TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Trang học liệu của nhà trường Trang học liệu trực tuyến của nhà trường được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy – học, tự học và đổi mới phương pháp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đây là nơi tập hợp, lưu trữ và chia sẻ các học liệu số như: bài giảng, giáo án, đề kiểm tra, phiếu học tập, video minh họa, tài liệu tham khảo… do giáo viên trong trường biên soạn và tuyển chọn. Thông qua trang học liệu, giáo viên thuận tiện trong việc trao đổi chuyên môn, sử dụng tài nguyên chung, đồng thời hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố kiến thức và học tập mọi lúc, mọi nơi. Trang học liệu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và hình thành thói quen tự học, học tập suốt đời cho học sinh.

    Ảnh ngẫu nhiên

    💕💕 Đọc sách là gieo hạt giống cho trí tuệ.” – Ngạn ngữ phương Tây💕hư viện tốt là nền móng của một nền giáo dục tốt.” – Khuyết danh💕

    Video sự tích cây nêu đất

    Lịch sử Việt Nam bằng tranh 32 - Chiến thắng quân Mông lần thứ hai (1)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 15h:49' 17-11-2024
    Dung lượng: 5.8 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    1

    Tái bản lần thứ tư

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Quang Vinh
    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai / Trần Bạch Đằng ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên
    soạn ; họa sĩ Nguyễn Huy. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
    112tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.23).
    1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Trần, 1225-1400 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
    II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnam — History — Trần dynasty, 1225-1400 — Pictorial works.
    959.7024 — dc 22
    C533

    Lời giới thiệu
    Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần
    thứ nhất, Nguyên Mông lại nuôi dã tâm bành trướng, thâu
    tóm Đại Việt. Bấy giờ, từ một dân tộc thiểu số, Nguyên
    Mông đã tiêu diệt nhà Tống, vươn lên thành một đế quốc
    hùng mạnh, trải rộng từ Á sang Âu.
    Nhận biết được dã tâm ấy, nhà Trần đã lợi dụng lúc
    hòa hoãn, Trần Thủ Độ và Trần Hưng Đạo đã gắng công
    điều luyện binh mã, có sự chủ động trong việc đối phó
    với kẻ thù. Với lòng yêu nước, đoàn kết quyết tâm của
    quân và dân nhà Trần, một lần nữa, Đại Việt đã đẩy lùi
    cuộc xâm lược của vó ngựa Nguyên Mông đã gây sóng
    gió trên toàn cầu lúc bấy giờ.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 23
    của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chiến thắng giặc
    Nguyên Mông lần thứ hai” phần lời do Tôn Nữ Quỳnh
    Trân biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể
    hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 23 của
    bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    Nhà xuất bản Trẻ

    3

    Cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ hai
    của Đại Việt kéo dài trong khoảng bốn tháng, từ cuối tháng
    chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng tư năm Ất Dậu (khoảng
    từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1285).
    Dưới sự chỉ huy tài tình của vua quan nhà Trần bấy giờ
    cùng với tinh thần đoàn kết toàn dân, Đại Việt đã một lần
    nữa đánh tan kẻ thù xâm lược, giữ yên bờ cõi đất nước.

    4

    Sau thất bại năm 1258, nhà Nguyên luôn luôn sách nhiễu, chờ
    cơ hội để xâm chiếm Đại Việt. Chúa Nguyên là Hốt Tất Liệt liên
    tiếp cho đòi vua Trần Nhân Tông phải thân hành sang chầu, đồng
    thời bắt cống nộp hết thứ này đến thứ khác. Trước những đòi hỏi
    ngang ngược ấy, vua tôi nhà Trần vừa tỏ ra kiên quyết nhưng cũng
    cố nhẫn nhịn để tránh nạn binh đao. Năm 1280, nhà Nguyên lại
    sai Sài Thung sang Đại Việt để kiếm cớ gây hấn.

    5

    Sài Thung là một tên kiêu căng. Vào đến Thăng Long, hắn hợm
    mình là người của nhà Nguyên, nghênh ngang cưỡi ngựa đi thẳng
    vào tận cung điện. Quân sĩ cản lại, bị hắn lấy roi ngựa đánh chảy
    máu đầu. Hắn được đưa đến ở tại điện Tập Hiền. Vào chỗ nghỉ,
    hắn nằm lỳ không chịu tiếp ai. Ngay cả tướng nhà Trần là Trần
    Quang Khải, chú ruột vua Nhân Tông, thay mặt nhà vua đến tiếp
    kiến, hắn cũng không thèm ngồi dậy.
    6

    Trần Hưng Đạo muốn dò biết ý đồ của Sài
    Thung, bèn cắt tóc, mặc áo vải, giả dạng một
    nhà sư đến thăm. Thấy nhà sư, Sài Thung sai
    pha trà mời uống và tiếp chuyện. Nhưng khi
    nhận ra Trần Hưng Đạo, hắn đã ngầm lệnh
    cho thuộc hạ vờ lỡ tay, chọc mũi tên vào đầu
    ông đến chảy máu. Vậy mà Trần Hưng Đạo
    vẫn không đổi sắc mặt. Sài Thung có ý khâm
    phục, nên khi ông ra về, hắn đứng dậy tiễn.

    7

    Sau một thời
    gian hống hách tại
    Thăng Long, hạch sách đe
    dọa đủ điều, Sài Thung quay về
    nước. Hiểu rõ dã tâm của nhà Nguyên và để quan hệ đỡ căng
    thẳng, vua Trần Nhân Tông cử chú họ là Trần Di Ái dẫn đầu đoàn
    sứ bộ sang chầu thay mình. Vào đến đất Nguyên, Trần Di Ái bị
    Hốt Tất Liệt chiêu dụ, chấp nhận làm tay sai nên được phong là
    An Nam Quốc vương tức là vua nước Đại Việt. Hắn theo viên
    tướng của nhà Nguyên là Sài Thung dẫn 1.000 quân về nước với
    ý đồ lên làm vua thay Trần Nhân Tông.
    8

    Đoàn của Trần Di Ái và Sài Thung đến gần biên giới thì vua
    Trần Nhân Tông đã biết tin. Nhà vua cho quân đón sẵn ở ải Nam
    Quan. Vừa thấy quân Trần, Di Ái sợ quá, định bỏ trốn nhưng không
    thoát. Hắn bị bắt, bị lột hết chức tước và sung xuống làm lính. Còn
    Sài Thung thì bị tên bắn chột một mắt, phải quay về. Ý đồ dựa
    vào Di Ái để cai trị Đại Việt của nhà Nguyên tan thành mây khói.

    9

    Đầu năm 1283, với âm mưu tạo hai gọng kìm để dễ bề xâm lấn
    Đại Việt, chúa Nguyên sai một đạo thủy quân do Toa Đô(*) cầm
    đầu, vượt biển tấn công Chiêm Thành, hy vọng thôn tính nước
    này để làm bàn đạp đánh vào phía nam Đại Việt, phối hợp với
    đại quân của chúng kéo từ Trung Quốc xuống. Nhưng cuộc xâm
    lăng này gặp thất bại trước sự chiến đấu kiên cường của người
    Chiêm Thành. Tuy vậy, Toa Đô vẫn được lệnh đem quân đóng ở
    biển phía bắc của Chiêm Thành để chờ.
    * tên Mông Cổ là Sogetu.

    10

    Năm sau, để chuẩn bị đánh Đại Việt, Hốt Tất Liệt phong cho
    con là Thái tử Thoát Hoan(*) tước hiệu Trấn Nam vương, có nghĩa
    là Vua trấn giữ phương Nam. Lại cho những tên tướng dày kinh
    nghiệm trận mạc, đã từng đánh thắng nhà Tống như Lý Hằng, A
    Lý đi theo trợ giúp Thoát Hoan. Chúng cho thu gom một số lương
    thảo rất lớn và bắt dân Trung Quốc phải làm sai dịch vận chuyển
    theo đoàn quân. Nhiều người không chịu được, đã tìm cách bỏ trốn.

    * tên Mông Cổ là Toghan.

    11

    Tin tức về việc chuẩn bị của quân Nguyên được quân thám mã
    liên tục cấp báo về triều. Vua tôi nhà Trần không hề bị bất ngờ.
    Ngay từ cuối năm Nhâm Ngọ (1282), để chuẩn bị cho Toa Đô đi
    đánh Chiêm Thành, chúa Nguyên đã sai người sang đòi Đại Việt
    phải cho mượn đường và giúp lương thực. Biết rõ âm mưu của
    chúng, vua Trần đã triệu tập các vương hầu, quan lại để nghị bàn
    kế sách chống giặc. Đó là hội nghị nổi tiếng ở Bình Than (ở Lục
    Đầu, Chí Linh, Hải Dương nơi gặp nhau của 6 con sông cùng đổ
    ra biển, cũng là nơi hội tụ của hai con đường thủy bộ chính từ
    Trung Quốc sang). Nhà vua chọn địa điểm này vì khi ấy sứ nhà
    Nguyên vẫn còn ở Thăng Long.
    12

    Đây là hội nghị rất quan trọng và
    cần thiết để Thượng hoàng cùng vua
    và các quan thảo luận và thống nhất
    quyết tâm kháng chiến bảo vệ đất
    nước. Hội nghị đang họp thì có ông
    Trần Khánh Dư (vốn là tướng nhưng
    phạm tội, phải về quê bán than; nay
    nghe tin, ông tìm đến, được nhà vua
    tha tội, phục hồi chức tước và cho
    cùng ngồi nghị sự.

    13

    Lúc này hội nghị đang sôi nổi bàn đến chiến lược
    đối với quân Nguyên. Một số kẻ cho rằng nên để quân
    Nguyên mượn đường đi đánh Chiêm Thành, số lại bàn
    nên cống nạp hậu hĩnh cho chúng để xin hoãn binh.
    Nhưng Trần Hưng Đạo cùng các tướng cương quyết
    xin đem quân đi trấn giữ các nơi hiểm yếu để sẵn sàng
    chống giặc. Trần Khánh Dư cũng tán đồng ý ấy nên nhà
    vua rất hài lòng, phong cho ông làm Phó Đô tướng quân,
    giữ trọng trách bảo vệ cửa khẩu Vân Đồn.

    14

    Trong hội nghị Bình Than, có một dũng tướng lại không được
    dự họp. Đó là Trần Quốc Toản, dù được theo tới Bình Than, nhưng
    vì mới 16 tuổi, nên phải đứng ngoài. Trần Quốc Toản lấy làm uất
    ức, tay đương cầm quả cam bóp bẹp ra lúc nào không hay. Khi
    tan hội, các vương hầu ra về sắm sửa binh thuyền để cự địch. Trần
    Quốc Toản cũng về tụ họp thân thuộc của mình, lập nên một đạo
    quân gồm hơn ngàn người với lá cờ đề sáu chữ “Phá cường địch,
    báo hoàng ân” (Phá giặc mạnh, báo ơn vua) để tham gia đánh giặc.
    15

    Sau đó, nhà vua phong cho Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
    làm Quốc công Tiết chế, nhận trọng trách thống lĩnh toàn quân;
    Chiêu Minh vương Trần Quang Khải làm Thượng tướng Thái sư,
    cùng hợp lực với Trần Quốc Tuấn chỉ huy ba quân chống xâm
    lăng. Trần Quang Khải (1241-1294) là con thứ ba của vua Thái
    Tông, em cùng mẹ với Thượng hoàng Thánh Tông và là chú ruột
    của vua Nhân Tông. Ông là người thông minh, học rộng, văn võ
    toàn tài lại nổi tiếng là người thanh liêm, lâu nay vẫn được triều
    đình nể trọng.

    16

    Trước đây, Trần Quang Khải
    và Trần Quốc Tuấn không hòa
    hợp với nhau do hiềm khích
    giữa hai gia đình(*). Nhưng đến
    lúc này, cả hai ông đều đặt
    quyền lợi quốc gia lên trên,
    đoàn kết lại với nhau. Sử cũ
    chép rằng, một lần Trần Quốc
    Tuấn từ Vạn Kiếp về kinh đô,
    Trần Quang Khải đã xuống
    thuyền của ông và hai người
    cùng chơi cờ, uống rượu với
    nhau suốt cả ngày.
    * Xem Thành lập nhà Trần.

    17

    Biết trời lạnh, Quang Khải ngại tắm, Quốc Tuấn bèn sai nấu
    nước thơm và tự tay tắm gội cho Quang Khải. Ông đùa bảo:
    “-Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”. Quang Khải cũng đùa
    lại: “- Hôm nay được ngài Quốc công tắm hầu”. Hai bên cư xử
    với nhau thân tình chứng tỏ trong lòng không còn niềm nghi kỵ
    nào. Điều đó khiến tướng sĩ thêm tin tưởng ở triều đình và càng
    đoàn kết một lòng.

    18

    Để khích lệ mọi người đứng lên chiến đấu vì đại nghĩa, Trần
    Hưng Đạo viết và truyền bài Hịch tướng sĩ nổi tiếng. Trong hịch
    có đoạn tha thiết: “... Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,
    ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa được xả thịt
    lột da, nuốt gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân này phơi
    ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng...”

    19

    Hịch truyền ra, tướng sĩ
    được khích lệ, ai nấy một lòng
    diệt giặc. Họ lấy mực xâm lên
    tay hai chữ “sát Thát” (giết quân
    Nguyên) để tỏ rõ quyết tâm của mình.
    Trần Hưng Đạo phân công các tướng
    đi trấn giữ các nơi, riêng ông thống
    lĩnh đại quân đóng ở cửa Nội Bàng.
    Do đã sớm phòng bị chu đáo từ trước
    như thế nên vua tôi nhà Trần hoàn toàn
    chủ động trong việc chuẩn bị kháng
    chiến.

    20

    Lúc này, 50 vạn quân Nguyên chia làm hai cánh, một cánh
    theo đường Vân Nam đã áp sát biên giới phía tây Đại Việt. Còn
    đại quân Nguyên do Thoát Hoan thống lĩnh, rầm rầm rộ rộ tiến
    đến gần biên giới Lạng Sơn. Thoát Hoan lại giở trò cũ, cho người
    đưa thư sang vua Trần nói rằng y không có ý đánh Đại Việt, chỉ
    mượn đường đi đánh Chiêm Thành, hy vọng quân dân nhà Trần
    tưởng thật, không phòng bị để dễ dàng đánh chiếm.

    21

    Chẳng lạ gì dã tâm của giặc,
    vua Trần Nhân Tông sai người
    mang thư trả lời: “Từ nước tôi
    đến Chiêm Thành, cả đường
    thủy đường bộ thảy đều không
    tiện”. Thấy không khuất phục
    được vua Trần, Thoát Hoan lại sai Tả
    Thừa tướng là A Lý sang đưa thư cho Trần
    Hưng Đạo hăm dọa sẽ phá tan bờ cõi Đại Việt nếu không cho
    y mượn đường. Trần Hưng Đạo không thèm trả lời, cũng không
    thèm giữ lễ, cho người đuổi thẳng A Lý.
    22

    Trước tình thế vô cùng khẩn cấp,
    để quyết tâm của triều đình xuống đến
    dân chúng và cũng để xem lòng dân
    trước nạn nước thế nào, Thượng hoàng
    Thánh Tông cho triệu mời các bô lão
    về hội nghị ở điện Diên Hồng. Vào đầu
    tháng 2 năm 1285, theo lời kêu gọi của
    nhà vua, từ khắp mọi miền đất nước,
    các bô lão đã không quản đường xa
    cách trở, khí trời lạnh lẽo, nô nức kéo
    về kinh thành Thăng Long. Thượng
    hoàng và nhà vua cho đặt tiệc
    ngay tại thềm điện để
    đón tiếp.

    23

    24

    Đứng trước các vị trưởng lão râu tóc bạc phơ, Thượng hoàng
    hỏi: “Nên hòa hay nên chiến?”. Lập tức cả ngàn tiếng nói cùng hòa
    làm một trong khí thế bừng bừng, tất cả hô vang: “Quyết chiến,
    quyết chiến”. Lòng can đảm và ý chí quật cường của các bô lão
    làm nức lòng triều đình cùng dân chúng. Hội nghị Diên Hồng mãi
    mãi là tấm gương sáng về lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần
    đoàn kết chống kẻ thù xâm lược của nhân dân ta.

    25

    Sau đó, vua Trần cho yết bảng kêu gọi nhân dân hợp lực với
    triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài
    đến, phải liều chết mà đánh; nếu sức địch không nổi thì cho lẩn
    trốn vào rừng núi, không được đầu hàng”. Cả nước bừng bừng khí
    thế quyết tâm đánh giặc. Mọi người ai cũng đóng góp theo hoàn
    cảnh của mình. Nhà giàu có khá giả quyên góp tiền bạc, lương
    thực để nuôi quân; người bình dân thì góp công xay lúa giã gạo,
    rèn đúc khí giới.

    26

    Tháng chạp năm Giáp Thân (1284), đại quân
    Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy chia thành 6 mũi
    tấn công vào các ải biên giới và bao vây quân
    Trần chốt giữ tại đây. Những trận chiến ác liệt nổ
    ra. Trước lực lượng đông đảo của giặc, các cánh
    quân Trần đều phải lui dần về phía sau. Vì vậy,
    chẳng bao lâu, quân Nguyên đã chiếm được ải
    Chi Lăng và tràn vào Đại Việt.

    27

    Trước thế giặc đang mạnh, đoàn chiến thuyền của Trần Hưng
    Đạo ở Nội Bàng phải lui về giữ châu Lạng Giang (Bắc Giang).
    Biết giặc mới sang còn đang sung sức, nếu đương đầu với chúng
    lúc này sẽ bất lợi, ông có kế hoạch cho quân rút dần về Vạn Kiếp
    (vùng Vạn Yên, Chí Linh, Hải Dương). Đây là nơi đóng phủ đệ
    của ông và cũng là một trong những chốt phòng thủ quan trọng
    của nhà Trần.

    28

    Vua Trần Nhân Tông lúc đó đang chỉ huy khoảng 1000 thuyền
    chiến ở Thăng Long, sẵn sàng chi viện. Nay nghe tin đại quân của
    Trần Hưng Đạo phải rút lui thì rất lo lắng. Ngài vội lấy một chiếc
    thuyền nhỏ đi gấp đến nỗi chiều rồi mà vẫn chưa kịp ăn sáng.
    Có người lính là Trần Lai kiếm được bát cơm hẩm dâng lên. Vua
    không quở trách mà còn khen Trần Lai là tôi trung.

    29

    Đến Hải Đông(*), nhà vua cho vời ngay Trần Hưng Đạo đến
    hỏi: “- Thế giặc to như vậy, hay là trẫm đầu hàng để cứu muôn
    dân khỏi cảnh chiến tranh?”. Trần Hưng Đạo khẳng khái tâu:
    “- Xin bệ hạ chém đầu thần rồi hãy hàng”. Yên lòng trước sự quả
    cảm của người chú họ, cũng là vị tướng tài ba, vua tôi cùng nhau
    bàn bạc thế trận và việc chỉnh đốn quân lực.
    * Khu vực biển gồm Hải Phòng, Hải Dương và
    Quảng Ninh hiện nay. Ngoài ra còn có Hải Tây
    là vùng biển Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ.
    Đây là cách phân chia hành chính thời Trần.

    30

    Bấy giờ quân các cánh kéo về Vạn Kiếp hội tụ, lập trại san sát,
    có đến hơn 20 ngàn người. Ngoài ra còn có hơn 100 thuyền chiến
    đóng cách đấy không xa. Nhà vua đi duyệt binh, thấy sức mạnh
    của quân đội, lòng cảm động thốt lên:
    Cối Kê việc cũ người nên nhớ,
    Hoan Diễn kia còn chục vạn quân.
    (Ý nói Câu Tiễn thời Chiến quốc ở Trung
    Quốc, chỉ còn 1000 quân nhưng vẫn đánh
    thắng giặc, huống gì nay ở Hoan Diễn, tức
    vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, quân ta còn có đến
    hơn chục vạn người).

    31

    Trong khi ấy Thoát Hoan
    cũng đang tiến quân đến gần Vạn
    Kiếp. Biết lực lượng nhà Trần rất
    lớn, lại mạnh về quân thủy; hắn
    cũng lập một đội thuyền chiến
    gồm 60 chiếc vừa thu được với
    khoảng 1300 tên lính và giao
    cho Ô Mã Nhi, một viên tướng
    thạo chiến trận, có khả năng thủy
    chiến, chỉ huy.

    32

    Tháng giêng năm Ất Dậu (1285), lực lượng thủy bộ giặc tấn
    công vào Vạn Kiếp. Quân Trần chống cự mãnh liệt suốt 3 ngày,
    chém chết một tên tướng Nguyên. Thấy các chốt trên bộ khó chống
    đỡ được lâu, Trần Hưng Đạo cho quân rút xuống thuyền, xuôi theo
    sông Hồng. Vua Nhân Tông cũng đem binh thuyền đến cửa sông
    Đuống trợ chiến. Sau, để bảo toàn lực lượng, nhà vua cùng Trần
    Hưng Đạo lui về lập phòng tuyến ở bờ nam sông Hồng, bảo vệ
    kinh thành Thăng Long.

    33

    Chiếm được Vạn Kiếp, quân Nguyên tiếp tục tiến về Thăng
    Long. Dọc đường, chúng cho quân tàn phá làng mạc, cướp bóc
    lương thực, của cải. Bắt được ai thích chữ sát Thát trên tay, chúng
    đều giết chết. Đến ngang sông Đuống, biết quân Trần đã lập một
    phòng tuyến vững chắc với rào gỗ và thuyền chiến san sát ở bờ
    nam sông Hồng, Thoát Hoan cho quân dừng lại lập trại để dò xét
    động tĩnh.

    34

    Tháng giêng năm Ất Dậu (1285), vua Trần Nhân Tông muốn
    cử một người nhanh nhẹn sang trại giặc để thám thính binh tình.
    Trong lúc phân vân chưa biết chọn ai thì quan văn Đỗ Khắc Chung
    (sau được đổi danh tánh là Trần Khắc Chung), bước ra tâu:
    - Thần tuy bất tài, nhưng cũng xin đi.
    Nhà vua mừng rỡ nói:
    - Không ngờ có người tài mà đến bây giờ mới lộ diện.

    35

    Cầm lá thư của nhà vua gửi
    tướng giặc giả xin giảng hòa, Đỗ
    Khắc Chung đường hoàng sang
    trại quân của chúng. Ô Mã Nhi(*)
    xem thư xong, lên giọng hạch
    hỏi:
    - Vua nước ngươi vô lễ, sai
    người thích hai chữ sát Thát, tỏ
    ý khinh thường quân thiên triều,
    còn hòa cái gì?
    * tên Mông Cổ là Omar

    36

    Khắc Chung vén tay áo cho Ô Mã Nhi xem và nói:
    - Đấy là do lòng công phẫn mà quân lính tự thích vào hai chữ
    ấy, chứ quốc vương không biết được. Nếu là lệnh bề trên, tôi là
    người hầu gần, sao lại không có?

    37

    Ô Mã Nhi lại vặn tiếp:
    - Đại quân ở xa đến, sao vua nước ngươi không tới yết kiến,
    lại còn dám kháng cự? Thật là bọ ngựa dám chống xe!
    Khắc Chung đối đáp:
    - Bức bách nhau quá, loài thú cũng phải cắn huống gì là người.

    38

    Cứ như thế, Khắc Chung tùy nghi mà ứng đối rất rạch ròi, câu
    nào ra câu ấy khiến cho tướng giặc không thể bắt bẻ vào đâu được.
    Sau đó, ông đường hoàng cáo từ và quay trở về. Khi ông đi rồi, Ô
    Mã Nhi nói với các thuộc tướng dưới trướng: “- Chúng nó đương
    bị uy hiếp mà lời lẽ vẫn tự nhiên, không hạ chủ mình xuống, mà
    cũng không nịnh ta. Nước này có những người như thế, chưa dễ
    đã chiếm được”.
    39

    Suy nghĩ lại, đoán được mục đích chuyến viếng thăm của Khắc
    Chung, Ô Mã Nhi hối hận đã để cho ông ra về nên vội vàng cho
    người đuổi theo, nhưng không kịp. Khắc Chung đã vào được quân
    Đại Việt. Vì thế hai bên giao tranh một trận bất phân thắng bại.
    Nghe Đỗ Khắc Chung tâu lại, Thượng hoàng cùng nhà vua biết
    quân giặc còn khá mạnh nên quyết định rút quân khỏi Thăng Long.

    40

    Để có thời gian rút lui, nhà vua lại sai hai đại quan là Trần
    Thang và Nguyễn Nhuệ tiếp tục đến trại Thoát Hoan xin cầu hòa.
    Nhưng lần này, chẳng cần hạch hỏi lôi thôi, hắn sai bắt giam cả hai
    và đòi vua Trần Nhân Tông phải thân hành đến để bàn định, nếu
    không hắn sẽ lập tức tấn công vào thành. Vua tôi nhà Trần đều vô
    cùng lo lắng vì nếu không cầm chân được giặc thì triều đình khó
    lòng rút được an toàn mà quân đội cũng không tránh khỏi tổn thất.

    41

    Đang lúc tưởng đã hết
    cách thì Thượng hoàng
    chợt nghĩ đến công chúa
    An Tư, người em gái út
    của mình. Nàng thật đoan
    trang xinh đẹp với chiếc
    mũi thanh tú và khuôn mặt
    cân đối. Tính tình nàng lại
    dịu dàng, hiền thục nên
    được Thượng hoàng cùng
    các anh khác như Quang
    Khải, Nhật Duật hết lòng
    thương yêu, chăm sóc.

    42

    Trước nạn nước cấp bách, để quân giặc
    tin vào chuyện giả hòa, Thượng hoàng buộc
    lòng phải nhờ đến An Tư. Nàng gạt nước
    mắt, theo đoàn tùy tùng vào chốn ba quân
    xa lạ. Nàng công chúa lá ngọc cành vàng ấy
    sống thế nào bên cạnh tên tướng xâm lược
    tàn bạo? Sử sách chẳng cho biết, chỉ biết
    rằng người con gái út của vua Thái Tông đã
    vì nước quên thân, đóng góp phần riêng của
    mình trong trang sử vẻ vang chống ngoại
    xâm thời Trần.

    43

    Trong khi An Tư được đưa đến trại Thoát Hoan thì quân Trần
    nhanh chóng triển khai việc rút lui. Hưng Đạo vương hộ tống nhà
    vua cùng triều đình lên thuyền, xuôi sông Hồng về đất phát tích
    nhà Trần ở Thiên Trường (Nam Định).
    44

    Hôm sau, Thoát Hoan biết tin quân Trần rút liền đóng bè, làm
    cầu phao, tiến quân vào thành. Nhưng kinh thành Thăng Long đâu
    đâu cũng chỉ là cảnh “vườn không nhà trống”. Y tức tối ra lệnh
    đốt phá và giết bất kỳ ai bắt được. Sau đó, Thoát Hoan lại cho
    quân tức tốc đuổi theo vua Trần cả trên đường thủy lẫn đường bộ.

    45

    46

    Đến bãi Mạn Trò (Hưng Yên), quân
    Nguyên bị quân của Bảo Nghĩa vương
    Trần Bình Trọng chốt chặn ở đây ra
    đánh. Mạn Trò là bãi nổi lớn giữa sông
    Hồng, chia dòng sông ra làm hai nhánh
    khiến khúc sông này vô cùng hiểm trở.
    Trần Bình Trọng đã cùng quân lính
    chiến đấu dũng mảnh và đã ghìm chân
    quân giặc ở đây tới 7 ngày.
    47

    Nhưng quân Trần chỉ có một ít lực lượng còn quân giặc thì
    đông tràn lên bao vây và tấn công hết lớp này đến lớp khác. Cuối
    cùng Trần Bình Trọng không may sa vào tay chúng. Biết ông là
    tướng giỏi, Thoát Hoan rất muốn chiêu dụ. Hắn đặt tiệc thết đãi,
    nhưng ông không ăn. Hắn lại mon men hỏi dò việc nước, ông
    không trả lời. Thoát Hoan liền đem miếng mồi danh vọng ra, hứa
    sẽ phong cho ông làm vua ở đất bắc nếu ông chịu hàng, dẫn hắn
    đi bắt vua Trần.
    48
     
    Gửi ý kiến

    Học từ sách là học từ tinh hoa của nhân loại.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NAM ĐỒNG - TP. HẢI PHÒNG !