

    Lý Bân quy định, tất cả quân lính ở Tả quân, Hữu quân, Trung
    quân, Tiền quân (tên bốn đơn vị quân chủ lực của nhà Minh) đều
    phải chia nhau đi làm đồn điền. Lính Minh thì cứ mười người lấy
    từ một đến ba người, lính Việt thì lấy từ sáu đến bảy người, tùy
    theo từng vùng. Ở một số đơn vị đặc biệt như đơn vị đóng ở vùng
    Diễn Châu (Nghệ An ngày nay) thì quân lính người Minh không
    đi làm đồn điền mà giao hết cho binh lính người Việt.

    38

    Như vậy, chính sách lập đồn điền thực chất chỉ là nhằm tước
    đoạt ruộng đất của nhân dân ta chứ không phải là dùng quân đội
    vào việc khẩn hoang, mở mang diện tích canh tác. Cai quản đồn
    điền là quân Minh nhưng lực lượng sản xuất chủ yếu trong đồn
    điền lại là binh lính người Việt. Nhà Minh muốn thông qua đồn
    điền để vừa có lương ăn vừa chia rẽ người Việt, tạo ra sự ngộ nhận
    rằng binh sĩ người Việt đi tước ruộng đất của người Việt.
    39

    Nhận thấy cách thu cống phẩm như buổi đầu mới xâm lược
    nước ta không còn thích hợp, giặc Minh lập ra hai cơ quan là
    Kim trường Cục và Châu trường Cục. Kim trường Cục chuyên
    trông coi việc tổ chức khai mỏ, đặc biệt là mỏ vàng và mỏ bạc.
    Lực lượng lao động trong các Kim trường Cục là dân phu người
    Việt. Họ phải làm việc chẳng khác gì tù khổ sai. Bấy giờ trên đất
    nước ta có tất cả năm Kim trường Cục, tập trung thường xuyên
    hàng ngàn dân phu.

    40

    Còn Châu trường Cục là cơ quan
    chuyên trông coi việc tổ chức khai
    thác những sản phẩm quý ở vùng biển
    nước ta, đặc biệt là ngọc trai. Đến đây,
    việc tìm ngọc được tổ chức với quy mô
    lớn, hoạt động dưới sự kiểm soát chặt
    chẽ của quân Minh. Làm việc trong
    các Châu trường Cục cũng là dân phu
    người Việt. Nhiều người đã chết vì kiệt
    sức hoặc bị cá mập nuốt.

    41

    Bấy giờ, do tham lam, muốn có những vật quý lạ, triều đình
    nhà Minh liên tiếp xuống lệnh bắt dân ta phải đi tìm các loài thú
    kỳ dị như: Hươu trắng, voi trắng, vượn bạc má, gà chín cựa, ngựa
    chín hồng mao, rùa chín đuôi hoặc có chữ trên mai v.v... Công
    việc này cũng đã khiến dân ta hao tổn không biết bao nhiêu công
    sức, tiền của và ngay cả tính mạng. Nhiều người đã bỏ xác nơi
    rừng sâu núi hiểm.

    42

    Chính sách thống trị tàn bạo của
    quân Minh đã đẩy nhân dân ta vào
    bước đường cùng. Mất mùa và đói
    kém triền miên. Hàng loạt nghề thủ
    công bị đình đốn. Hàng loạt những
    vùng đất có tiếng là phì nhiêu đã
    bị bỏ hoang. Nỗi oán hờn của nhân
    dân ta với quân Minh đô hộ ngày
    càng chồng chất.

    43

    44

    Sự bàn bạo của giặc Minh đã thức tỉnh tinh thần phản kháng
    mạnh mẽ của nhân dân ta. Giặc càng đàn áp bóc lột nặng nề, phong
    trào đấu tranh của nhân dân ta lại càng quyết liệt. Dưới thời thuộc
    Minh, dù giặc thi hành những hình phạt man rợ và khống chế bằng
    mọi cách, vẫn có hàng loạt cuộc khởi nghĩa nổ ra. Trong đó, cuộc
    khởi nghĩa to lớn nhất, tiêu biểu nhất là khởi nghĩa do Trần Ngỗi
    và Trần Quý Khoáng lãnh đạo, nổi dậy vào tháng 10 năm 1407 ở
    xã Mô Độ, Trường Yên (nay là Yên Mô, Ninh Bình).

    45

    Trần Ngỗi cũng tức là Trần Quỹ, hiệu là Giản Định, vốn là
    hoàng tử thứ tám của vua Trần Nghệ Tông (1370-1372). Thời Hồ
    (1400-1407), nhiều quý tộc họ Trần bị giết hại nhưng Trần Ngỗi
    vẫn được bình an vô sự. Năm 1407, khi quân Minh xâm lược thống
    trị nước ta, Trần Ngỗi lánh nạn ở phủ Trường Yên (Ninh Bình)
    cùng với thân quyến và một số gia khách của mình.

    46

    Khi khởi nghĩa, để có danh nghĩa chính thống hiệu triệu nhân
    dân. Trần Ngỗi tự xưng là Giản Định đế. Bấy giờ, hào kiệt bốn
    phương, đặc biệt là những người còn nặng lòng với họ Trần, cùng
    nghĩa sĩ khắp nơi, đã nô nức kéo về Trường Yên tụ nghĩa. Trong
    số các bậc hào kiệt lúc bấy giờ, nổi bật hơn cả là cha con Đặng Tất
    và Đặng Dung, cha con Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị,
    Thái học sinh Nguyễn Biểu. Họ là những người có tài cầm quân,
    khí phách mạnh mẽ hơn người, xông pha trận mạc không chút sợ
    hãi. Chính họ là chỗ dựa tin cậy của Giản Định đế.

    47

    Đặng Tất là người làng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc (nay thuộc
    huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh. Hiện vẫn chưa biết ông sinh vào
    năm nào. Thời Hồ, Đặng Tất được giao chức Đại Tri châu, đứng
    đầu châu Thăng Hoa(*). Khi quân Minh xâm lược và đô hộ nước
    ta. Đặng Tất vẫn được tiếp tục cai quản châu Thăng Hoa như cũ.
    * Châu này tương ứng với đất Quảng Nam - Đà Nẵng bây giờ.

    48
     
    Gửi ý kiến

    Học từ sách là học từ tinh hoa của nhân loại.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NAM ĐỒNG - TP. HẢI PHÒNG !