TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Trang học liệu của nhà trường Trang học liệu trực tuyến của nhà trường được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy – học, tự học và đổi mới phương pháp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đây là nơi tập hợp, lưu trữ và chia sẻ các học liệu số như: bài giảng, giáo án, đề kiểm tra, phiếu học tập, video minh họa, tài liệu tham khảo… do giáo viên trong trường biên soạn và tuyển chọn. Thông qua trang học liệu, giáo viên thuận tiện trong việc trao đổi chuyên môn, sử dụng tài nguyên chung, đồng thời hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố kiến thức và học tập mọi lúc, mọi nơi. Trang học liệu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và hình thành thói quen tự học, học tập suốt đời cho học sinh.

    Ảnh ngẫu nhiên

    💕💕 Đọc sách là gieo hạt giống cho trí tuệ.” – Ngạn ngữ phương Tây💕hư viện tốt là nền móng của một nền giáo dục tốt.” – Khuyết danh💕

    Video sự tích cây nêu đất

    Luoc su thoi gian - Stephen Hawking

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:42' 09-03-2024
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 7
    Số lượt thích: 0 người
    Lược Sử Thời Gian
    (A Brief History of Time)
    Stephen Hawking
    Người dịch : Cao Chi và Phạm Văn Thiều

    MỤC LỤC
    Giới thiệu cuốn sách “Lược sử thời gian”
    Lời giới thiệu của nhà xuất bản Bantam Books
    Lời cảm ơn của Stephen Hawking
    Chương 1: Bức tranh của chúng ta về vũ trụ
    Chương 2: Không gian và thời gian
    Chương 3: Vũ trụ giãn nở
    Chương 4: Nguyên lý bất định
    Chương 5: Các hạt cơ bản và các lực trong tự
    nhiên
    Chương 6: Lỗ đen
    Chương 7: Lỗ đen không quá đen
    Chương 8: Nguồn gốc và số phận của vũ trụ
    Chương 9: Mũi tên của thời gian
    Chương 10: Lý thuyết thống nhất của vật lý học
    Chương 11: Kết luận
    ALBERT EINSTEIN
    GALILEO GALILEI
    ISAAC NEWTON

    Thuật ngữ
    Lược sử về “một lược sử”
    VŨ TRỤ TUẦN HOÀN
    Nicolaus Copernicus và tác phẩm De Revolutionibus
    Orbium Coelestium
    Vũ trụ hệ Isaac Newton và tác phẩm nguyên tắc
    toán học
    ĐẤU TRANH SINH TỒN
    Charles Darwin Và tác phẩm nguồn gốc các chủng
    loại
    CHA ĐỠ ĐẦU CỦA KỶ NGUYÊN NGUYÊN TỬ
    Albert Einstein và thuyết tương đối

    Giới thiệu cuốn sách “Lược sử thời gian”

    Cuốn sách mà chúng tôi giới thiệu với các bạn sau đây có
    tên là “Lược sử thời gian” (A Brief History of Time), một
    cuốn sách tuyệt diệu, được viết bởi một trong những nhà khoa
    học vĩ đại nhất của thời đại chúng ta: nhà toán học và vật lý lý
    thuyết người Anh Stephen Hawking.
    S.W. Hawking sinh năm 1942. Trong cuộc sống cá nhân,
    ông gặp nhiều bất hạnh. Năm 1985, ông bị sưng phổi và sau
    khi phẫu thuật mở khí quản, Hawking mất khả năng phát âm.
    Trước đó, một căn bệnh tê liệt thần kinh (bệnh ALS) đã gắn
    chặt ông vào chiếc xe đẩy. Hawking chỉ còn cách làm việc và
    giao tiếp với mọi người bằng một máy vi tính và một máy tổng
    hợp tiếng nói lắp liền với ghế. Tuy nhiên, tất cả những bất
    hạnh này không quật ngã được ý chí của nhà vật lý thiên tài.
    Hiện nay ông là giáo sư tại Đại học Cambridge (Anh), ở chức
    vụ mà ngày xưa Newton, rồi sau đó là P.A.M. Dirac, đảm
    nhiệm. Ông chuyên nghiên cứu về lý thuyết tương đối rộng.
    Những kết quả thu được cùng với George Ellis, Roger
    Penrose,… và nhất là sự phát hiện khả năng bức xạ của các
    các lỗ đen đã đưa Hawking lên hàng những nhà vật lý nổi
    tiếng nhất thế giới.
    Cuốn “Lược sử thời gian” được viết xong năm 1987. Ngay
    từ khi ra đời, nó đã trở thành một trong những cuốn sách bán
    chạy nhất thế giới. “Lược sử thời gian” đứng trong danh mục
    sách bán chạy nhất của New York Times trong 53 tuần, và tại
    nước Anh, 205 tuần liền nó có tên trong mục sách bán chạy
    nhất của Sunday Times. Chính Stephen Hawking cũng phải
    kinh ngạc. Từ trước đến nay, chưa có một cuốn sách khoa học
    nào được công chúng đón nhận nồng nhiệt như vậy (tuy rằng
    nhiều người nói, họ mua nó chỉ để bày ở tủ sách chứ không
    thực sự đọc. Về điểm này, cuốn sách của Hawking cũng có số
    phận tương tự như Kinh Thánh hoặc các vở kịch của
    Shakespeare).
    Bằng một lối trình bày sáng sủa, giọng văn hài hước, hơi
    nhuốm màu bi quan, Stephen Hawking đã dẫn dắt người đọc

    phiêu lưu suốt lịch sử vũ trụ, từ khi nó còn là một điểm kỳ dị
    với năng lượng vô cùng lớn, cho tới ngày nay. Cuộc tìm kiếm
    của Hawking giúp người đọc khám phá hết bí mật này đến bí
    mật khác. Đôi khi ông dụ độc giả vào những ngộ nhận tưởng
    như rất có lý, rồi lại bất ngờ chỉ ra sự phi lý trong cách nghĩ,
    để rồi phá vỡ mọi ngộ nhận. Cuốn sách đề cập đến những vấn
    đề nghiêm trọng và hóc búa nhất của vật lý lý thuyết, như vụ
    nổ lớn, lỗ đen, không - thời gian, thuyết tương đối, nguyên lý
    bất định… mà không hề làm bạn đọc bị rối.
    Bản tiếng Việt mà chúng tôi giới thiệu với các bạn sau đây
    được dịch bởi Cao Chi và Phạm Văn Thiều, nhà xuất bản Văn
    hóa Thông tin, Hà Nội, 2000.
    Minh Hy

    Lời giới thiệu của nhà xuất bản Bantam Books

    Chúng ta đang sống cuộc sống hàng ngày của chúng ta mà
    hầu như không hiểu được thế giới xung quanh. Chúng ta cũng
    ít khi suy ngẫm về cơ chế đã tạo ra ánh sáng mặt trời - một yếu
    tố quan trọng góp phần tạo nên sự sống, về hấp dẫn - cái chất
    keo đã kết dính chúng ta vào trái đất, mà nếu khác đi chúng ta
    sẽ xoay tít và trôi dạt vào không gian vũ trụ, về những nguyên
    tử đã cấu tạo nên tất cả chúng ta - mà chúng ta hoàn toàn lệ
    thuộc vào sự bền vững của chúng. Chỉ trừ có trẻ em (vì chúng
    còn biết quá ít để không ngần ngại đặt ra những câu hỏi quan
    trọng) còn ít ai trong chúng ta tốn thời gian để băn khoăn tại
    sao tự nhiên lại như thế này mà không như thế khác, vũ trụ ra
    đời từ đâu, hoặc nó có mãi mãi như thế này không, liệu có một
    ngày nào đó thời gian sẽ trôi giật lùi, hậu quả có trước nguyên
    nhân hay không; hoặc có giới hạn cuối cùng cho sự hiểu biết
    của con người hay không? Thậm chí có những đứa trẻ con, mà
    tôi có gặp một số, muốn biết lỗ đen là cái gì; cái gì là hạt vật
    chất nhỏ bé nhất, tại sao chúng ta chỉ nhớ quá khứ mà không
    nhớ tương lai; và nếu lúc bắt đầu là hỗn loạn thì làm thế nào
    có sự trật tự như ta thấy hôm nay, và tại sao lại có vũ trụ.
    Trong xã hội của chúng ta, các bậc phụ huynh cũng như
    các thầy giáo vẫn còn thói quen trả lời những câu hỏi đó bằng
    cách nhún vai hoặc viện đến các giáo lý mơ hồ. Một số giáo lý
    ấy lại hoàn toàn không thích hợp với những vấn đề vừa nêu ở
    trên, bởi vì chúng phơi bày quá rõ những hạn chế của sự hiểu
    biết của con người.
    Nhưng rất nhiều môn triết học và khoa học lại ra đời từ
    những câu lục vấn như vậy. Ngày càng có nhiều người lớn
    cũng muốn đặt những câu hỏi thuộc loại đó và thi thoảng họ
    đã nhận được những câu trả lời khá lạ lùng. Nằm trung gian
    giữa các nguyên tử và các vì sao, chúng ta đang mở rộng chân
    trời khám phá của chúng ta, nhằm bao quát cả những cái rất
    nhỏ lẫn những cái rất lớn.
    Mùa xuân năm 1974, khoảng 2 năm trước khi con tàu vũ
    trụ Viking hạ cánh xuống sao Hỏa, tôi có tham dự một cuộc

    họp tổ chức ở Anh, do Hội Hoàng gia London tài trợ, bàn về
    vấn đề làm thế nào tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất. Vào giờ
    giải lao, tôi thấy một cuộc họp lớn hơn nhiều được tổ chức ở
    phòng bên cạnh và vì tò mò tôi bước vào xem. Thì ra tôi đang
    chứng kiến một nghi lễ cổ kính, lễ kết nạp hội viên mới của
    Hội Hoàng gia London, một trong những tổ chức học thuật lâu
    đời nhất của hành tinh chúng ta. Ở hàng trên cùng, một thanh
    niên ngồi trong xe đẩy đang rất chậm rãi ký tên mình vào cuốn
    sổ mà ở những trang đầu tiên của nó còn giữ được chữ ký của
    Isaac Newton. Khi Stephen Hawking, cuối cùng đã ký xong
    tên mình, những tràng hoan hô như sấm nổi lên, ngay từ lúc đó
    ông đã là cả một huyền thoại.
    Hiện nay, Hawking là giáo sư toán học của trường Đại học
    Cambridge, với cương vị mà trước đây Newton, rồi sau này
    P.A.M Dirac - hai nhà nghiên cứu nổi tiếng về những cái cực
    lớn và những cái cực nhỏ - đảm nhiệm. Hawking là người kế
    tục hết sức xứng đáng của họ. Cuốn sách đầu tiên của
    Hawking dành cho những người không phải là chuyên gia này
    có thể xem là một phần thưởng về nhiều mặt cho công chúng
    không chuyên. Cuốn sách hấp dẫn vừa bởi nội dung phong
    phú của nó, vừa bởi nó cho chúng ta một cái nhìn khái quát
    qua những công trình của chính tác giả. Cuốn sách chứa đụng
    những khám phá trên những ranh giới của vật lý học, thiên văn
    học, vũ trụ học và của cả lòng dũng cảm nữa.
    Đây cũng là cuốn sách về Thượng đế… hay đúng hơn là
    về sự không-có-mặt-của-Thượng-đế. Chữ Thượng đế xuất hiện
    trên nhiều trang của cuốn sách này. Hawking đã dấn thân đi
    tìm câu trả lời cho câu hỏi nổi tiếng của Einstein: Liệu Thượng
    đế có sự lựa chọn nào trong việc tạo ra vũ trụ này hay không?
    Hawking đã nhiều lần tuyên bố một cách công khai rằng ông
    có ý định tìm hiểu ý nghĩa của Thượng đế. Và từ nỗ lực đó,
    ông đã rút ra kết luận bất ngờ nhất, ít nhất là cho đến hiện nay,
    đó là vũ trụ không có biên trong không gian, không có bắt
    đầu và kết thúc trong thời gian và chẳng có việc gì cho
    Đấng sáng thế phải làm ở đây cả .
    Peter Guzzardi

    Lời cảm ơn của Stephen Hawking

    Lời cảm ơn sau đây được in trong lần xuất bản đầu tiên
    của cuốn “Lược sử thời gian”, nhà xuất bản Batam Books,
    1987.
    Tôi đã quyết định thử viết một cuốn sách phổ thông về
    không gian và thời gian sau khi đã đọc một loạt bài giảng ở
    Đại học Harvard năm 1982. Trước đó, cũng đã có khá nhiều
    cuốn sách viết về giai đoạn đầu của vũ trụ và các lỗ đen, từ
    những cuốn sách rất hay như cuốn “Ba phút đầu tiên” của
    Steven Weinberg (Bản dịch tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa
    học và Kỹ thuật ra mắt năm 1982 - VnExpress), cho tới những
    cuốn rất tồi mà tôi không muốn nhắc tên ở đây. Tuy nhiên, tôi
    cảm thấy chưa có cuốn nào đề cập đến những vấn đề đã dẫn
    tôi đi nghiên cứu vũ trụ học và lý thuyết lượng tử như: Vũ trụ
    ra đời từ đâu? Nó bắt đầu như thế nào và tại sao lại như vậy?
    Nó có kết thúc không, và nếu có thì sẽ kết thúc như thế nào?
    Đó là những vấn đề mà tất cả chúng ta đều quan tâm. Nhưng
    khoa học hiện đại đã trở nên chuyên sâu tới mức chỉ có một số
    ít chuyên gia nắm vững những công cụ toán học được dùng để
    mô tả chúng mới có thể hiểu được chúng. Tuy nhiên, những ý
    tưởng cơ bản về nguồn gốc và số phận của vũ trụ vẫn có thể
    trình bày dưới dạng phổ thông cho những người không thuộc
    giới khoa học cũng có thể hiểu được mà không cần tới toán
    học. Đó là mục tiêu mà tôi muốn thực hiện trong cuốn sách
    này. Mục tiêu đó có đạt được hay không, xin để bạn đọc phán
    xét.
    Có ai đó nói với tôi rằng, mỗi một phương trình mà tôi đưa
    vào cuốn sách sẽ làm giảm số lượng bán đi một nửa. Do đó,
    tôi quyết định sẽ hoàn toàn không dùng đến một phương trình
    nào. Tuy nhiên, cuối cùng tôi cũng đành phải đưa vào một
    phương trình, đó là phương trình nổi tiếng của Einstein E
    =mc2. Tôi hy vọng nó sẽ không làm cho một số bạn đọc tiềm
    tàng của tôi phải hoảng sợ.
    Ngoại trừ căn bệnh ALS (bệnh liệt toàn thân), hay bệnh về
    thần kinh chuyển động, ở hầu hết các phương diện khác, tôi là

    một người may mắn. Nhờ sự giúp đỡ và hỗ trợ của Jane, vợ tôi
    và các con Robert, Lucy và Timmy mà tôi có thể sống gần như
    bình thường và có một sự nghiệp thành công. Tôi còn may
    mắn ở một điểm nữa là tôi đã chọn vật lý lý thuyết, vì tất cả
    chỉ được làm trong trí óc. Do đó bệnh tật của tôi không phải là
    một sự tàn phế quá nghiêm trọng. Tất nhiên, những đồng
    nghiệp cũng đã giúp đỡ tôi rất nhiều.
    Trong giai đoạn đầu tiên, giai đoạn “cổ điển” của con
    đường sự nghiệp, những người bạn và cộng sự chính của tôi là
    Roger Penrose, Robert Geroch, Brandon Carter và George
    Elis. Tôi rất biết ơn sự giúp đỡ mà họ đã dành cho tôi, và về
    công việc mà chúng tôi cùng tiến hành với nhau. Giai đoạn
    này đã được đúc kết thành cuốn sách “Cấu trúc ở thang vĩ mô
    của không - thời gian” do Elis và tôi viết năm 1973. Tôi không
    có ý định khuyên độc giả tìm đọc cuốn sách đó để lấy thêm
    thông tin, bởi vì nó quá chuyên sâu và tương đối khó đọc. Tôi
    hy vọng rằng từ khi viết cuốn sách đó đến nay, tôi đã học được
    cách viết sao cho dễ hiểu hơn.
    Trong giai đoạn thứ hai, giai đoạn “lượng tử” của con
    đường sự nghiệp của tôi, từ năm 1974, các cộng sự chính của
    tôi là Gary, Gibsons, Don Page và Jim Hartle. Tôi phải mang
    ơn họ và các nghiên cứu sinh của tôi rất nhiều vì sự giúp đỡ to
    lớn của họ đối với tôi. Sự tiếp xúc với sinh viên luôn kích
    thích tôi mạnh mẽ, và tôi hy vọng nó đã giúp tôi tránh được
    những con đường mòn.
    Khi viết cuốn sách này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ lớn
    của Brian Whitt, một sinh viên của tôi. Tôi bị sưng phổi năm
    1985, sau khi đã viết song bản thảo đầu tiên. Tôi đã phải phẫu
    thuật mở khí quản. Sau phẫu thuật, tôi mất khả năng phát âm,
    và do đó, hầu như không còn khả năng giao tiếp nữa. Tôi nghĩ
    sẽ không thể hoàn thành được cuốn sách. Nhưng Brian không
    chỉ giúp tôi sửa lại bản thảo mà còn giúp tôi sử dụng chương
    trình giao tiếp có tên là Living Center do Walt Woltosz thuộc
    World Plus Inc. ở Sunnyvale, California tặng cho tôi. Với
    chương trình đó, tôi vừa có thể viết sách báo, vừa có thể giao
    tiếp với mọi người bằng một máy tổng hợp tiếng nói do
    Speech Plus, cũng ở Sunnyvale, California, tặng cho tôi. Máy
    tổng hợp tiếng nói đó và một máy vi tính được David Manson
    lắp ngay trên chiếc xe đẩy của tôi. Hệ thống này đã làm được

    một chuyện hoàn toàn bất ngờ: thực tế bây giờ tôi có thể giao
    tiếp còn tốt hơn so với khi tôi chưa bị mất tiếng nói.
    Tôi cũng đã nhận được nhiều đề nghị hoàn thiện cuốn sách
    từ nhiều người đã xem bản thảo sơ bộ của nó. Đặc biệt, ông
    Peter Guzzardi, biên tập viên của tôi ở nhà xuất bản Bantam
    Books đã gửi cho tôi rất nhiều trang nhận xét và yêu cầu về
    những điểm ông cảm thấy tôi giải thích chưa thật thỏa đáng
    lắm. Tôi cũng phải thú nhận rằng tôi đã cảm thấy rất bực mình
    khi nhận được những bản liệt kê dài gồm những điều cần phải
    sửa đổi, nhưng ông đã hoàn toàn có lý. Tôi tin chắc rằng cuốn
    sách sở dĩ hay hơn chính là do ông đã bắt tôi phải làm việc cận
    lực.
    Tôi cũng rất cảm ơn những trợ tá của tôi: Colin Williams,
    David Thomas và Raymond Laflamme; các thư ký Judy Fella,
    Ann Ralph, Cheryl Billington và Sue Masey; cũng như đội
    ngũ các hộ lý của tôi. Cuốn sách này cũng không thể ra đời
    nếu không có sợ hỗ trợ cho cho nghiên cứu và chi phí y tế của
    tôi từ Trường Gonville và Caius, từ Hội đồng nghiên cứu khoa
    học và kỹ thuật, cũng như các Quỹ Leverhulme, McArthur,
    Nuffield và Ralph Smith. Tôi xin tỏ lòng biết ơn đối với các cơ
    quan đó.
    Stephen Hawking
    Ngày 20 tháng 10 năm 1987

    Chương 1: Bức tranh của chúng ta về vũ trụ

    Một nhà khoa học nổi tiếng (hình như là Bertrand Russell)
    một lần đọc trước công chúng một bài giảng về Thiên văn học.
    Ông đã mô tả trái đất quay quanh mặt trời như thế nào và đến
    lượt mình, mặt trời lại quay quanh tâm của một quần thể
    khổng lồ các vì sao - mà người ta gọi là thiên hà - ra sao. Khi
    bài giảng kết thúc, một bà già nhỏ bé ngồi ở cuối phòng đứng
    dậy và nói: “Anh nói với chúng tôi chuyện nhảm nhí gì vậy?
    Thế giới thực tế chỉ là một cái đĩa phẳng tựa trên lưng một con
    rùa khổng lồ mà thôi”. Nhà khoa học mỉm một nụ cười hạ cố
    trước khi trả lời: “Thế con rùa ấy tựa lên cái gì?”. “Anh thông
    minh lắm, anh bạn trẻ ạ, anh rất thông minh”, bà già nói,
    “nhưng những con rùa cứ xếp chồng lên nhau mãi xuống dưới,
    chứ còn sao nữa”.
    Nhiều người chắc thấy rằng bức tranh về vũ trụ của chúng
    ta như một cái thang vô tận gồm những con rùa chồng lên
    nhau là chuyện khá nực cười, nhưng tại sao chúng ta lại nghĩ
    rằng chúng ta hiểu biết hơn bà già nhỏ bé kia? Chúng ta đã
    biết gì về vũ trụ và bằng cách nào chúng ta biết về nó? Vũ trụ
    tới từ đâu và nó sẽ đi về đâu? Vũ trụ có điểm bắt đầu không và
    nếu có thì điều gì xảy ra trước đó? Bản chất của thời gian là
    gì? Nó có điểm tận cùng không? Những đột phá mới đây trong
    vật lý học - một phần nhờ những công nghệ mới tuyệt xảo - đã
    đưa ra câu trả lời cho một số câu hỏi tồn tại dai dẳng từ xa xưa
    vừa nêu ở trên. Một ngày nào đó, rất có thể những câu trả lời
    này sẽ trở nên hiển nhiên đối với chúng ta như chuyện trái đất
    quay xung quanh mặt trời hoặc cũng có thể trở nên nực cười
    như chuyện tháp những con rùa. Chỉ có thời gian (dù cho có
    thế nào đi nữa) mới có thể phán quyết.
    Từ rất xa xưa, khoảng năm 340 trước công nguyên,
    nhà triết học Hy Lạp Aristotle, trong cuốn sách của ông
    nhan đề “Về Bầu trời”, đã đưa ra hai luận chứng sáng giá
    chứng minh rằng trái đất có hình cầu chứ không phải là
    cái đĩa phẳng. Thứ nhất, ông thấy rằng hiện tượng nguyệt
    thực là do trái đất xen vào giữa mặt trời và mặt trăng. Mà bóng

    của trái đất lên mặt trăng luôn luôn là tròn, điều này chỉ đúng
    nếu trái đất có dạng cầu. Nếu trái đất là một cái đĩa phẳng thì
    bóng của nó phải dẹt như hình elip, nếu trong thời gian có
    nguyệt thực mặt trời không luôn luôn ở ngay dưới tâm của cái
    đĩa đó. Thứ hai, từ những chuyến du hành của mình, người Hy
    Lạp biết rằng sao Bắc đẩu nhìn ở phương nam dường như thấp
    hơn khi nhìn ở những vùng phương bắc! (Bởi vì sao Bắc đẩu
    nằm ngay trên cực bắc, nên nó dường như ở ngay trên đầu
    người quan sát ở Bắc cực, trong khi đó đối với người quan sát
    ở xích đạo, nó dường như nằm ngay trên đường chân trời).
    Từ sự sai khác về vị trí biểu kiến của sao Bắc đẩu ở Ai Cập
    so với ở Hy Lạp, Aristotle thậm chí còn đưa ra một đánh giá
    về chiều dài con đường vòng quanh trái đất là 400.000 stadia.
    Hiện nay ta không biết chính xác 1 stadia dài bao nhiêu, nhưng
    rất có thể nó bằng khoảng 200 thước Anh (1 thước Anh bằng
    0,914 mét). Như vậy, ước lượng của Aristotle lớn gần gấp 2
    lần con số được chấp nhận hiện nay. Những người Hy Lạp
    thậm chí còn đưa ra một luận chứng thứ 3 chứng tỏ rằng trái
    đất tròn bởi vì nếu không thì tại sao khi nhìn ra biển, cái đầu
    tiên mà người ta nhìn thấy là cột buồm và chỉ sau đó mới nhìn
    thấy thân con tàu?
    Aristotle nghĩ rằng trái đất đứng yên còn mặt trời, mặt
    trăng, các hành tinh và những ngôi sao chuyển động xung
    quanh nó theo những quỹ đạo tròn. Ông tin vào điều đó bởi vì
    ông cảm thấy - do những nguyên nhân bí ẩn nào đó - rằng trái
    đất là trung tâm của vũ trụ, rằng chuyển động tròn là chuyển
    động hoàn thiện nhất. Ý tưởng này đã được Ptolemy phát triển
    thành một mô hình vũ trụ hoàn chỉnh vào thế kỷ thứ 2 sau
    Công nguyên. Theo mô hình này thì trái đất đứng ở tâm và bao
    quanh nó là 8 mặt cầu tương ứng mang mặt trăng, mặt trời, các
    ngôi sao và 5 hành tinh đã biết vào thời gian đó: sao Thủy, sao
    Kim, sao Hỏa, sao Mộc và sao Thổ (Hình 1.1).

    Hình 1.1: Mô hình vũ trụ của Aristotle - Ptolemy coi trái đất là trung tâm
    của vũ trụ.

    Chính các hành tinh lại phải chuyển động trên những vòng
    tròn nhỏ hơn gắn với các mặt cầu tương ứng của chúng để phù
    hợp với đường đi quan sát được tương đối phức tạp của chúng
    trên bầu trời. Mặt cầu ngoài cùng mang các thiên thể được gọi
    là các ngôi sao cố định, chúng luôn luôn ở những vị trí cố định
    đối với nhau, nhưng lại cùng nhau quay ngang qua bầu trời.
    Bên ngoài mặt cầu cuối cùng đó là cái gì thì mô hình đó không
    bao giờ nói một cách rõ ràng, nhưng chắc chắn nó cho rằng đó
    là phần của vũ trụ mà con người không thể quan sát được.
    Mô hình của Ptolemy đã tạo ra được một hệ thống
    tương đối chính xác để tiên đoán vị trí của các thiên thể
    trên bầu trời. Nhưng để tiên đoán những vị trí đó một cách
    hoàn toàn chính xác, Ptolemy đã phải đưa ra giả thuyết rằng
    mặt trăng chuyển động theo một quỹ đạo đôi khi đưa nó tới
    gần trái đất tới 2 lần nhỏ hơn so với ở những thời điểm khác.
    Ptolemy đành phải chấp nhận điểm yếu đó, nhưng dẫu sao về
    đại thể, là có thể chấp nhận được. Mô hình này đã được nhà
    thờ Thiên chúa giáo chuẩn y như một bức tranh về vũ trụ phù
    hợp với Kinh Thánh, bởi vì nó có một ưu điểm rất lớn là để
    dành khá nhiều chỗ ở ngoài mặt cầu cuối cùng của các ngôi
    sao cố định cho thiên đường và địa ngục.
    Tuy nhiên, một mô hình đơn giản hơn đã được một mục sư
    người Ba Lan, tên là Nicholas Copernicus đề xuất vào năm
    1554. (Thoạt đầu, có lẽ vì sợ nhà thờ quy là dị giáo,
    Copernicus đã cho lưu hành mô hình của mình như một tác
    phẩm khuyết danh). Ý tưởng của ông là mặt trời đứng yên, còn
    trái đất và những hành tinh chuyển động theo những quỹ đạo

    tròn xung quanh mặt trời. Phải mất gần một thế kỷ, ý tưởng
    này mới được chấp nhận một cách thực sự. Hai nhà thiên văn một người Đức tên là Johannes Kepler và một người Italy tên
    là Galileo Galilei - đã bắt đầu công khai ủng hộ học thuyết
    Copernicus, mặc dù những quỹ đạo mà nó tiên đoán chưa ăn
    khớp hoàn toàn với những quỹ đạo quan sát được. Và vào năm
    1609 một đòn chí mạng đã giáng xuống học thuyết Aristotle Ptolemy. Vào năm đó, Galileo bắt đầu quan sát bầu trời bằng
    chiếc kính thiên văn của ông vừa phát minh ra. Khi quan sát
    sao Mộc, Galileo thấy rằng kèm theo nó còn có một số vệ tinh
    hay nói cách khác là những mặt trăng quay xung quanh nó.
    Điều này ngụ ý rằng không phải mọi thiên hà đều nhất thiết
    phải trực tiếp quay xung quanh trái đất, như Aristotle và
    Ptolemy đã nghĩ. (Tất nhiên vẫn có thể tin rằng trái đất đứng
    yên ở trung tâm của vũ trụ và các mặt trăng của sao Mộc
    chuyển động theo những quỹ đạo cực kỳ phức tạp khiến ta có
    cảm tưởng như nó quay quanh sao Mộc. Tuy nhiên học thuyết
    của Copernicus đơn giản hơn nhiều). Cùng thời gian đó,
    Kepler đã cải tiến học thuyết của Copernicus bằng cách đưa ra
    giả thuyết rằng các hành tinh không chuyển động theo đường
    tròn mà theo đường elip. Và những tiên đoán bấy giờ hoàn
    toàn ăn khớp với quan sát.
    Đối với Kepler, các quỹ đạo elip đơn giản chỉ là một giả
    thuyết tiện lợi và chính thế nó càng khó chấp nhận bởi vì các
    elip rõ ràng là kém hoàn thiện hơn các vòng tròn. Khi phát
    hiện thấy gần như một cách ngẫu nhiên rằng các quỹ đạo elip
    rất ăn khớp với quan sát, Kepler không sao dung hòa được nó
    với ý tưởng của ông cho rằng các hành tinh quay quanh mặt
    trời là do các lực từ. Điều này phải mãi tới sau này, vào năm
    1867, mới giải thích được, khi Isaac Newton công bố tác phẩm
    Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Những nguyên
    lý toán học của triết học tự nhiên) của ông. Có lẽ đây là công
    trình vật lý học quan trọng bậc nhất đã được xuất bản từ trước
    đến nay. Trong công trình này, Newton không chỉ đưa ra
    một lý thuyết mô tả sự chuyển động của các vật trong
    không gian và thời gian, mà ông còn phát triển một công
    cụ toán học phức tạp dùng để phân tích các chuyển động
    đó . Hơn thế nữa, Newton còn đưa ra một định luật về hấp dẫn
    vũ trụ mà theo đó mỗi một vật trong vũ trụ đều được hút bởi
    một vật khác bằng một lực càng mạnh nếu hai vật càng nặng

    và càng ở gần nhau. Chính lực này đã buộc các vật phải rơi
    xuống đất.(Câu chuyện kể rằng, do có quả táo rơi trúng đầu
    mà Newton đã cảm hứng phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ
    chắc chắn chỉ là chuyện thêu dệt. Tất cả những điều mà
    Newton nói ra chỉ là: ý tưởng về hấp dẫn đến với ông khi đang
    ngồi ở “trạng thái chiêm nghiệm” và “được nảy sinh bởi sự rơi
    của quả táo”). Newton đã chỉ ra rằng theo định luật của ông,
    lực hấp dẫn sẽ làm cho mặt trăng chuyển động theo quỹ đạo
    elip xung quanh trái đất và các hành tinh chuyển động theo
    quỹ đạo elip xung quanh mặt trời.
    Mô hình Copernicus đã vứt bỏ những thiên cầu của
    Ptolemy và cùng với chúng vứt bỏ luôn ý tưởng cho rằng vũ
    trụ có một biên giới tự nhiên. Vì “những ngôi sao cố định”
    dường như không thay đổi vị trí của chúng trừ sự quay xung
    quanh bầu trời do trái đất quay xung quanh trục của nó, nên sẽ
    là hoàn toàn tự nhiên nếu giả thiết rằng các ngôi sao cố định là
    những thiên thể giống như mặt trời của chúng ta, nhưng ở xa
    hơn rất nhiều. Căn cứ vào lý thuyết hấp dẫn của mình, Newton
    thấy rằng do các ngôi sao hút nhau nên về căn bản chúng
    không thể là đứng yên được. Vậy liệu chúng có cùng rơi vào
    một điểm nào đó không? Trong bức thư viết năm 1691 gửi
    Richard Bentley, cũng là một nhà tư tưởng lỗi lạc thời đó,
    Newton đã chứng tỏ rằng điều đó thực tế có thể xảy ra nếu chỉ
    có một số hữu hạn các ngôi sao được phân bố trong một vùng
    hữu hạn của không gian. Nhưng mặt khác, ông cũng chỉ ra
    rằng nếu có một số vô hạn các ngôi sao được phân bố tương
    đối đồng đều trong không gian vô tận thì điều đó không thể
    xảy ra được, bởi vì khi đó sẽ không có điểm nào là trung tâm
    để cho chúng rơi vào. Luận chứng này là một ví dụ về những
    cái bẫy mà ta có thể gặp khi nói về sự vô hạn. Trong vũ trụ vô
    hạn, mỗi một điểm đều có thể được xem là một tâm, bởi mỗi
    một điểm đều có một số vô hạn các ngôi sao ở mỗi phía của
    nó. Cách tiếp cận đúng đắn - mà điều này phải mãi sau này
    mới có - phải là xem xét một tình trạng hữu hạn trong đó tất cả
    các ngôi sao sẽ rơi vào nhau và sau đó đặt câu hỏi tình hình sẽ
    thay đổi như thế nào nếu ta thêm vào một số ngôi sao nữa
    được phân bố gần như đồng đều ở ngoài vùng đang xét. Theo
    định luật của Newton thì về trung bình, những ngôi sao mới
    thêm vào này cũng hoàn toàn không làm được điều gì khác với
    những ngôi sao ban đầu, tức là chúng cũng rơi nhanh như vậy.

    Chúng ta có thể thêm vào bao nhiêu ngôi sao tùy ý, nhưng
    chúng cũng sẽ rơi sập vào nhau. Bây giờ thì chúng ta hiểu rằng
    không thể có một mô hình tĩnh vô hạn của vũ trụ trong đó hấp
    dẫn luôn là lực hút.
    Đây là sự phản ánh lý thú về bầu không khí tư tưởng
    chung của một giai đoạn trước thế kỷ hai mươi, trong đó
    không một ai nghĩ rằng vũ trụ đang giãn nở hoặc đang co lại.
    Mọi người đều thừa nhận rằng hoặc vũ trụ tồn tại vĩnh cửu
    trong trạng thái không thay đổi, hoặc nó được tạo ra ở một thời
    điểm hữu hạn trong quá khứ đã gần giống chúng ta quan sát
    thấy hiện nay. Điều này có thể một phần là do thiên hướng của
    con người muốn tin vào những sự thật vĩnh cửu cũng như sự
    tiện lợi mà họ tìm thấy trong ý nghĩ rằng vũ trụ là vĩnh cửu và
    không thay đổi, mặc dù ngay bản thân họ cũng có thể già đi và
    chết.
    Thậm chí ngay cả những người thấy rằng lý thuyết hấp dẫn
    của Newton chứng tỏ vũ trụ không thể là tĩnh, cũng không
    nghĩ tới chuyện cho rằng nó có thể đang giãn nở. Thay vì thế,
    họ lại có ý định cải biến lý thuyết này bằng cách làm cho lực
    hấp dẫn trở thành lực đẩy ở những khoảng cách rất lớn. Điều
    này không ảnh hưởng đáng kể đến những tiên đoán của họ về
    chuyển động của các hành tinh, nhưng lại cho phép một sự dàn
    trải vô hạn của các ngôi sao còn ở trạng thái cân bằng: những
    lực hút của các ngôi sao ở gần nhau sẽ được cân bằng bởi lực
    đẩy từ các ngôi sao ở rất xa. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta biết
    chắc chắn rằng, sự cân bằng đó là không bền: nếu những ngôi
    sao ở một vùng nào đó chỉ cần xích lại gần nhau một chút là
    lực hút giữa chúng sẽ mạnh hơn và lấn át lực đẩy, và thế là các
    ngôi sao sẽ tiếp tục co lại vào nhau. Mặt khác, nếu những ngôi
    sao dịch ra xa nhau một chút là lực đẩy sẽ lại lấn át, và các
    ngôi sao sẽ chuyển động ra xa nhau.
    Một phản bác nữa đối với mô hình vũ trụ tĩnh vô hạn
    thường được xem là của nhà triết học người Đức Heinrich
    Olbers, người viết về lý thuyết này vào năm 1823. Thực tế thì
    rất nhiều người đương thời của Newton đã nêu ra vấn đề này,
    và bài báo của Olbers thậm chí cũng không phải là bài đầu tiên
    chứa đựng những lý lẽ hợp lý chống lại nó. Tuy nhiên, đây là
    bài báo đầu tiên được nhiều người chú ý. Khó khăn là ở chỗ
    trong một vũ trụ tĩnh vô hạn thì gần như mỗi một đường ngắm

    đều kết thúc trên bề mặt của một ngôi sao. Như thế thì toàn bộ
    bầu trời sẽ phải sáng chói như mặt trời, thậm chí cả ban đêm.
    Lý lẽ phản bác của Olbers cho rằng ánh sáng từ các ngôi sao
    xa sẽ bị mờ nhạt đi do sự hấp thụ của vật chất xen giữa các
    ngôi sao. Tuy nhiên, dù cho điều đó có xảy ra đi nữa thì vật
    chất xen giữa cuối cùng sẽ nóng lên, cho đến khi nó cũng phát
    sáng như những ngôi sao. Con đường duy nhất tránh được kết
    luận cho rằng toàn bộ bầu trời đêm cũng sáng chói như bề mặt
    của mặt trời là phải giả thiết rằng, các ngôi sao không phát
    sáng vĩnh viễn, mà chỉ bật sáng ở một thời điểm hữu hạn nào
    đó trong quá khứ. Trong trường hợp hợp đó, vật chất hấp thụ
    còn chưa thể đủ nóng, hay ánh sáng từ các ngôi sao xa chưa
    kịp tới chúng ta. Và điều này lại đặt ra cho chúng ta một câu
    hỏi: cái gì đã làm cho các ngôi sao bật sáng đầu tiên?
    Sự bắt đầu của vũ trụ, tất nhiên, đã được người ta thảo luận
    từ trước đó rất lâu. Theo một số lý thuyết về vũ trụ có từ xa
    xưa, và theo truyền thống của người Do Thái giáo/ Thiên Chúa
    giáo/ Hồi giáo, thì vũ trụ bắt đầu có từ một thời điểm hữu hạn
    nhưng chưa thật quá xa trong quá khứ. Một lý lẽ chứng tỏ có
    sự bắt đầu đó là cảm giác cần phải có cái “nguyên nhân đầu
    tiên” để giải thích sự tồn tại của vũ trụ. (Trong vũ trụ, bạn luôn
    luôn giải thích một sự kiện như là được gây ra bởi một sự kiện
    khác xảy ra trước đó, nhưng sự tồn tại của chính bản thân vũ
    trụ chỉ có thể được giải thích bằng cách đó, nếu nó có sự bắt
    đầu). Một lý lẽ nữa do St. Augustine đưa ra trong cuốn sách
    của ông nhan đề Thành phố của Chúa. Ông chỉ ra rằng, nền
    văn minh còn đang tiến bộ, và chúng ta nhớ được ai là người
    đã thực hiện kỳ công này hoặc ai đã phát triển kỹ thuật kia.
    Như vậy, con người và có lẽ cả vũ trụ nữa đều chưa thể được
    trải nghiệm được quá lâu dài. Và đã thừa nhận ngày ra đời của
    vũ trụ vào khoảng 5.000 năm trước Công nguyên, phù hợp với
    sách Chúa sáng tạo ra thế giới (phần Sáng thế ký của Kinh
    Cựu ước). (Điều lý thú là thời điểm đó không quá xa thời điểm
    kết thúc của thời kỳ băng hà cuối cùng, khoảng 10.000 năm
    trước Công nguyên, thời điểm mà các nhà khảo cổ nói với
    chúng ta rằng nền văn minh mới thực bắt đầu).
    Mặt khác, Aristotle và các triết gia Hy Lạp khác lại không
    thích ý tưởng về sự Sáng thế vì nó dính líu quá nhiều tới sự
    can thiệp của thần thánh. Do đó họ tin rằng loài người và thế

    giới xung quanh đã tồn tại và sẽ còn tồn tại mãi mãi. Những
    người cổ đại đã xem xét lý lẽ nêu ở trên về sự tiến bộ và họ
    giải đáp như sau: đã có nhiều nạn hồng thuỷ hoặc các tai họa
    khác xảy ra một cách định kỳ đưa loài người tụt lại điểm bắt
    đầu của nền văn minh.
    Những vấn đề: vũ trụ có điểm bắt đầu trong thời gian
    và có bị giới hạn trong không gian hay không sau này đã
    được nhà triết học Immannuel Kant xem xét một cách bao
    quát trong cuốn Phê phán sự suy lý thuần tuý, một công
    trình vĩ đại (và rất tối nghĩa) của ông, được xuất bản năm
    1781. Ông gọi những câu hỏi đó là sự mâu thuẫn của suy lý
    thuần tuý, bởi vì ông cảm thấy có những lý lẽ với sức thuyết
    phục như nhau để tin vào luận đề cho rằng vũ trụ có điểm bắt
    đầu, cũng như vào phản đề cho rằng vũ trụ đã tồn tại mãi mãi.
    Lý lẽ của ông bênh vực luận đề là: nếu vũ trụ không có điểm
    bắt đầu thì trước bất kỳ một sự kiện nào cũng có một khoảng
    thời gian vô hạn, điều này ông cho là vô lý! Lý lẽ của ông bảo
    vệ phản đề là: nếu vũ trụ có điểm bắt đầu, thì sẽ có một
    khoảng thời gian vô hạn trước nó, vậy thì tại sao vũ trụ lại bắt
    đầu ở một thời điểm nào đó? Sự thật thì những trường hợp ông
    đưa ra cho cả luận đề và phản đề đều chỉ là một lý lẽ mà thôi.
    Cả hai đều dựa trên một giả thiết không nói rõ ra cho rằng thời
    gian lùi vô tận về phía sau bất kể vũ trụ có tồn tại mãi mãi hay
    không. Như chúng ta sẽ thấy sau này, khái niệm thời gian mất
    ý nghĩa trước thời điểm bắt đầu của vũ trụ. St. Augustine là
    người đầu tiên đã chỉ ra điều đó. Khi được hỏi: Chúa đã làm gì
    trước khi Người sáng tạo ra thế giới? Ông không đáp: Người
    đang tạo ra Địa ngục cho những kẻ đặt những câu hỏi như vậy.
    Thay vì thế, ông nói rằng thời gian là một tính chất của vũ trụ
    mà Chúa đã tạo ra và thời gian không tồn tại trước khi vũ trụ
    bắt đầu.
    Khi mà số đông tin rằng vũ trụ về căn bản là tĩnh và không
    thay đổi thì câu hỏi nó có điểm bắt đầu hay không thực tế chỉ
    là một câu hỏi của siêu hình học hoặc thần học. Người ta có
    thể viện lẽ rằng những điều quan sát được đều phù hợp tốt như
    nhau với lý thuyết cho rằng nó bắt đầu vận động ở một thời
    điểm hữu hạn nào đó, theo cách sao cho dường như là nó đã
    tồn tại mãi mãi. Nhưng vào năm 1929, Edwin Hubble đã thực
    hiện một quan sát có tính chất là một cột mốc cho thấy dù bạn

    nhìn ở đâu thì những thiên hà xa xôi c...
     
    Gửi ý kiến

    Học từ sách là học từ tinh hoa của nhân loại.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NAM ĐỒNG - TP. HẢI PHÒNG !