Video sự tích cây nêu đất
LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH- TẬP 7 KHỞI NGHĨA LAM SƠN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
Ngày gửi: 09h:19' 01-10-2024
Dung lượng: 29.5 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
Ngày gửi: 09h:19' 01-10-2024
Dung lượng: 29.5 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung
LỜI GIỚI THIỆU
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
thống, qua cách kể chuyện súc tích và tranh minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất
nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa,
y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, từng triều đại cụ thể.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến thực hiện xuyên suốt từ
thời cổ của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng Vương dựng
nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ tự chủ của các
triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách được chia làm nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
sử Việt Nam. Trong quá trình biện soạn, các tác giả còn chú ý thể
hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
từng thời kỳ lịch sử.
Công trình là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên cứu
của Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Trẻ.
Đây là bộ lịch sử bằng tranh đầu tiên của nước ta được thực hiện
với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên soạn và
thể hiện không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn, họa sĩ và
Nhà xuất bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
TRẦN BẠCH ĐẰNG
4
Thôn Như Áng, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hoa có cụ Lê Hối
nổi tiếng là người nhân từ, bác ái, đức độ. Cụ làm nghề thầy cúng nên
thường có dịp đi khắp đó đây.
Một hôm, trên đường qua vùng Lam Sơn(*), nhận thấy đất đai nơi
đây màu mỡ, cụ quyết định ở lại và khai phá ruộng vườn. Chỉ ba năm
sau, gia đình cụ đã có một sản nghiệp vững vàng, cơ ngơi bề thế.
* Tên Nôm lúc ấy là làng Cham thuộc huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa, nay là huyện
Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
5
Con trai cụ là Lê Đinh (có sách ghi là Lê Thính) nối nghiệp cha,
cần cù làm ăn cơ nghiệp phát triển. Ông cưới bà Nguyễn Thị Quách,
một phụ nữ hiền lành, tốt bụng. Hai ông bà thường giúp đỡ người
nghèo kẻ khó, vì thế xa gần ai ai cũng quý trọng.
6
Ông bà Lê Đinh có hai người con là Lê Tùng và Lê Khoáng, đều
là người hiền lành, đức độ. Ông Lê Khoáng cưới với bà Trịnh Thị
Ngọc Thương, sinh hạ được ba người con trai. Người con đầu là Lê
Học chẳng may mất sớm, con thứ là Lê Trừ sau này ra ở riêng. Người
con út nối giữ nghiệp nhà là Lê Lợi.
7
Lê Lợi sinh vào giờ Thìn (khoảng 7 đến 9 giờ sáng), ngày 6 tháng
8 năm Ất Sửu (1385). Người xưa truyền tụng rằng, khi Lê Lợi chưa ra
đời, ở núi Du phía sau thôn Nguyệt Áng, có con cọp đen thường xuất
hiện mà không hề hại ai. Khi Lê Lợi được sinh ra, cọp cũng tự đi đâu
mất. Lại có chuyện kể rằng, khi Lê Lợi sinh ra, nhà ông Lê Khoáng
bỗng tràn ngập ánh sáng đỏ, hương thơm tỏa khắp xóm.
8
Sử cũ viết rằng: Lê Lợi là người miệng rộng, mũi cao, đi như rồng
lượn, oai phong như hổ, nói vang như chuông, vai trái có tới bảy nốt
ruồi. Càng lớn lên, Lê Lợi càng thông minh, trí dũng toàn vẹn, khó
ai sánh kịp.
9
Tương truyền, có lần người nhà của Lê Lợi đang cày ruộng ở Phật
Hoàng, động Chiêu Nghi (cũng thuộc Lam Sơn), chợt trông thấy một
vị sư ông áo trắng đi từ trong làng Đức Trai ra, vừa đi vừa than rằng:
“Đất này đẹp quá, vậy mà ta chẳng có ai để trao cả”. Nghe vậy, họ
vội chạy về báo tin cho Lê Lợi. Cả mừng, Lê Lợi vội vàng đuổi theo.
10
Chẳng mấy chốc, Lê Lợi đã giáp mặt sư ông. Ngắm nhìn hồi lâu,
sư ông bảo: “Ta là Bạch Thạch Sơn Tăng, từ Ai Lao đến, thấy ngươi
có khí tượng khác thường, hẳn là người có thể đảm đương việc lớn”.
Sau đó, ông lấy gậy vẽ lên nền đất mà giảng giải cho Lê Lợi:
- Xứ Phật Hoàng của ngươi có một mảnh đất, thoáng trông như
hình cái ấn, bên trái có núi Chí Linh như một tòa Thái Thất, trong đó
có gò Tiên Bạn. Đất ấy lấy Chiêu Sơn ở xã An Khoái làm án. Trước
án có mạch Long Sơn, trong án có mạch Long Hồ, thế đất xoáy như
ruột ốc. Đó là một khu đất phát tích, có thể làm nên sự nghiệp...
Mải mê suy nghĩ lời vị sư già, sơn tăng bỏ đi từ bao giờ, Lê Lợi
cũng không hay biết.
11
Trở về, Lê Lợi đem hài cốt của thân phụ đến táng tại nơi vị sư đã
chỉ, gọi là mộ Phật Hoàng và cho xây am thờ ở động Chiêu Nghi.
Lê Lợi còn xây điện Tiên Du thờ vị sư áo trắng để nhớ ơn người đã
chỉ vẽ cho mình. Người xưa thường gắn những huyền thoại như vậy
cho các vị anh hùng dân tộc nhằm ca ngợi con người tài trí được khí
thiêng sông núi hun đúc và được mệnh trời giao phó việc lớn.
12
Năm Lê Lợi tròn 22 tuổi, cũng là năm
quân Minh đặt ách đô hộ lên nước ta, trăm
họ lầm than, đói khổ. Không cam chịu bị áp
bức, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Lê Lợi
rất kính trọng những người dám xả thân vì
nước nhưng cũng thấy rõ nguy cơ thất bại của
họ. Bởi vậy, ông nhóm họp bè bạn, âm thầm
chuẩn bị khởi nghĩa.
13
Lê Lợi có người bạn thân là Lê Thận, người sách Mục Sơn, huyện
Cổ Lôi (cũng thuộc Thanh Hóa), sinh sống bằng nghề chài lưới. Tương
truyền, một hôm Lê Thận ra sông quăng lưới chỉ có một thanh sắt dài
mắc vào. Ông quẳng đi, chèo thuyền
ra nơi khác thả lưới nhưng lần nào
kéo lên cũng chỉ là thanh sắt đó. Thấy
lạ, ông đem về cất trong góc nhà.
14
Một hôm, Lê Lợi đến nhà Lê Thận, chợt trông thấy ở góc nhà có
một quầng sáng kỳ lạ tỏa ra từ một thanh sắt dài. Ngạc nhiên vì từ
lúc Lê Lợi đến, thanh sắt tự nhiên tỏa sáng
như vậy, Lê Thận kể lại lần buông lưới trước
và tặng thanh sắt cho bạn.
15
Thanh sắt càng mài, ánh sáng phát ra càng rực rỡ, một bên thanh sắt
có hai chữ Thuận Thiên, còn một bên là chữ Lợi. Ông tự nhủ: “Thuận
Thiên là thuận theo ý trời, còn Lợi chính là tên ta. Hay đây chính là
thanh gươm mà trời ban cho ta để dẹp giặc cứu đời chăng?”. Nghĩ
vậy, Lê Lợi bèn rèn thành một thanh gươm. Nhưng lưỡi gươm đã rèn
xong mà chẳng có chuôi gươm nào vừa với lưỡi gươm cả.
16
Sau một đêm mưa to gió lớn, người nhà vào báo có ánh sáng lạ ở
gốc cây sau nhà. Lê Lợi ra xem thì thấy ở đó có một chuôi gươm đã
để sẵn. Lê Lợi liền kính cẩn khấn: “Nếu quả trời đã ban cho kiếm
báu thì xin cho kiếm ấy vừa với chuôi này”. Lạ thay, khi đem gươm
lắp thử thì hoàn toàn vừa vặn. Lê Lợi rất quý thanh gươm, luôn đeo
bên người, không lúc nào rời.
17
Từ ngày có gươm báu, Lê Lợi đóng cửa ngày đêm đọc sách. Binh
thư của các bậc danh tướng, sử sách của các đời trước, ông đều xem xét
đến nơi đến chốn. Ông lấy đất đắp thành mô hình, lấy sỏi giả bày thế
trận, miệt mài suy ngẫm, quên
ăn quên ngủ.
18
Để có lực lượng mưu việc lớn
sau này, ông cho người tỏa đi khắp
nơi liên lạc với những người đồng
chí hướng. Nhiều người đã tìm đến
Lam Sơn với Lê Lợi.
19
Bấy giờ ở thôn Hào Lương bên cạnh có tên Đỗ Phú, nhà giàu nhưng
rất tham lam và độc ác. Muốn cướp đất của Lê Lợi hắn dựng chuyện
kiện cáo khiến ông phải ra hầu quan. Nhưng khi ra trước công đường,
hắn đuối lý nên thua kiện. Trở về, hắn ngầm theo dõi mọi động tĩnh
của Lê Lợi rồi lẻn đi mật báo với quân Minh rằng Lê Lợi đang tụ họp
người và tích trữ lương thực để nổi loạn.
20
Nhận được tin mật báo của Đỗ Phú, quân Minh lập tức cho lính đến
vây bắt. Trong lúc cấp bách, Lê Lợi chỉ kịp nói: “Khi sức ta chưa đủ
thì tạm lánh, đó chính là kế sách vẹn toàn” rồi cho mọi người nhanh
chóng tản đi các nơi quanh vùng để trốn. Ông và Lê Liễu bỏ chạy
theo hướng khác để thu hút quân Minh.
21
Tương truyền hai người chạy đến bờ sông Khả Lam (cũng thuộc
Thanh Hóa) thì trông thấy xác của một người đàn bà mặc áo trắng.
Dẫu đang vội lánh nạn, không đành lòng để xác bà giữa trời nên dù
tiếng chó sủa ầm ĩ và tiếng quân giặc đuổi theo mỗi lúc một gần, Lê
Lợi cùng Lê Liễu vẫn đào huyệt chôn cất bà cẩn thận. Vừa chôn cất
người xấu số xong thì giặc đuổi tới nơi, hai ông chỉ kịp nhảy vào một
bụi rậm dưới gốc đa gần đó mà trốn.
22
Thấy chó cứ hướng vào bụi rậm
sủa mãi, giặc sinh nghi lấy giáo đâm
vào bụi. Một tên đâm trúng đùi của Lê
Liễu, ông nhanh trí lấy cát vuốt máu
trên mũi giáo. Nhưng bụi cây thì nhỏ,
nếu chúng tiếp tục đâm nữa thì khó bề
tránh khỏi. Đúng lúc đó, chợt có con
chồn trắng từ trong bụi lao vụt ra. Bầy
chó ngao cứ thế đuổi theo làm giặc
tưởng chó sủa chồn mà tức tối bỏ đi.
23
Không bắt được Lê Lợi, quân Minh
đành phải rút đi. Lê Lợi, Lê Liễu cùng
mọi người lại lần lượt trở về Lam Sơn. Từ
đây, công việc chuẩn bị khởi nghĩa được
tiến hành gấp rút. Lương thực được tích
trữ ngày càng nhiều, vũ khí được rèn đúc
ngày đêm. Nhưng để tránh tai mắt giặc, Lê
Lợi bí mật lập các trạm gác trên mọi nẻo
đường dẫn vào Lam Sơn.
24
Trong lúc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa,
Lê Lợi đã gặp không ít khó khăn. Dù là
người trí dũng song toàn, dưới trướng có
nhiều bạn bè võ lược nhưng Lê Lợi vẫn
thiếu một bậc mưu sĩ giúp mình hoạch
định, quán xuyến mọi việc. Giữa lúc đó,
Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn băng
đèo lội suối, vượt qua sự canh gác chặt chẽ
của quân Minh đến với Lam Sơn. Người
xưa cho đó là một sự hội ngộ hiếm có.
25
Dã sử kể rằng, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đến nơi đúng
lúc nhà Lê Lợi đang có giỗ. Thấy Lê Lợi lúi húi mãi trong bếp, cả
hai thất vọng tự nhủ: “Đấng anh hùng nuôi chí cứu nước cứu dân
mà lại chỉ luẩn quẩn trong bếp như đàn bà thế sao? Hay là miệng
thế ngoa truyền?”
Thất vọng, hai ông lập tức bỏ về
nhưng giữa đường lại bàn với nhau:
“Đại khoa bảng là ta, đại quý tộc
cũng là ta, nhưng sao thiên hạ chẳng
ai tìm tới ta cả, ngược lại chỉ tìm đến
Lê Lợi? Vậy Lê Lợi ắt phải có cái gì
đó khả kính hơn ta mà vừa rồi, trong
chỗ vội vã, ta chưa thấy đó thôi!”
26
Nghĩ thế, họ lại quay lại nhà Lê Lợi. Lần này họ đến đúng lúc chủ
tướng Lam Sơn đang say mê đọc binh thư. Gương mặt Lê Lợi lúc
này toát lên vẻ thông thái, lộ ra vẻ cương nghị và quyết đoán, hơn
hẳn người thường. Nguyễn Trãi
và Nguyên Hãn sung sướng nhìn
nhau, lập tức vào yết bái. Lê Lợi
cả mừng, đối đãi như bậc thượng
khách, đem việc trọng yếu ra
cùng luận bàn.
27
Một hôm, Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi, dâng lên Bình Ngô sách.
Đọc Bình Ngô sách, Lê Lợi vui mừng khôn xiết vì biết rằng đây chính
là người mình bấy lâu mong đợi. Ông lập tức cho vời Nguyễn Trãi
tới, nói: “Bình Ngô sách nói những lời cổ kim chưa từng nói, lẽ được
thua đã thấy rất rõ ở đây. Lê Lợi này quyết làm theo Bình Ngô sách.
Xin đa tạ tiên sinh!”
28
Từ đó, Nguyễn Trãi luôn cùng
Lê Lợi trù tính mọi việc. Nguyễn
Trãi bàn với Lê Lợi cho quân lính
lấy mỡ viết lên lá cây rừng bốn chữ: “Lê Lợi vi quân”, để lôi kéo lòng
người. Lê Lợi đồng ý, lại cho viết thêm bốn chữ: “Nguyễn Trãi vi
thần” (nghĩa là Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm bề tôi). Quả nhiên
kiến ăn mỡ, đục thủng lá khiến các chữ hiện lên rõ nét. Dân chúng
khắp nơi đều đồn đại đó là do trời sai thần linh xuống viết nên vô
cùng náo nức, chờ đợi.
29
Mặt khác, Lê Lợi cho người bí mật đi khắp nơi, thành tâm chiêu
mộ các bậc hào kiệt và nghĩa sĩ, bất kể tầng lớp nào hoặc ở nơi đâu...
miễn là nặng lòng yêu nước. Từ đấy, rừng núi Lam Sơn liên tục có
người tìm đến. Để giữ bí mật, họ đóng giả thành từng toán thợ xẻ,
thợ săn hoặc giả làm người lên rừng tìm sản vật và được các trạm gác
dẫn về căn cứ Lam Sơn.
30
Đến khoảng cuối năm 1415, hầu như miền đất nào của Đại Việt
cũng có người tham gia nghĩa quân Lam Sơn. Tùy tài mỗi người mà
được Lê Lợi, Nguyễn Trãi giao việc. Vào một ngày cuối năm Ất Mùi
(1415), Lê Lợi bàn với một số người thân tín: “Nay người ứng nghĩa
đã đông, nghĩa dũng và anh tài không ít. Đã đến lúc phải cố kết lòng
người. Nếu trên dưới không gắn bó như anh em một nhà thì không
thể thắng nổi quân Minh gian ngoan và tàn bạo”. Ai cũng cho lời ấy
là phải.
31
Việc quan trọng lúc này là phải hình thành ngay bộ chỉ huy Lam
Sơn gồm những người có tài năng và uy tín nhất, lại phải chọn nơi kín
đáo để ra mắt dưới hình thức một hội thề kết nghĩa anh em. Sau khi
suy tính, Lê Lợi đã chọn vùng
núi Lũng Nhai cách Lam Sơn
không xa.
32
Trong sử cũ, Lũng Nhai còn có tên khác là Lũng Mi. Tuy trên danh
nghĩa cũng thuộc Lam Sơn nhưng vào thời Lê Lợi, đây là nơi hẻo
lánh ít người lui tới. Sau này, dân đến lập nghiệp ở đây khá đông, vì
thế Lũng Nhai còn có tên Nôm là làng Mé. Làng này nay thuộc xã
Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách Lam Sơn
chừng mười cây số.
33
Ngày 12 tháng 2 năm Bính Thân (1416), hội thề Lũng Nhai được
long trọng tổ chức. Trên nền đất hoang sơ ở Lũng Nhai bày hương
án với đầy đủ lễ vật và khói hương nghi ngút. Lê Lợi cùng 18 người
đã gắn bó với ông từ những ngày đầu tiên, trang nghiêm làm lễ tế
cáo trời đất.
34
Trong hội thề Lũng Nhai, đứng sau Lê Lợi là Lê Lai. Ông nguyên
là Phụ đạo của làng Dựng Tú (nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc
Lạc, tỉnh Thanh Hóa). Cả gia đình ông gồm Lê Lãn, Lê Lai, Lê Lô,
Lê Lộ và Lê Lâm đều đến với Lê Lợi ngay từ những ngày đầu tiên.
Ngoài ra, ông còn mộ một người cùng làng có võ nghệ cao cường là
Lê Mạnh cùng đi.
35
Đến Lam Sơn cùng lúc với Lê Lai là Nguyễn Lý(*) người Dao Xá
(nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Trong danh
sách, ông đứng hàng thứ mười bảy. Về sau ông được trao chức Thứ
phủ trong vệ kỵ binh thuộc đội quân Thiết Đột. Ông cũng mộ một số
người đồng hương có tài như Lê Khảo, Lê Thế Vỹ và Lê Bính đến
Lam Sơn mưu đại nghĩa.
* Sau Nguyễn Lý được Lê Thái Tổ ban quốc tính nên sử vẫn chép là Lê Lý.
36
Tham gia hội thề Lũng Nhai đông hơn cả là người làng Thu Mệnh.
Làng Thu Mệnh có đến ba người được dự, đó là Võ Uy, Trương Lôi
và Trương Chiến. Ngoài ra, tham gia nghĩa quân làng còn có một số
bậc vũ dũng khác như Lê Văn Lễ, Lê Vũ Bị v.v... Riêng Võ Uy và
Trương Lôi trước đó đã từng được Lê Lợi nuôi trong nhà như con.
Tương truyền, chính họ là những người báo cho Lê Lợi biết sự xuất
hiện của sư ông áo trắng ở xứ Phật Hoàng.
37
Lê Thận, người bạn đánh cá năm xưa cũng có mặt trong hội thề.
Ông làm Phụ đạo làng Mục Sơn nên thường được gọi là Đạo Mục.
Đến Lam Sơn, ông trở thành người thân tín của Lê Lợi và đứng hàng
thứ ba trong số mười tám người có mặt ở Lũng Nhai hôm ấy.
38
Cùng đến Lam Sơn với Lê Thận có năm nhân vật lừng danh của
làng Mục Sơn là Lê Văn An, Lê Văn Biếm (con Lê Văn An), Lê
Thiệt, Lê Lãnh và Lê Đạt. Trong số đó, Lê Văn An cũng được tham
dự hội thề và đứng hàng thứ tư sau Lê Thận. Tuy là một võ tướng túc
trí đa mưu nhưng Lê Văn An lại nổi tiếng là người “hòa nhã, giản dị,
thường dùng lễ để tiếp đãi các bậc đại phu”.
39
Tiếp theo là Lê Văn Linh, sinh năm Đinh Tỵ (1377), tại làng Hải
Lịch, huyện Lôi Dương (nay là xã Thị Hải, Thọ Xuân, Thanh Hóa).
Thời Hồ, ông nổi tiếng hay chữ và được đánh giá là một nhà quân sự
có tài của Lam Sơn. Vốn điềm đạm, chín chắn và cẩn thận, ông được
giao soạn thảo giấy tờ cho Lê Lợi. Ông luôn sát cánh bên Nguyễn
Trãi để bày mưu tính kế cho nghĩa quân.
40
Sau Lê Văn Linh là Trịnh Khả, người làng Kim Bôi (nay thuộc xã
Vĩnh Hà, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Năm 18 tuổi, ông nổi tiếng là khỏe
mạnh, võ nghệ cao cường nhưng vì gia cảnh nghèo khó, phải đi làm
đầy tớ. Sau ông bỏ trốn, quân Minh bắt bố ông ném xuống sông. Đến
đêm, ông lẻn về vớt xác bố đem chôn rồi tìm đến với Lê Lợi.
41
Tham gia hội thề Lũng Nhai còn có
Đinh Liệt, người làng Thúy Cối, huyện
Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa (Thanh
Hóa), cháu gọi Lê Lợi bằng cậu ruột. Sinh
trưởng trong một gia đình có truyền thống
võ nghệ, ngay từ lúc còn trẻ, Đinh Liệt
không những nổi tiếng tài giỏi mà còn
khôi ngô tuấn tú nhất trong vùng. Anh
ruột của Đinh Liệt là Đinh Lễ cũng tham
gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Hai anh
em đều là tướng tài, được Lê Lợi tin cậy,
lập nhiều chiến công.
42
Dự hội thề, phần lớn đều là bà con hoặc những người cùng quê
Thanh Hóa với Lê Lợi. Nhưng cũng có một số người từ xa đến, trong
đó có Lưu Nhân Chú cùng cha là Lưu Trung. Hai người quê quán ở
xã An Thuận Thượng (nay là xã Vân Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên).
43
Ngoài những nhân vật kể trên, tham dự hội thề còn có một loạt các
bậc hào kiệt khác như Lê Hiểm, Lê Bồi, Đinh Lan và Bùi Quốc Hưng.
Hiển nhiên, mưu sĩ số một của Lê Lợi là Nguyễn Trãi và người đồng
cam cộng khổ đầu tiên với Lê Lợi khi bị quân Minh truy đuổi phải
trốn dưới gốc đa là Lê Liễu cũng có mặt.
44
Trong hội thề Lũng Nhai, cùng với Lê Lợi còn có 18 người khác là Lê Lai, Lê Thận,
Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh,
Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lê Nhân Chú, Lê Bồi, Lê Lý, Đinh Lan,
Trương Chiến. (trích từ bản văn thề trong quyển Khởi nghĩa Lam Sơn của Phan Huy
Lê và Phan Đại Đoãn, NXB Khoa học Xã hội, 1977).
45
Tất cả cùng cắt máu ăn thề, lắng nghe lời tuyên thệ của Lê Lợi: “...
kết nghĩa thân nhau như một tổ liền cành... chung sức đồng lòng cho
làng xóm yên lòng... Thề sống chết cùng nhau, không dám quên lời
thề son sắt...” Lê Lợi vừa dứt lời, tất cả đồng thanh hô lớn: “...không
cùng một lòng, quên lời thề ước... nguyện trời đất và các thần linh
giáng trăm tai ương...”. Sau đó, tất cả chuyền tay nhau uống cạn bát
rượu huyết. Lời thề thiêng liêng vang vọng khắp núi rừng tĩnh mịch.
46
Sau hội thề Lũng Nhai, lực lượng của Lam Sơn đã được tổ chức
lại. Các nghĩa sĩ chia ra từng đội, vừa sản xuất tích trữ lương thực,
vừa tập luyện võ nghệ để sẵn sàng vào trận. Lê Lợi và mười tám
người trong bộ chỉ huy Lam Sơn thì thường xuyên bàn mưu tính kế
cho cuộc khởi nghĩa.
47
Để giữ bí mật căn cứ và đề phòng kẻ xấu len lỏi vào hàng ngũ nghĩa
quân, Lê Lợi đã chọn Mục Sơn (quê của Lê Thận) làm nơi tiếp đón
hào kiệt khắp nơi. Người mới đến được tập trung ở một nơi riêng, lấy
danh nghĩa khẩn hoang lập ấp để che mắt giặc và tập luyện võ nghệ.
48
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung
LỜI GIỚI THIỆU
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
thống, qua cách kể chuyện súc tích và tranh minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất
nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa,
y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, từng triều đại cụ thể.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến thực hiện xuyên suốt từ
thời cổ của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng Vương dựng
nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ tự chủ của các
triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách được chia làm nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
sử Việt Nam. Trong quá trình biện soạn, các tác giả còn chú ý thể
hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
từng thời kỳ lịch sử.
Công trình là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên cứu
của Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Trẻ.
Đây là bộ lịch sử bằng tranh đầu tiên của nước ta được thực hiện
với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên soạn và
thể hiện không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn, họa sĩ và
Nhà xuất bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
TRẦN BẠCH ĐẰNG
4
Thôn Như Áng, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hoa có cụ Lê Hối
nổi tiếng là người nhân từ, bác ái, đức độ. Cụ làm nghề thầy cúng nên
thường có dịp đi khắp đó đây.
Một hôm, trên đường qua vùng Lam Sơn(*), nhận thấy đất đai nơi
đây màu mỡ, cụ quyết định ở lại và khai phá ruộng vườn. Chỉ ba năm
sau, gia đình cụ đã có một sản nghiệp vững vàng, cơ ngơi bề thế.
* Tên Nôm lúc ấy là làng Cham thuộc huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa, nay là huyện
Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
5
Con trai cụ là Lê Đinh (có sách ghi là Lê Thính) nối nghiệp cha,
cần cù làm ăn cơ nghiệp phát triển. Ông cưới bà Nguyễn Thị Quách,
một phụ nữ hiền lành, tốt bụng. Hai ông bà thường giúp đỡ người
nghèo kẻ khó, vì thế xa gần ai ai cũng quý trọng.
6
Ông bà Lê Đinh có hai người con là Lê Tùng và Lê Khoáng, đều
là người hiền lành, đức độ. Ông Lê Khoáng cưới với bà Trịnh Thị
Ngọc Thương, sinh hạ được ba người con trai. Người con đầu là Lê
Học chẳng may mất sớm, con thứ là Lê Trừ sau này ra ở riêng. Người
con út nối giữ nghiệp nhà là Lê Lợi.
7
Lê Lợi sinh vào giờ Thìn (khoảng 7 đến 9 giờ sáng), ngày 6 tháng
8 năm Ất Sửu (1385). Người xưa truyền tụng rằng, khi Lê Lợi chưa ra
đời, ở núi Du phía sau thôn Nguyệt Áng, có con cọp đen thường xuất
hiện mà không hề hại ai. Khi Lê Lợi được sinh ra, cọp cũng tự đi đâu
mất. Lại có chuyện kể rằng, khi Lê Lợi sinh ra, nhà ông Lê Khoáng
bỗng tràn ngập ánh sáng đỏ, hương thơm tỏa khắp xóm.
8
Sử cũ viết rằng: Lê Lợi là người miệng rộng, mũi cao, đi như rồng
lượn, oai phong như hổ, nói vang như chuông, vai trái có tới bảy nốt
ruồi. Càng lớn lên, Lê Lợi càng thông minh, trí dũng toàn vẹn, khó
ai sánh kịp.
9
Tương truyền, có lần người nhà của Lê Lợi đang cày ruộng ở Phật
Hoàng, động Chiêu Nghi (cũng thuộc Lam Sơn), chợt trông thấy một
vị sư ông áo trắng đi từ trong làng Đức Trai ra, vừa đi vừa than rằng:
“Đất này đẹp quá, vậy mà ta chẳng có ai để trao cả”. Nghe vậy, họ
vội chạy về báo tin cho Lê Lợi. Cả mừng, Lê Lợi vội vàng đuổi theo.
10
Chẳng mấy chốc, Lê Lợi đã giáp mặt sư ông. Ngắm nhìn hồi lâu,
sư ông bảo: “Ta là Bạch Thạch Sơn Tăng, từ Ai Lao đến, thấy ngươi
có khí tượng khác thường, hẳn là người có thể đảm đương việc lớn”.
Sau đó, ông lấy gậy vẽ lên nền đất mà giảng giải cho Lê Lợi:
- Xứ Phật Hoàng của ngươi có một mảnh đất, thoáng trông như
hình cái ấn, bên trái có núi Chí Linh như một tòa Thái Thất, trong đó
có gò Tiên Bạn. Đất ấy lấy Chiêu Sơn ở xã An Khoái làm án. Trước
án có mạch Long Sơn, trong án có mạch Long Hồ, thế đất xoáy như
ruột ốc. Đó là một khu đất phát tích, có thể làm nên sự nghiệp...
Mải mê suy nghĩ lời vị sư già, sơn tăng bỏ đi từ bao giờ, Lê Lợi
cũng không hay biết.
11
Trở về, Lê Lợi đem hài cốt của thân phụ đến táng tại nơi vị sư đã
chỉ, gọi là mộ Phật Hoàng và cho xây am thờ ở động Chiêu Nghi.
Lê Lợi còn xây điện Tiên Du thờ vị sư áo trắng để nhớ ơn người đã
chỉ vẽ cho mình. Người xưa thường gắn những huyền thoại như vậy
cho các vị anh hùng dân tộc nhằm ca ngợi con người tài trí được khí
thiêng sông núi hun đúc và được mệnh trời giao phó việc lớn.
12
Năm Lê Lợi tròn 22 tuổi, cũng là năm
quân Minh đặt ách đô hộ lên nước ta, trăm
họ lầm than, đói khổ. Không cam chịu bị áp
bức, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Lê Lợi
rất kính trọng những người dám xả thân vì
nước nhưng cũng thấy rõ nguy cơ thất bại của
họ. Bởi vậy, ông nhóm họp bè bạn, âm thầm
chuẩn bị khởi nghĩa.
13
Lê Lợi có người bạn thân là Lê Thận, người sách Mục Sơn, huyện
Cổ Lôi (cũng thuộc Thanh Hóa), sinh sống bằng nghề chài lưới. Tương
truyền, một hôm Lê Thận ra sông quăng lưới chỉ có một thanh sắt dài
mắc vào. Ông quẳng đi, chèo thuyền
ra nơi khác thả lưới nhưng lần nào
kéo lên cũng chỉ là thanh sắt đó. Thấy
lạ, ông đem về cất trong góc nhà.
14
Một hôm, Lê Lợi đến nhà Lê Thận, chợt trông thấy ở góc nhà có
một quầng sáng kỳ lạ tỏa ra từ một thanh sắt dài. Ngạc nhiên vì từ
lúc Lê Lợi đến, thanh sắt tự nhiên tỏa sáng
như vậy, Lê Thận kể lại lần buông lưới trước
và tặng thanh sắt cho bạn.
15
Thanh sắt càng mài, ánh sáng phát ra càng rực rỡ, một bên thanh sắt
có hai chữ Thuận Thiên, còn một bên là chữ Lợi. Ông tự nhủ: “Thuận
Thiên là thuận theo ý trời, còn Lợi chính là tên ta. Hay đây chính là
thanh gươm mà trời ban cho ta để dẹp giặc cứu đời chăng?”. Nghĩ
vậy, Lê Lợi bèn rèn thành một thanh gươm. Nhưng lưỡi gươm đã rèn
xong mà chẳng có chuôi gươm nào vừa với lưỡi gươm cả.
16
Sau một đêm mưa to gió lớn, người nhà vào báo có ánh sáng lạ ở
gốc cây sau nhà. Lê Lợi ra xem thì thấy ở đó có một chuôi gươm đã
để sẵn. Lê Lợi liền kính cẩn khấn: “Nếu quả trời đã ban cho kiếm
báu thì xin cho kiếm ấy vừa với chuôi này”. Lạ thay, khi đem gươm
lắp thử thì hoàn toàn vừa vặn. Lê Lợi rất quý thanh gươm, luôn đeo
bên người, không lúc nào rời.
17
Từ ngày có gươm báu, Lê Lợi đóng cửa ngày đêm đọc sách. Binh
thư của các bậc danh tướng, sử sách của các đời trước, ông đều xem xét
đến nơi đến chốn. Ông lấy đất đắp thành mô hình, lấy sỏi giả bày thế
trận, miệt mài suy ngẫm, quên
ăn quên ngủ.
18
Để có lực lượng mưu việc lớn
sau này, ông cho người tỏa đi khắp
nơi liên lạc với những người đồng
chí hướng. Nhiều người đã tìm đến
Lam Sơn với Lê Lợi.
19
Bấy giờ ở thôn Hào Lương bên cạnh có tên Đỗ Phú, nhà giàu nhưng
rất tham lam và độc ác. Muốn cướp đất của Lê Lợi hắn dựng chuyện
kiện cáo khiến ông phải ra hầu quan. Nhưng khi ra trước công đường,
hắn đuối lý nên thua kiện. Trở về, hắn ngầm theo dõi mọi động tĩnh
của Lê Lợi rồi lẻn đi mật báo với quân Minh rằng Lê Lợi đang tụ họp
người và tích trữ lương thực để nổi loạn.
20
Nhận được tin mật báo của Đỗ Phú, quân Minh lập tức cho lính đến
vây bắt. Trong lúc cấp bách, Lê Lợi chỉ kịp nói: “Khi sức ta chưa đủ
thì tạm lánh, đó chính là kế sách vẹn toàn” rồi cho mọi người nhanh
chóng tản đi các nơi quanh vùng để trốn. Ông và Lê Liễu bỏ chạy
theo hướng khác để thu hút quân Minh.
21
Tương truyền hai người chạy đến bờ sông Khả Lam (cũng thuộc
Thanh Hóa) thì trông thấy xác của một người đàn bà mặc áo trắng.
Dẫu đang vội lánh nạn, không đành lòng để xác bà giữa trời nên dù
tiếng chó sủa ầm ĩ và tiếng quân giặc đuổi theo mỗi lúc một gần, Lê
Lợi cùng Lê Liễu vẫn đào huyệt chôn cất bà cẩn thận. Vừa chôn cất
người xấu số xong thì giặc đuổi tới nơi, hai ông chỉ kịp nhảy vào một
bụi rậm dưới gốc đa gần đó mà trốn.
22
Thấy chó cứ hướng vào bụi rậm
sủa mãi, giặc sinh nghi lấy giáo đâm
vào bụi. Một tên đâm trúng đùi của Lê
Liễu, ông nhanh trí lấy cát vuốt máu
trên mũi giáo. Nhưng bụi cây thì nhỏ,
nếu chúng tiếp tục đâm nữa thì khó bề
tránh khỏi. Đúng lúc đó, chợt có con
chồn trắng từ trong bụi lao vụt ra. Bầy
chó ngao cứ thế đuổi theo làm giặc
tưởng chó sủa chồn mà tức tối bỏ đi.
23
Không bắt được Lê Lợi, quân Minh
đành phải rút đi. Lê Lợi, Lê Liễu cùng
mọi người lại lần lượt trở về Lam Sơn. Từ
đây, công việc chuẩn bị khởi nghĩa được
tiến hành gấp rút. Lương thực được tích
trữ ngày càng nhiều, vũ khí được rèn đúc
ngày đêm. Nhưng để tránh tai mắt giặc, Lê
Lợi bí mật lập các trạm gác trên mọi nẻo
đường dẫn vào Lam Sơn.
24
Trong lúc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa,
Lê Lợi đã gặp không ít khó khăn. Dù là
người trí dũng song toàn, dưới trướng có
nhiều bạn bè võ lược nhưng Lê Lợi vẫn
thiếu một bậc mưu sĩ giúp mình hoạch
định, quán xuyến mọi việc. Giữa lúc đó,
Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn băng
đèo lội suối, vượt qua sự canh gác chặt chẽ
của quân Minh đến với Lam Sơn. Người
xưa cho đó là một sự hội ngộ hiếm có.
25
Dã sử kể rằng, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đến nơi đúng
lúc nhà Lê Lợi đang có giỗ. Thấy Lê Lợi lúi húi mãi trong bếp, cả
hai thất vọng tự nhủ: “Đấng anh hùng nuôi chí cứu nước cứu dân
mà lại chỉ luẩn quẩn trong bếp như đàn bà thế sao? Hay là miệng
thế ngoa truyền?”
Thất vọng, hai ông lập tức bỏ về
nhưng giữa đường lại bàn với nhau:
“Đại khoa bảng là ta, đại quý tộc
cũng là ta, nhưng sao thiên hạ chẳng
ai tìm tới ta cả, ngược lại chỉ tìm đến
Lê Lợi? Vậy Lê Lợi ắt phải có cái gì
đó khả kính hơn ta mà vừa rồi, trong
chỗ vội vã, ta chưa thấy đó thôi!”
26
Nghĩ thế, họ lại quay lại nhà Lê Lợi. Lần này họ đến đúng lúc chủ
tướng Lam Sơn đang say mê đọc binh thư. Gương mặt Lê Lợi lúc
này toát lên vẻ thông thái, lộ ra vẻ cương nghị và quyết đoán, hơn
hẳn người thường. Nguyễn Trãi
và Nguyên Hãn sung sướng nhìn
nhau, lập tức vào yết bái. Lê Lợi
cả mừng, đối đãi như bậc thượng
khách, đem việc trọng yếu ra
cùng luận bàn.
27
Một hôm, Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi, dâng lên Bình Ngô sách.
Đọc Bình Ngô sách, Lê Lợi vui mừng khôn xiết vì biết rằng đây chính
là người mình bấy lâu mong đợi. Ông lập tức cho vời Nguyễn Trãi
tới, nói: “Bình Ngô sách nói những lời cổ kim chưa từng nói, lẽ được
thua đã thấy rất rõ ở đây. Lê Lợi này quyết làm theo Bình Ngô sách.
Xin đa tạ tiên sinh!”
28
Từ đó, Nguyễn Trãi luôn cùng
Lê Lợi trù tính mọi việc. Nguyễn
Trãi bàn với Lê Lợi cho quân lính
lấy mỡ viết lên lá cây rừng bốn chữ: “Lê Lợi vi quân”, để lôi kéo lòng
người. Lê Lợi đồng ý, lại cho viết thêm bốn chữ: “Nguyễn Trãi vi
thần” (nghĩa là Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm bề tôi). Quả nhiên
kiến ăn mỡ, đục thủng lá khiến các chữ hiện lên rõ nét. Dân chúng
khắp nơi đều đồn đại đó là do trời sai thần linh xuống viết nên vô
cùng náo nức, chờ đợi.
29
Mặt khác, Lê Lợi cho người bí mật đi khắp nơi, thành tâm chiêu
mộ các bậc hào kiệt và nghĩa sĩ, bất kể tầng lớp nào hoặc ở nơi đâu...
miễn là nặng lòng yêu nước. Từ đấy, rừng núi Lam Sơn liên tục có
người tìm đến. Để giữ bí mật, họ đóng giả thành từng toán thợ xẻ,
thợ săn hoặc giả làm người lên rừng tìm sản vật và được các trạm gác
dẫn về căn cứ Lam Sơn.
30
Đến khoảng cuối năm 1415, hầu như miền đất nào của Đại Việt
cũng có người tham gia nghĩa quân Lam Sơn. Tùy tài mỗi người mà
được Lê Lợi, Nguyễn Trãi giao việc. Vào một ngày cuối năm Ất Mùi
(1415), Lê Lợi bàn với một số người thân tín: “Nay người ứng nghĩa
đã đông, nghĩa dũng và anh tài không ít. Đã đến lúc phải cố kết lòng
người. Nếu trên dưới không gắn bó như anh em một nhà thì không
thể thắng nổi quân Minh gian ngoan và tàn bạo”. Ai cũng cho lời ấy
là phải.
31
Việc quan trọng lúc này là phải hình thành ngay bộ chỉ huy Lam
Sơn gồm những người có tài năng và uy tín nhất, lại phải chọn nơi kín
đáo để ra mắt dưới hình thức một hội thề kết nghĩa anh em. Sau khi
suy tính, Lê Lợi đã chọn vùng
núi Lũng Nhai cách Lam Sơn
không xa.
32
Trong sử cũ, Lũng Nhai còn có tên khác là Lũng Mi. Tuy trên danh
nghĩa cũng thuộc Lam Sơn nhưng vào thời Lê Lợi, đây là nơi hẻo
lánh ít người lui tới. Sau này, dân đến lập nghiệp ở đây khá đông, vì
thế Lũng Nhai còn có tên Nôm là làng Mé. Làng này nay thuộc xã
Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách Lam Sơn
chừng mười cây số.
33
Ngày 12 tháng 2 năm Bính Thân (1416), hội thề Lũng Nhai được
long trọng tổ chức. Trên nền đất hoang sơ ở Lũng Nhai bày hương
án với đầy đủ lễ vật và khói hương nghi ngút. Lê Lợi cùng 18 người
đã gắn bó với ông từ những ngày đầu tiên, trang nghiêm làm lễ tế
cáo trời đất.
34
Trong hội thề Lũng Nhai, đứng sau Lê Lợi là Lê Lai. Ông nguyên
là Phụ đạo của làng Dựng Tú (nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc
Lạc, tỉnh Thanh Hóa). Cả gia đình ông gồm Lê Lãn, Lê Lai, Lê Lô,
Lê Lộ và Lê Lâm đều đến với Lê Lợi ngay từ những ngày đầu tiên.
Ngoài ra, ông còn mộ một người cùng làng có võ nghệ cao cường là
Lê Mạnh cùng đi.
35
Đến Lam Sơn cùng lúc với Lê Lai là Nguyễn Lý(*) người Dao Xá
(nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Trong danh
sách, ông đứng hàng thứ mười bảy. Về sau ông được trao chức Thứ
phủ trong vệ kỵ binh thuộc đội quân Thiết Đột. Ông cũng mộ một số
người đồng hương có tài như Lê Khảo, Lê Thế Vỹ và Lê Bính đến
Lam Sơn mưu đại nghĩa.
* Sau Nguyễn Lý được Lê Thái Tổ ban quốc tính nên sử vẫn chép là Lê Lý.
36
Tham gia hội thề Lũng Nhai đông hơn cả là người làng Thu Mệnh.
Làng Thu Mệnh có đến ba người được dự, đó là Võ Uy, Trương Lôi
và Trương Chiến. Ngoài ra, tham gia nghĩa quân làng còn có một số
bậc vũ dũng khác như Lê Văn Lễ, Lê Vũ Bị v.v... Riêng Võ Uy và
Trương Lôi trước đó đã từng được Lê Lợi nuôi trong nhà như con.
Tương truyền, chính họ là những người báo cho Lê Lợi biết sự xuất
hiện của sư ông áo trắng ở xứ Phật Hoàng.
37
Lê Thận, người bạn đánh cá năm xưa cũng có mặt trong hội thề.
Ông làm Phụ đạo làng Mục Sơn nên thường được gọi là Đạo Mục.
Đến Lam Sơn, ông trở thành người thân tín của Lê Lợi và đứng hàng
thứ ba trong số mười tám người có mặt ở Lũng Nhai hôm ấy.
38
Cùng đến Lam Sơn với Lê Thận có năm nhân vật lừng danh của
làng Mục Sơn là Lê Văn An, Lê Văn Biếm (con Lê Văn An), Lê
Thiệt, Lê Lãnh và Lê Đạt. Trong số đó, Lê Văn An cũng được tham
dự hội thề và đứng hàng thứ tư sau Lê Thận. Tuy là một võ tướng túc
trí đa mưu nhưng Lê Văn An lại nổi tiếng là người “hòa nhã, giản dị,
thường dùng lễ để tiếp đãi các bậc đại phu”.
39
Tiếp theo là Lê Văn Linh, sinh năm Đinh Tỵ (1377), tại làng Hải
Lịch, huyện Lôi Dương (nay là xã Thị Hải, Thọ Xuân, Thanh Hóa).
Thời Hồ, ông nổi tiếng hay chữ và được đánh giá là một nhà quân sự
có tài của Lam Sơn. Vốn điềm đạm, chín chắn và cẩn thận, ông được
giao soạn thảo giấy tờ cho Lê Lợi. Ông luôn sát cánh bên Nguyễn
Trãi để bày mưu tính kế cho nghĩa quân.
40
Sau Lê Văn Linh là Trịnh Khả, người làng Kim Bôi (nay thuộc xã
Vĩnh Hà, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Năm 18 tuổi, ông nổi tiếng là khỏe
mạnh, võ nghệ cao cường nhưng vì gia cảnh nghèo khó, phải đi làm
đầy tớ. Sau ông bỏ trốn, quân Minh bắt bố ông ném xuống sông. Đến
đêm, ông lẻn về vớt xác bố đem chôn rồi tìm đến với Lê Lợi.
41
Tham gia hội thề Lũng Nhai còn có
Đinh Liệt, người làng Thúy Cối, huyện
Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa (Thanh
Hóa), cháu gọi Lê Lợi bằng cậu ruột. Sinh
trưởng trong một gia đình có truyền thống
võ nghệ, ngay từ lúc còn trẻ, Đinh Liệt
không những nổi tiếng tài giỏi mà còn
khôi ngô tuấn tú nhất trong vùng. Anh
ruột của Đinh Liệt là Đinh Lễ cũng tham
gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Hai anh
em đều là tướng tài, được Lê Lợi tin cậy,
lập nhiều chiến công.
42
Dự hội thề, phần lớn đều là bà con hoặc những người cùng quê
Thanh Hóa với Lê Lợi. Nhưng cũng có một số người từ xa đến, trong
đó có Lưu Nhân Chú cùng cha là Lưu Trung. Hai người quê quán ở
xã An Thuận Thượng (nay là xã Vân Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên).
43
Ngoài những nhân vật kể trên, tham dự hội thề còn có một loạt các
bậc hào kiệt khác như Lê Hiểm, Lê Bồi, Đinh Lan và Bùi Quốc Hưng.
Hiển nhiên, mưu sĩ số một của Lê Lợi là Nguyễn Trãi và người đồng
cam cộng khổ đầu tiên với Lê Lợi khi bị quân Minh truy đuổi phải
trốn dưới gốc đa là Lê Liễu cũng có mặt.
44
Trong hội thề Lũng Nhai, cùng với Lê Lợi còn có 18 người khác là Lê Lai, Lê Thận,
Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh,
Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lê Nhân Chú, Lê Bồi, Lê Lý, Đinh Lan,
Trương Chiến. (trích từ bản văn thề trong quyển Khởi nghĩa Lam Sơn của Phan Huy
Lê và Phan Đại Đoãn, NXB Khoa học Xã hội, 1977).
45
Tất cả cùng cắt máu ăn thề, lắng nghe lời tuyên thệ của Lê Lợi: “...
kết nghĩa thân nhau như một tổ liền cành... chung sức đồng lòng cho
làng xóm yên lòng... Thề sống chết cùng nhau, không dám quên lời
thề son sắt...” Lê Lợi vừa dứt lời, tất cả đồng thanh hô lớn: “...không
cùng một lòng, quên lời thề ước... nguyện trời đất và các thần linh
giáng trăm tai ương...”. Sau đó, tất cả chuyền tay nhau uống cạn bát
rượu huyết. Lời thề thiêng liêng vang vọng khắp núi rừng tĩnh mịch.
46
Sau hội thề Lũng Nhai, lực lượng của Lam Sơn đã được tổ chức
lại. Các nghĩa sĩ chia ra từng đội, vừa sản xuất tích trữ lương thực,
vừa tập luyện võ nghệ để sẵn sàng vào trận. Lê Lợi và mười tám
người trong bộ chỉ huy Lam Sơn thì thường xuyên bàn mưu tính kế
cho cuộc khởi nghĩa.
47
Để giữ bí mật căn cứ và đề phòng kẻ xấu len lỏi vào hàng ngũ nghĩa
quân, Lê Lợi đã chọn Mục Sơn (quê của Lê Thận) làm nơi tiếp đón
hào kiệt khắp nơi. Người mới đến được tập trung ở một nơi riêng, lấy
danh nghĩa khẩn hoang lập ấp để che mắt giặc và tập luyện võ nghệ.
48
 





