TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Trang học liệu của nhà trường Trang học liệu trực tuyến của nhà trường được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy – học, tự học và đổi mới phương pháp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đây là nơi tập hợp, lưu trữ và chia sẻ các học liệu số như: bài giảng, giáo án, đề kiểm tra, phiếu học tập, video minh họa, tài liệu tham khảo… do giáo viên trong trường biên soạn và tuyển chọn. Thông qua trang học liệu, giáo viên thuận tiện trong việc trao đổi chuyên môn, sử dụng tài nguyên chung, đồng thời hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố kiến thức và học tập mọi lúc, mọi nơi. Trang học liệu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và hình thành thói quen tự học, học tập suốt đời cho học sinh.

    Ảnh ngẫu nhiên

    💕💕 Đọc sách là gieo hạt giống cho trí tuệ.” – Ngạn ngữ phương Tây💕hư viện tốt là nền móng của một nền giáo dục tốt.” – Khuyết danh💕

    Video sự tích cây nêu đất

    LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH- TẬP 7 KHỞI NGHĨA LAM SƠN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
    Ngày gửi: 09h:19' 01-10-2024
    Dung lượng: 29.5 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung

    LỜI GIỚI THIỆU
    Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
    giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
    thống, qua cách kể chuyện súc tích và tranh minh họa.
    Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất
    nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa,
    y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, từng triều đại cụ thể.
    Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến thực hiện xuyên suốt từ
    thời cổ của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng Vương dựng
    nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ tự chủ của các
    triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là hai
    cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
    Bộ sách được chia làm nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
    một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
    trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
    sử Việt Nam. Trong quá trình biện soạn, các tác giả còn chú ý thể
    hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
    từng thời kỳ lịch sử.
    Công trình là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên cứu
    của Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Trẻ.
    Đây là bộ lịch sử bằng tranh đầu tiên của nước ta được thực hiện
    với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên soạn và
    thể hiện không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn, họa sĩ và
    Nhà xuất bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
    Thành phố Hồ Chí Minh
    TRẦN BẠCH ĐẰNG

    4

    Thôn Như Áng, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hoa có cụ Lê Hối
    nổi tiếng là người nhân từ, bác ái, đức độ. Cụ làm nghề thầy cúng nên
    thường có dịp đi khắp đó đây.
    Một hôm, trên đường qua vùng Lam Sơn(*), nhận thấy đất đai nơi
    đây màu mỡ, cụ quyết định ở lại và khai phá ruộng vườn. Chỉ ba năm
    sau, gia đình cụ đã có một sản nghiệp vững vàng, cơ ngơi bề thế.
    * Tên Nôm lúc ấy là làng Cham thuộc huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa, nay là huyện
    Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

    5

    Con trai cụ là Lê Đinh (có sách ghi là Lê Thính) nối nghiệp cha,
    cần cù làm ăn cơ nghiệp phát triển. Ông cưới bà Nguyễn Thị Quách,
    một phụ nữ hiền lành, tốt bụng. Hai ông bà thường giúp đỡ người
    nghèo kẻ khó, vì thế xa gần ai ai cũng quý trọng.

    6

    Ông bà Lê Đinh có hai người con là Lê Tùng và Lê Khoáng, đều
    là người hiền lành, đức độ. Ông Lê Khoáng cưới với bà Trịnh Thị
    Ngọc Thương, sinh hạ được ba người con trai. Người con đầu là Lê
    Học chẳng may mất sớm, con thứ là Lê Trừ sau này ra ở riêng. Người
    con út nối giữ nghiệp nhà là Lê Lợi.

    7

    Lê Lợi sinh vào giờ Thìn (khoảng 7 đến 9 giờ sáng), ngày 6 tháng
    8 năm Ất Sửu (1385). Người xưa truyền tụng rằng, khi Lê Lợi chưa ra
    đời, ở núi Du phía sau thôn Nguyệt Áng, có con cọp đen thường xuất
    hiện mà không hề hại ai. Khi Lê Lợi được sinh ra, cọp cũng tự đi đâu
    mất. Lại có chuyện kể rằng, khi Lê Lợi sinh ra, nhà ông Lê Khoáng
    bỗng tràn ngập ánh sáng đỏ, hương thơm tỏa khắp xóm.

    8

    Sử cũ viết rằng: Lê Lợi là người miệng rộng, mũi cao, đi như rồng
    lượn, oai phong như hổ, nói vang như chuông, vai trái có tới bảy nốt
    ruồi. Càng lớn lên, Lê Lợi càng thông minh, trí dũng toàn vẹn, khó
    ai sánh kịp.

    9

    Tương truyền, có lần người nhà của Lê Lợi đang cày ruộng ở Phật
    Hoàng, động Chiêu Nghi (cũng thuộc Lam Sơn), chợt trông thấy một
    vị sư ông áo trắng đi từ trong làng Đức Trai ra, vừa đi vừa than rằng:
    “Đất này đẹp quá, vậy mà ta chẳng có ai để trao cả”. Nghe vậy, họ
    vội chạy về báo tin cho Lê Lợi. Cả mừng, Lê Lợi vội vàng đuổi theo.

    10

    Chẳng mấy chốc, Lê Lợi đã giáp mặt sư ông. Ngắm nhìn hồi lâu,
    sư ông bảo: “Ta là Bạch Thạch Sơn Tăng, từ Ai Lao đến, thấy ngươi
    có khí tượng khác thường, hẳn là người có thể đảm đương việc lớn”.
    Sau đó, ông lấy gậy vẽ lên nền đất mà giảng giải cho Lê Lợi:
    - Xứ Phật Hoàng của ngươi có một mảnh đất, thoáng trông như
    hình cái ấn, bên trái có núi Chí Linh như một tòa Thái Thất, trong đó
    có gò Tiên Bạn. Đất ấy lấy Chiêu Sơn ở xã An Khoái làm án. Trước
    án có mạch Long Sơn, trong án có mạch Long Hồ, thế đất xoáy như
    ruột ốc. Đó là một khu đất phát tích, có thể làm nên sự nghiệp...
    Mải mê suy nghĩ lời vị sư già, sơn tăng bỏ đi từ bao giờ, Lê Lợi
    cũng không hay biết.

    11

    Trở về, Lê Lợi đem hài cốt của thân phụ đến táng tại nơi vị sư đã
    chỉ, gọi là mộ Phật Hoàng và cho xây am thờ ở động Chiêu Nghi.
    Lê Lợi còn xây điện Tiên Du thờ vị sư áo trắng để nhớ ơn người đã
    chỉ vẽ cho mình. Người xưa thường gắn những huyền thoại như vậy
    cho các vị anh hùng dân tộc nhằm ca ngợi con người tài trí được khí
    thiêng sông núi hun đúc và được mệnh trời giao phó việc lớn.

    12

    Năm Lê Lợi tròn 22 tuổi, cũng là năm
    quân Minh đặt ách đô hộ lên nước ta, trăm
    họ lầm than, đói khổ. Không cam chịu bị áp
    bức, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Lê Lợi
    rất kính trọng những người dám xả thân vì
    nước nhưng cũng thấy rõ nguy cơ thất bại của
    họ. Bởi vậy, ông nhóm họp bè bạn, âm thầm
    chuẩn bị khởi nghĩa.

    13

    Lê Lợi có người bạn thân là Lê Thận, người sách Mục Sơn, huyện
    Cổ Lôi (cũng thuộc Thanh Hóa), sinh sống bằng nghề chài lưới. Tương
    truyền, một hôm Lê Thận ra sông quăng lưới chỉ có một thanh sắt dài
    mắc vào. Ông quẳng đi, chèo thuyền
    ra nơi khác thả lưới nhưng lần nào
    kéo lên cũng chỉ là thanh sắt đó. Thấy
    lạ, ông đem về cất trong góc nhà.

    14

    Một hôm, Lê Lợi đến nhà Lê Thận, chợt trông thấy ở góc nhà có
    một quầng sáng kỳ lạ tỏa ra từ một thanh sắt dài. Ngạc nhiên vì từ
    lúc Lê Lợi đến, thanh sắt tự nhiên tỏa sáng
    như vậy, Lê Thận kể lại lần buông lưới trước
    và tặng thanh sắt cho bạn.

    15

    Thanh sắt càng mài, ánh sáng phát ra càng rực rỡ, một bên thanh sắt
    có hai chữ Thuận Thiên, còn một bên là chữ Lợi. Ông tự nhủ: “Thuận
    Thiên là thuận theo ý trời, còn Lợi chính là tên ta. Hay đây chính là
    thanh gươm mà trời ban cho ta để dẹp giặc cứu đời chăng?”. Nghĩ
    vậy, Lê Lợi bèn rèn thành một thanh gươm. Nhưng lưỡi gươm đã rèn
    xong mà chẳng có chuôi gươm nào vừa với lưỡi gươm cả.

    16

    Sau một đêm mưa to gió lớn, người nhà vào báo có ánh sáng lạ ở
    gốc cây sau nhà. Lê Lợi ra xem thì thấy ở đó có một chuôi gươm đã
    để sẵn. Lê Lợi liền kính cẩn khấn: “Nếu quả trời đã ban cho kiếm
    báu thì xin cho kiếm ấy vừa với chuôi này”. Lạ thay, khi đem gươm
    lắp thử thì hoàn toàn vừa vặn. Lê Lợi rất quý thanh gươm, luôn đeo
    bên người, không lúc nào rời.

    17

    Từ ngày có gươm báu, Lê Lợi đóng cửa ngày đêm đọc sách. Binh
    thư của các bậc danh tướng, sử sách của các đời trước, ông đều xem xét
    đến nơi đến chốn. Ông lấy đất đắp thành mô hình, lấy sỏi giả bày thế
    trận, miệt mài suy ngẫm, quên
    ăn quên ngủ.

    18

    Để có lực lượng mưu việc lớn
    sau này, ông cho người tỏa đi khắp
    nơi liên lạc với những người đồng
    chí hướng. Nhiều người đã tìm đến
    Lam Sơn với Lê Lợi.

    19

    Bấy giờ ở thôn Hào Lương bên cạnh có tên Đỗ Phú, nhà giàu nhưng
    rất tham lam và độc ác. Muốn cướp đất của Lê Lợi hắn dựng chuyện
    kiện cáo khiến ông phải ra hầu quan. Nhưng khi ra trước công đường,
    hắn đuối lý nên thua kiện. Trở về, hắn ngầm theo dõi mọi động tĩnh
    của Lê Lợi rồi lẻn đi mật báo với quân Minh rằng Lê Lợi đang tụ họp
    người và tích trữ lương thực để nổi loạn.
    20

    Nhận được tin mật báo của Đỗ Phú, quân Minh lập tức cho lính đến
    vây bắt. Trong lúc cấp bách, Lê Lợi chỉ kịp nói: “Khi sức ta chưa đủ
    thì tạm lánh, đó chính là kế sách vẹn toàn” rồi cho mọi người nhanh
    chóng tản đi các nơi quanh vùng để trốn. Ông và Lê Liễu bỏ chạy
    theo hướng khác để thu hút quân Minh.

    21

    Tương truyền hai người chạy đến bờ sông Khả Lam (cũng thuộc
    Thanh Hóa) thì trông thấy xác của một người đàn bà mặc áo trắng.
    Dẫu đang vội lánh nạn, không đành lòng để xác bà giữa trời nên dù
    tiếng chó sủa ầm ĩ và tiếng quân giặc đuổi theo mỗi lúc một gần, Lê
    Lợi cùng Lê Liễu vẫn đào huyệt chôn cất bà cẩn thận. Vừa chôn cất
    người xấu số xong thì giặc đuổi tới nơi, hai ông chỉ kịp nhảy vào một
    bụi rậm dưới gốc đa gần đó mà trốn.

    22

    Thấy chó cứ hướng vào bụi rậm
    sủa mãi, giặc sinh nghi lấy giáo đâm
    vào bụi. Một tên đâm trúng đùi của Lê
    Liễu, ông nhanh trí lấy cát vuốt máu
    trên mũi giáo. Nhưng bụi cây thì nhỏ,
    nếu chúng tiếp tục đâm nữa thì khó bề
    tránh khỏi. Đúng lúc đó, chợt có con
    chồn trắng từ trong bụi lao vụt ra. Bầy
    chó ngao cứ thế đuổi theo làm giặc
    tưởng chó sủa chồn mà tức tối bỏ đi.
    23

    Không bắt được Lê Lợi, quân Minh
    đành phải rút đi. Lê Lợi, Lê Liễu cùng
    mọi người lại lần lượt trở về Lam Sơn. Từ
    đây, công việc chuẩn bị khởi nghĩa được
    tiến hành gấp rút. Lương thực được tích
    trữ ngày càng nhiều, vũ khí được rèn đúc
    ngày đêm. Nhưng để tránh tai mắt giặc, Lê
    Lợi bí mật lập các trạm gác trên mọi nẻo
    đường dẫn vào Lam Sơn.

    24

    Trong lúc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa,
    Lê Lợi đã gặp không ít khó khăn. Dù là
    người trí dũng song toàn, dưới trướng có
    nhiều bạn bè võ lược nhưng Lê Lợi vẫn
    thiếu một bậc mưu sĩ giúp mình hoạch
    định, quán xuyến mọi việc. Giữa lúc đó,
    Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn băng
    đèo lội suối, vượt qua sự canh gác chặt chẽ
    của quân Minh đến với Lam Sơn. Người
    xưa cho đó là một sự hội ngộ hiếm có.

    25

    Dã sử kể rằng, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đến nơi đúng
    lúc nhà Lê Lợi đang có giỗ. Thấy Lê Lợi lúi húi mãi trong bếp, cả
    hai thất vọng tự nhủ: “Đấng anh hùng nuôi chí cứu nước cứu dân
    mà lại chỉ luẩn quẩn trong bếp như đàn bà thế sao? Hay là miệng
    thế ngoa truyền?”
    Thất vọng, hai ông lập tức bỏ về
    nhưng giữa đường lại bàn với nhau:
    “Đại khoa bảng là ta, đại quý tộc
    cũng là ta, nhưng sao thiên hạ chẳng
    ai tìm tới ta cả, ngược lại chỉ tìm đến
    Lê Lợi? Vậy Lê Lợi ắt phải có cái gì
    đó khả kính hơn ta mà vừa rồi, trong
    chỗ vội vã, ta chưa thấy đó thôi!”

    26

    Nghĩ thế, họ lại quay lại nhà Lê Lợi. Lần này họ đến đúng lúc chủ
    tướng Lam Sơn đang say mê đọc binh thư. Gương mặt Lê Lợi lúc
    này toát lên vẻ thông thái, lộ ra vẻ cương nghị và quyết đoán, hơn
    hẳn người thường. Nguyễn Trãi
    và Nguyên Hãn sung sướng nhìn
    nhau, lập tức vào yết bái. Lê Lợi
    cả mừng, đối đãi như bậc thượng
    khách, đem việc trọng yếu ra
    cùng luận bàn.

    27

    Một hôm, Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi, dâng lên Bình Ngô sách.
    Đọc Bình Ngô sách, Lê Lợi vui mừng khôn xiết vì biết rằng đây chính
    là người mình bấy lâu mong đợi. Ông lập tức cho vời Nguyễn Trãi
    tới, nói: “Bình Ngô sách nói những lời cổ kim chưa từng nói, lẽ được
    thua đã thấy rất rõ ở đây. Lê Lợi này quyết làm theo Bình Ngô sách.
    Xin đa tạ tiên sinh!”

    28

    Từ đó, Nguyễn Trãi luôn cùng
    Lê Lợi trù tính mọi việc. Nguyễn
    Trãi bàn với Lê Lợi cho quân lính
    lấy mỡ viết lên lá cây rừng bốn chữ: “Lê Lợi vi quân”, để lôi kéo lòng
    người. Lê Lợi đồng ý, lại cho viết thêm bốn chữ: “Nguyễn Trãi vi
    thần” (nghĩa là Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm bề tôi). Quả nhiên
    kiến ăn mỡ, đục thủng lá khiến các chữ hiện lên rõ nét. Dân chúng
    khắp nơi đều đồn đại đó là do trời sai thần linh xuống viết nên vô
    cùng náo nức, chờ đợi.
    29

    Mặt khác, Lê Lợi cho người bí mật đi khắp nơi, thành tâm chiêu
    mộ các bậc hào kiệt và nghĩa sĩ, bất kể tầng lớp nào hoặc ở nơi đâu...
    miễn là nặng lòng yêu nước. Từ đấy, rừng núi Lam Sơn liên tục có
    người tìm đến. Để giữ bí mật, họ đóng giả thành từng toán thợ xẻ,
    thợ săn hoặc giả làm người lên rừng tìm sản vật và được các trạm gác
    dẫn về căn cứ Lam Sơn.
    30

    Đến khoảng cuối năm 1415, hầu như miền đất nào của Đại Việt
    cũng có người tham gia nghĩa quân Lam Sơn. Tùy tài mỗi người mà
    được Lê Lợi, Nguyễn Trãi giao việc. Vào một ngày cuối năm Ất Mùi
    (1415), Lê Lợi bàn với một số người thân tín: “Nay người ứng nghĩa
    đã đông, nghĩa dũng và anh tài không ít. Đã đến lúc phải cố kết lòng
    người. Nếu trên dưới không gắn bó như anh em một nhà thì không
    thể thắng nổi quân Minh gian ngoan và tàn bạo”. Ai cũng cho lời ấy
    là phải.
    31

    Việc quan trọng lúc này là phải hình thành ngay bộ chỉ huy Lam
    Sơn gồm những người có tài năng và uy tín nhất, lại phải chọn nơi kín
    đáo để ra mắt dưới hình thức một hội thề kết nghĩa anh em. Sau khi
    suy tính, Lê Lợi đã chọn vùng
    núi Lũng Nhai cách Lam Sơn
    không xa.

    32

    Trong sử cũ, Lũng Nhai còn có tên khác là Lũng Mi. Tuy trên danh
    nghĩa cũng thuộc Lam Sơn nhưng vào thời Lê Lợi, đây là nơi hẻo
    lánh ít người lui tới. Sau này, dân đến lập nghiệp ở đây khá đông, vì
    thế Lũng Nhai còn có tên Nôm là làng Mé. Làng này nay thuộc xã
    Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách Lam Sơn
    chừng mười cây số.

    33

    Ngày 12 tháng 2 năm Bính Thân (1416), hội thề Lũng Nhai được
    long trọng tổ chức. Trên nền đất hoang sơ ở Lũng Nhai bày hương
    án với đầy đủ lễ vật và khói hương nghi ngút. Lê Lợi cùng 18 người
    đã gắn bó với ông từ những ngày đầu tiên, trang nghiêm làm lễ tế
    cáo trời đất.

    34

    Trong hội thề Lũng Nhai, đứng sau Lê Lợi là Lê Lai. Ông nguyên
    là Phụ đạo của làng Dựng Tú (nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc
    Lạc, tỉnh Thanh Hóa). Cả gia đình ông gồm Lê Lãn, Lê Lai, Lê Lô,
    Lê Lộ và Lê Lâm đều đến với Lê Lợi ngay từ những ngày đầu tiên.
    Ngoài ra, ông còn mộ một người cùng làng có võ nghệ cao cường là
    Lê Mạnh cùng đi.
    35

    Đến Lam Sơn cùng lúc với Lê Lai là Nguyễn Lý(*) người Dao Xá
    (nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Trong danh
    sách, ông đứng hàng thứ mười bảy. Về sau ông được trao chức Thứ
    phủ trong vệ kỵ binh thuộc đội quân Thiết Đột. Ông cũng mộ một số
    người đồng hương có tài như Lê Khảo, Lê Thế Vỹ và Lê Bính đến
    Lam Sơn mưu đại nghĩa.
    * Sau Nguyễn Lý được Lê Thái Tổ ban quốc tính nên sử vẫn chép là Lê Lý.

    36

    Tham gia hội thề Lũng Nhai đông hơn cả là người làng Thu Mệnh.
    Làng Thu Mệnh có đến ba người được dự, đó là Võ Uy, Trương Lôi
    và Trương Chiến. Ngoài ra, tham gia nghĩa quân làng còn có một số
    bậc vũ dũng khác như Lê Văn Lễ, Lê Vũ Bị v.v... Riêng Võ Uy và
    Trương Lôi trước đó đã từng được Lê Lợi nuôi trong nhà như con.
    Tương truyền, chính họ là những người báo cho Lê Lợi biết sự xuất
    hiện của sư ông áo trắng ở xứ Phật Hoàng.
    37

    Lê Thận, người bạn đánh cá năm xưa cũng có mặt trong hội thề.
    Ông làm Phụ đạo làng Mục Sơn nên thường được gọi là Đạo Mục.
    Đến Lam Sơn, ông trở thành người thân tín của Lê Lợi và đứng hàng
    thứ ba trong số mười tám người có mặt ở Lũng Nhai hôm ấy.

    38

    Cùng đến Lam Sơn với Lê Thận có năm nhân vật lừng danh của
    làng Mục Sơn là Lê Văn An, Lê Văn Biếm (con Lê Văn An), Lê
    Thiệt, Lê Lãnh và Lê Đạt. Trong số đó, Lê Văn An cũng được tham
    dự hội thề và đứng hàng thứ tư sau Lê Thận. Tuy là một võ tướng túc
    trí đa mưu nhưng Lê Văn An lại nổi tiếng là người “hòa nhã, giản dị,
    thường dùng lễ để tiếp đãi các bậc đại phu”.

    39

    Tiếp theo là Lê Văn Linh, sinh năm Đinh Tỵ (1377), tại làng Hải
    Lịch, huyện Lôi Dương (nay là xã Thị Hải, Thọ Xuân, Thanh Hóa).
    Thời Hồ, ông nổi tiếng hay chữ và được đánh giá là một nhà quân sự
    có tài của Lam Sơn. Vốn điềm đạm, chín chắn và cẩn thận, ông được
    giao soạn thảo giấy tờ cho Lê Lợi. Ông luôn sát cánh bên Nguyễn
    Trãi để bày mưu tính kế cho nghĩa quân.
    40

    Sau Lê Văn Linh là Trịnh Khả, người làng Kim Bôi (nay thuộc xã
    Vĩnh Hà, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Năm 18 tuổi, ông nổi tiếng là khỏe
    mạnh, võ nghệ cao cường nhưng vì gia cảnh nghèo khó, phải đi làm
    đầy tớ. Sau ông bỏ trốn, quân Minh bắt bố ông ném xuống sông. Đến
    đêm, ông lẻn về vớt xác bố đem chôn rồi tìm đến với Lê Lợi.

    41

    Tham gia hội thề Lũng Nhai còn có
    Đinh Liệt, người làng Thúy Cối, huyện
    Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa (Thanh
    Hóa), cháu gọi Lê Lợi bằng cậu ruột. Sinh
    trưởng trong một gia đình có truyền thống
    võ nghệ, ngay từ lúc còn trẻ, Đinh Liệt
    không những nổi tiếng tài giỏi mà còn
    khôi ngô tuấn tú nhất trong vùng. Anh
    ruột của Đinh Liệt là Đinh Lễ cũng tham
    gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Hai anh
    em đều là tướng tài, được Lê Lợi tin cậy,
    lập nhiều chiến công.
    42

    Dự hội thề, phần lớn đều là bà con hoặc những người cùng quê
    Thanh Hóa với Lê Lợi. Nhưng cũng có một số người từ xa đến, trong
    đó có Lưu Nhân Chú cùng cha là Lưu Trung. Hai người quê quán ở
    xã An Thuận Thượng (nay là xã Vân Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
    Nguyên).

    43

    Ngoài những nhân vật kể trên, tham dự hội thề còn có một loạt các
    bậc hào kiệt khác như Lê Hiểm, Lê Bồi, Đinh Lan và Bùi Quốc Hưng.
    Hiển nhiên, mưu sĩ số một của Lê Lợi là Nguyễn Trãi và người đồng
    cam cộng khổ đầu tiên với Lê Lợi khi bị quân Minh truy đuổi phải
    trốn dưới gốc đa là Lê Liễu cũng có mặt.

    44

    Trong hội thề Lũng Nhai, cùng với Lê Lợi còn có 18 người khác là Lê Lai, Lê Thận,
    Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh,
    Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lê Nhân Chú, Lê Bồi, Lê Lý, Đinh Lan,
    Trương Chiến. (trích từ bản văn thề trong quyển Khởi nghĩa Lam Sơn của Phan Huy
    Lê và Phan Đại Đoãn, NXB Khoa học Xã hội, 1977).

    45

    Tất cả cùng cắt máu ăn thề, lắng nghe lời tuyên thệ của Lê Lợi: “...
    kết nghĩa thân nhau như một tổ liền cành... chung sức đồng lòng cho
    làng xóm yên lòng... Thề sống chết cùng nhau, không dám quên lời
    thề son sắt...” Lê Lợi vừa dứt lời, tất cả đồng thanh hô lớn: “...không
    cùng một lòng, quên lời thề ước... nguyện trời đất và các thần linh
    giáng trăm tai ương...”. Sau đó, tất cả chuyền tay nhau uống cạn bát
    rượu huyết. Lời thề thiêng liêng vang vọng khắp núi rừng tĩnh mịch.

    46

    Sau hội thề Lũng Nhai, lực lượng của Lam Sơn đã được tổ chức
    lại. Các nghĩa sĩ chia ra từng đội, vừa sản xuất tích trữ lương thực,
    vừa tập luyện võ nghệ để sẵn sàng vào trận. Lê Lợi và mười tám
    người trong bộ chỉ huy Lam Sơn thì thường xuyên bàn mưu tính kế
    cho cuộc khởi nghĩa.

    47

    Để giữ bí mật căn cứ và đề phòng kẻ xấu len lỏi vào hàng ngũ nghĩa
    quân, Lê Lợi đã chọn Mục Sơn (quê của Lê Thận) làm nơi tiếp đón
    hào kiệt khắp nơi. Người mới đến được tập trung ở một nơi riêng, lấy
    danh nghĩa khẩn hoang lập ấp để che mắt giặc và tập luyện võ nghệ.

    48
     
    Gửi ý kiến

    Học từ sách là học từ tinh hoa của nhân loại.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NAM ĐỒNG - TP. HẢI PHÒNG !