Video sự tích cây nêu đất
Những năm tháng không thể nào quên

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:58' 18-04-2024
Dung lượng: 241.0 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:58' 18-04-2024
Dung lượng: 241.0 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp
Những năm tháng không thể nào quên
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Mục Lục
Thông tin ebook
- 1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 -
- 1 -
Về Hà Nội, chúng tôi ở phố Hàng Ngang. Thành uỷ đã bố trí cho chúng tôi ở tại một gia đình cơ
sở. Ít hôm sau, có tin Bác đã về. Mấy ngày trước đó, một trung đội Quân giải phóng thuộc chi
đội Quang Trung chiến đấu tại Thái Nguyên, đã được lệnh quay gấp lại Tân Trào để đi bảo vệ
Bác. Đồng chí đến báo tin nói dọc đường có những lúc Bác phải dùng cáng. Như vậy, chắc Bác
còn yếu lắm. Bác vốn không bao giờ muốn làm bận đến người khác ngay cả những khi yếu mệt.
Tình hình đang khẩn trương. Các anh rất mừng.
Anh Thọ được cử lên chiến khu đón Bác thì Bắc đã về. Anh Ninh và tôi cùng đi lên Phú Gia gặp
Bác.
Xe nhanh chóng ra khỏi thành phố. Rặng ồi ven đê quen thuộc. Những làng quanh Hồ Tây phấp
phới cờ đỏ. Nhớ lại ngày đi đón Bác ở Đèo Gie. Khi đó, Bác ở Cao Bằng về Tân Trào. Ít ngày sau,
Tân Trào dã trở thành thủ đô của cách mạng.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, lênh dênh góc bể chân trời, đã có những ngày
vui lớn. Đó là ngày Bác tìm thấy con đường giải phóng dân tộc khi đọc Luận cương của Lenin
về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đó là ngày thành lập Đảng cộng sản Pháp năm 1920 mà Bác
là một thành viên. Và ngày lịch sử mồng 3 tháng Hai năm 1930, ngày thành lập Đảng cộng sản
Đông Dương...
Đây lại là một ngày vui lớn nữa đang đến với Bác, đang đến với cách mạng Việt Nam. Mới đêm
nào còn ngồi bên chiếc giường tre, trong căn lán nhỏ, những ngày Bác mệt nặng tại Tân Trào.
Vào những giây phút đó mới thấy hết được tấm lòng khát khao cháy bỏng của Bác đối với nền
độc lập, tự do của dân tộc. Không phải chỉ ở những lời Bác dặn dò về công tác cán bộ, cách giữ
vững phong trào, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập tự
do”. Tấm lòng của Bác còn hiện lên rất rõ qua mỗi cử chỉ nhỏ, qua cái nhìn khi Bác chợt tỉnh
giữa những cơn sốt, qua sự đấu tranh với bệnh tật hiểm nghèo để giành từng phút, từng giây
cho cách mạng.
Theo lời hiệu triệu của Đảng, của Bác, suốt mấy ngày nay, cả dân tộc ta từ Bắc chí Nam đã vùng
dậy với một sức mạnh như triều dâng, thác đổ. Tại Hà Nội, quần chúng cách mạng đã vượt qua
hàng rào sắt, xông vào chiếm Bắc Bộ phủ. Đồng bào già, trẻ, gái, trai, lớn, bé dã siết thành dội
ngũ, giương cờ Việt Minh, tiến vào trước họng đại bác xe tăng Nhật ở trại Nhật trại bảo an
binh. Xe tăng, súng máy và lưỡi lê của quân Nhật phải lùi. Bọn Nhật đành phải trao cho cách
mạng toàn bộ kho vĩu khí của bảo an binh đóng tại đây. Tin khởi nghĩa thắng lợi ở khắp các địa
phương đang dồn dập bay về...
Chúng tôi vào làng Gạ.
Bác ở một ngôi nhà gạch nhỏ nhưng sạch sẽ. Chúng tôi bước vào, nhìn thấy ngay Bác đang ngồi
nói chuyện với cụ chủ nhà.
Ngày nào ở Việt Bắc, Bác còn là một ông ké Nùng. Bữa nay, Bác đã trở thành một cụ nông dân
miền xuôi rất thoải mái, tự nhiên trong bộ áo quần nâu. Bác vẫn gầy nên đôi gò má cao. Những
đường gân hiện rõ trên trán và hai thái dương. Nnhưng với vầng luôn luôn ngời sáng, một sức
mạnh tinh thần kỳ lạ toát ra từ hình dáng mảnh dẻ của Bác. Dù sao so với những ngày dự hội
nghị ở Tân Trào, Bác đã khá hơn nhiều.
Cụ chủ nhà thấy chúng tôi tới, giữ ý, mời thế nào cũng không ngồi lại, nói vài câu chào hỏi rồi
lánh đi chỗ khác.
Bác tươi cười nhìn chúng tôi, nói:
- Trông các chú bữa nay ra dáng người tỉnh thành rồi.
Chúng tôi sôi nổi báo cáo với Bác tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội và các tỉnh. Bác ngồi lắng nghe,
vẻ mặt điểm đạm. Tính Bác như vậy, khi vui khi buồn đều vẫn bình thản.
Chúng tôi nói với Bác ý Thường vụ muốn tồ chức sớm lễ ra mắt của Chính phủ. Theo quyết
định của Hội nghị toàn quốc họp lại Tân Trào, Uỷ ban dân tộc giải phóng do Bác làm Chủ tịch
sẽ trở thành Chính phủ lâm thời.
Với một vẻ vui vui, Bác nói như hỏi lại chúng tôi:
- Mình làm Chủ tịch à?
Thực ra, một thời kỳ rất vẻ vang nhưng cũng cực kỳ hiểm nghèo của dân tộc đã bắt dầu. Bác đã
nhận sứ mệnh lhó khăn: Lái con thuyền quốc gia Việt Nam vừa mới hình thành, vượt qua
những thác ghềnh nguy hiểm. Bác đã đón nhận nhiệm vụ đó trước lịch sử, trước nhân dân đúng
như Bác đã trả lởi các nhà báo nước ngoài ba tháng sau đó: “Tôi tuyệt đối không ham muốn
công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi
gắng phải làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận”.
- 2 -
Chúng tôi trở về Hàng Ngang trước đề chuẩn bị.
Anh Nhân(1) lên sau, ở lại đến chiều cùng về với Bác. Đây là lần đầu tiên Bác đến Hà Nội. Chặng
đường ba trăm ki-lô-mét từ ngôi nhà tranh nhỏ hẹp tại làng Kim Liên tới đây, Bác đã đi mất
ngoài ba mươi lăm năm.
Con đường Bác đã đi không giống bất cứ con đường của một người Việt Nam yêu nước nào đã
đi trước Bác. Bác đã một mình lặn lội, xông pha trên những nẻo đường của hầu khắp các miền
khác nhau trên trái đất. Chủ nghĩa tư bản đã bước vào giai đoạn phát triền tột cùng của nó, trở
nên vô cùng xấu xa. Nó tìm mọi cách xoá nhoà ranh giới giữa trắng, đen, giữa thiện, ác. Nó
xuyên tạc mọi giá trị tinh thần chân chính mà loài người đến đó đã thành đạt được. Nó đang
bưng bít mọi ánh sáng của công lý, tự do.
Bác đã đi giữa những ngày đông ảm đạm, vòm trời châu Âu, châu Á bị những đám mây đen
chiến tranh cửa chủ nghĩa đế quốc che phủ.
Thế gian hỗn loạn, đau thương; tội ác của chủ nghĩa đế quốc chồng chất. Giữa lúc vàng thau lẫn
lộn, giả thật khó phân, Bác đã nhanh chóng nhìn thấy ánh sáng của chân lý. Bác đã đến với chủ
nghĩa Lenin. Bác đã thấy học thuyết Lenin chính là mặt trời đưa lại nguồn sổng tươi vui Bác đã
thấy ngọn cờ Lenin là tượng trưng cho lòng tin và đuốc sáng của hy vọng. Từ năm mươi năm
trước dây, người yêu nước Việt Nam vĩ đại đã tìm được ở chủ nghĩa Mác- Lê nin cho đồng bào
ta và những người cùng hội cùng thuyền - những dân tọc bị đoạ đày vì chủ nghĩa đế quốc một
con đường giải phóng duy nhất: “Đường cách mệnh”.
Một sự đổi thay lớn lao đã đến trong đời sống của dân tộc.
Mấy ngày trước đây, Hà Nội còn giữ nguyên vẹn bộ mặt một sản phầm của chế độ thực dân
thối nát thời chiến. Cả thành phố chìm đắm trong những hoạt động chợ đen. Cuộc sống tính
từng ngày. Những chiếc xe chở rác không đủ để đưa xác những người chết đói ra vùng ngoại ô,
đổ xuồng những hố chung. Trong khi đó, ở các cửa ô, người đói khắp làng quê vẫn ùn ùn kéo
vào. Họ đi vật vờ như những chiếc lá khô buổi chiều đông. Nhiều khi chỉ một cái gạt tay của
viên cảnh sát, cũng đủ làm họ ngã xuồng không bao giờ trở dậy.
Lại thêm tháng Tám năm nay, nước các triền sông đều lên to. Cơn “hồng thuỷ” đã phá vỡ
những đê diều từ lâu không được bọn thống trị nhòm ngó tới. Sáu tỉnh đồng bằng, vựa thóc của
cả miền Bác, bị chìm dưới làn nước trắng. Dịch tả hoành hành. Bao nhiêu tai hoạ của chế độ
thực dân cùng một lúc dồn đến.
Cùng với bọn đầu cơ kinh tế, bọn đầu cơ chính trị cũng dua nhau nổi lên. Chúng vừa hô Việt
Nam độc lập, vừa hô “Đại Nhật Bản vạn tuế”. Thay vào những tên đội xếp Pháp mang dùi cui là
những hiến binh Nhật đeo kiếm dài, lệt xệt đôi ủng đi trên các hè phố.
Không phải chỉ riêng Hà Nội mà cả dân tộc ta đang sống những giờ phút đau thương.
Thắng lợi vĩ đại của Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật vào giữa tháng
Tám, đã đưa lại cho dân tộc ta một thời cơ lớn. Cách mạng nổi lên như một cơn lốc. Chỉ trong
vài ngày, những vết nhơ, những nỗi nhục, những khổ đau của chê độ nô lệ đã được quét đi khá
nhiều.
Sức hồi sinh của cách mạng thật lạ thường. Hôm trước cả thành phố còn tê liệt vì nạn đói, vì
bệnh dịch, vì sự khủng bố. Hôm sau, tất cả những đường to ngõ hẻm đã sôi lên. Hàng vạn, hàng
vạn con người ầm ầm kéo đi với sức mạnh như những dòng thác. Chính quyền nhân dân cách
mạng vừa mới thành lập. Phần lớn đông bào còn chưa biết những ai là người thay mặt cho
chính quyền mới. Nhưng mọi người đã tự động tạo nên một trật tự mới, trật tự của cách mạng.
Nạn cướp giật mất hân. Trộm, cắp hầu như không xảy ra. Những người ăn xin cũng không còn.
Hoạt động buôn bán, hoạt động chủ yếu của thành phố, đã nhường chỗ cho một hoạt động
mới: hoạt động cách mạng.
Một người đi xe đạp đến đầu phố cầm loa hô lớn: “Mời đồng bào đến tập trung ở địa điểm X.
tham gia biểu tình”. Không biết người đó là ai, nhưng lời hô hào lập tức được truyền đi. Nhiều
người dân tự động vác loa ra đứng giữa đường, làm công tác thông tin. Ai đang làm dở việc gì
cũng dề lại đấy. Tất cả ào ào kéo đi. Chỉ chốc lát, hàng vạn người đã có mặt ở địa điểm biểu
tình. Họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà cách mạng cần đến. Không khí Hà Nội trở nên trong
lành, náo nức.
“Đoàn quân Việt Minh đi, chung lòng cứu quốc...” những bài ca cách mạng vang lên rộn ràng từ
sớm tới khuya. Cờ sao mỗi lúc một nhiều hơn, đẹp hơn. Cờ bay đỏ nhà, đỏ phố. Cách mạng
đúng là ngày hội của những người bị áp bức.
Chập tối, Bác đến nhà. Chúng tôi ra đón, nhận thấy trên nét mặt của Bác những dấu hiệu xúc
động.
Bác đã về đến Hà Nội. Ít ngày nữa, Hà Nội sẽ trở thành Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên tại Đông Nam châu Á. Hà Nội chưa được cùng san sẻ
với chúng tôi hôm nay niềm vui đón Bác trở về. Ngay cả đồng chí lái xe bữa ấy cũng vậy. Mấy
ngày sau, anh xin phép nghỉ, lên Thái Nguyên dẫn bố về dự Tết Độc lập để xem mặt cụ Chủ tịch
nước. Đến quảng trường Ba Đình, anh mới biết Hồ Chủ tịch chính là cụ già bữa trước mình đã
đánh xe đi đón ở làng Gạ.
---
(1) Đồng chí Trường Chinh
- 3 -
Tại hội nghị Pốt-đam cuối tháng Bảy năm ấy. Đồng minh đã quyết định chia Đông Dương
thành hai khu vực để tiến vào tước vũ khí quân đội Nhật Bản khi Nhật đầu hàng. Việc giải giáp
quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào, do quân Anh phụ trách. Từ vĩ tuyến 16 trở ra, sẽ do quân
đội Tưởng Giới Thạch chịu trách nhiệm. Đương nhiên, trong việc hệ trọng đó dân ta không
được hỏi ý kiến. Do áp lực của Mỹ, Pháp đã bị gạt ra ngoài.
Bọn Tưởng chưa tới thì chiều ngày 22 tháng Tám, đã thấy xuất hiện một số võ quan Pháp bên
cạnh phái bộ Mỹ vừa đáp máy bay xuống Hà Nội.
Các viên võ quan Pháp được bọn Nhật đưa tới khách sạn Mê-tơ-rô-pôn. Nhiều kiều dân Pháp
còn trú ngụ tại đây. Đồng bào ta nhận ra chúng qua bộ quần áo nhà binh Pháp, lập tức ùa tới
phản đối.
Người kéo đến mỗi lúc một đông. Bất chấp lưỡi lê của bọn lính Nhật đứng gác, những dây chắn
trước khách sạn bị phá đứt tung. Trước sự phẫn nộ của quần chúng, những tên hiến binh Nhật
vội vã hộ tống bọn võ quan Pháp trở về phủ toàn quyền cũ, lúc dó còn là tổng hành dinh của
quân đội Nhật.
Từ mấy tháng trước, khi còn ở chiến khu, chúng tôi đã nghe tin Đờ Gôn đưa ra một bản tuyên
bố về quy chế mới cho chế độ chính trị của Pháp tại Đông Dương. Theo bản tuyên bố này, Đông
Dương sẽ trở thành một liên bang gồm năm “nước” khác nhau (ngoài Lào, Cam-pu-chia, chúng
chia Việt Nam ra làm ba “nước”: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ). Các nước này sẽ được hưởng
một chế độ gọi là “chế độ tự trị ở bên trong”. Liên bang này sẽ có một Chính phủ liên bang
đứng dầu là một “quan toàn quyền” đại diện cho nước Pháp, có cả quyền hành pháp lẫn quyền
lập pháp. Qua bản tuyên bổ này, chính sách thực dân của đế quốc Pháp đối với ta vẫn không
thay đổi.
Nghe tin Nhật hoàng sắp đầu hàng, Chính phủ Pháp đã lập tức có những hoạt động. Nhiều toán
gồm những võ quan, những quan cai trị, những tên tình báo ở Trung Hoa, ở Xây-lan, ở Ma-đagát-ca được lệnh tìm mọi cách đột nhập Đông Dương. Chúng nhây dù xuống nhiều địa điểm ở
khắp Trung, Nam, Bắc. Có bọn vào ta bằng đường biển. Chúng chưa biết những đổi thay sâu sắc
đã diễn ra ở đây trong thời gian qua. Nhiều tên còn đi tìm các quan lại, hương lý cũ để cho xem
giấy tờ. Hầu hết bọn chúng đã rơi vào tay ta, một số vào tay Nhật.
Về Hà Nội ít ngày, chúng tôi được tin: ngay khi Nhật đầu hàng, Chính phủ Pháp đã ra lệnh cho
đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, được tổ chức từ khá lâu trước đó, lên đường gấp sang
Đông Dương. Lơ-cơ-léc, một viên tướng có tên tuổi trong cuộc chiến đấu giải phóng nước
Pháp, được chỉ định làm tổng chỉ huy, Đác-giăng-li-ơ, thuỷ sư đô đốc, một thầy tu phá giới,
người thân cận của Đờ Gôn, được bổ nhiệm chức cao uỷ. Những chiếc tàu chiến của Pháp còn
lại sau cuộc đại chiến lần thứ hai, hướng mũi về Đông Dương. Từ đầu bên kia trái đất, những
nòng súng đã chĩa về phía cách mạng.
Sự xuất hiện của một phái đoàn gồm trên một chục võ quan người Pháp ở Hà Nội, là một điều
làm cho Bác và các anh rất quan tâm. Tại sao bọn Pháp tới được đây trước cả khi quân Tưởng
vào. Thái độ của Đồng minh, đặc biệt là của Mỹ và Tưởng đối với Pháp trong vấn đề Đông
Dương ra sao. Đó là điều chúng ta đang cần biết.
Chúng tôi nhân danh một phái đoàn của chính quyền nhân dân gặp phái bộ Mỹ. Qua cuộc gặp
này, chúng ta biết dứt khoát việc giải giáp quân đội Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16 vẫn do quân
Tưởng đảm nhiệm. Chúng ta lại nhận thấy nhóm người Mỹ và nhóm người Pháp ở Hà Nội
đường như không ưa nhau. Trong khi Pháp đang ráo riết tìm cách quay lại Đông Dương thì
viên sĩ quan người Mỹ Pát-ti, với một động cơ nào đó còn chưa hiểu được, lại bày tỏ cảm tình
với cuộc chiến đấu chống Nhật của Việt Minh.
Trước cao trào khởi nghĩa của toàn dân từ Bắc chí Nam, bọn Nhật thua trận hoang mang.
Những trận đánh của ta ở Việt Bắc, ở các nơi làm cho chúng phải suy nghĩ. Nếu chống lại cách
mạng, số phận chúng sẽ ra sao sau khi chúng đã bị quân Đồng minh tước khí giới? Bọn Nhật đã
thấy chằng có lợi gì cho chúng, nếu chúng cản trở cách mạng.
Tại Huế, ngày 23 tháng Tám, mười lăm vạn đồng bào nội, ngoại thành tuần hành thị uy trên
các đường phố. Uỷ ban khởi nghĩa đưa thư đòi Bảo Đại thoái vị. Các lực lượng vũ trang khởi
nghĩa chiếm các công sở và lùng bắt bọn Việt gian. Trước áp lực to lớn của cách mạng, Bảo Đại
tuyên bố săn sàng từ giã ngôi vua.
Ngày 25 tháng Tám, cuộc khởi nghĩa bùng ra trên phần lớn các tỉnh ở Nam Bộ. Tám mươi vạn
đồng bào Sài Gòn, Chợ Lớn xuống đường. Viên khâm sai của Bảo Đại vừa phái vào mấy ngày
trước đó, buộc phá từ chức. Trước sức mạnh của quần chúng, mấy vạn quân Nhật phải ngoảnh
mặt làm ngơ.
Anh Trần Huy Liệu, anh Nguyễn Lương Bâng và anh Cù Huy Cận được cử vào Huế. Ngày 30
tháng Tám, cửa Ngọ môn tại hoàng thành mở rộng đón phái đoàn của Cách mạng. Bảo Đại dọc
chiếu thoái vị, trao lại ấn, kiếm đề trở thành người công dân của một nước tự do. Hàng vạn
đồng bào hân hoan chứng kiến những giờ phút cuối cùng của triều Nguyễn.
Thế là dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương lúc bấy giờ có khoảng năm ngàn đảng
viên, Mặt trận Việt Minh được toàn dân ủng hộ, đã giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Tổng khởi
nghĩa suốt từ Bác chí Nam. Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ. Chỉ trong khoảng
mười ngày, chính quyền cách mạng đã được thành lập trên cả nước. Chế độ thực dân kéo dài
tám mươi năm cùng với chế độ phong kiến hàng ngàn năm sụp đổ tan tành. Người ta nhổ
những lá cờ quẻ ly vàng úa, một sản phẩm của thời kỳ Nhật thuộc ngắn ngủi, như bứt đi những
chiếc lá sâu. Nó chìm nhanh vào sự lãng quên không để lại một dấu vết.
- 4 -
Anh chị chủ nhà ở phố Hàng Ngang đã dành cho chúng tôi tầng gác hai. Bác được mời lên tầng
ba làm việc cho tĩnh. Nhưng Bác không thích ở một mình, cùng ở với chúng tôi. Lúc đó, theo sự
phân công của Bác, anh Tô (1) và anh Hoan còn ở lại Tân Trào ít lâu. Đối với những người giúp
việc trong gia đình và hàng xóm thì Bác và chúng tôi là “các cụ và các ông ở nhà quê ra chơi”.
Anh Ninh hồi đó có bộ râu rậm lười cạo nên cũng được coi lầm là một “ông cụ”.
Tầng gác này vốn là phòng ăn và buồng tiếp khách nên không có bàn viết, Bác ngồi viết ở cái
bàn ăn rộng thênh thang. Chiếc máy chữ của Bác được đặt trên cái bàn vuông nhỏ, mặt bọc nỉ
xanh kê ở góc buồng.
Hết giờ làm việc, mỗi người kiếm một chỗ nghỉ luôn tại đó. Người nằm ở đi-văng. Người ngủ
trên những chiếc ghế kê ghép lại. Bác nghỉ trên một chiếc ghế xếp bằng vải trước kia vẫn dựng
ở góc buồng.
Ngay từ hôm Bác mới về, những toán quân Tưởng đầu tiên đã xuất hiện ở Hà Nội. Đó là những
tên thám báo vô tiền trạm. Đứng trên bao lơn, chúng tôi nhìn thấy những toán quân Tưởng lẻ
tẻ vẫn tiếp tục kéo đến. Thật khó mà tin được đây lại là một quân đội vừa chiến thắng. Mặt mũi
chúng bủng beo, ngơ ngác. Những bộ quân phục mâu vâng nghệ rách rưới, bẩn thỉu. Chúng
gồng gánh lễ mễ. Có những toán đem theo cả đàn bả và trẻ con. Nhiều đứa kéo lê không nổi cặp
chân voi. Chúng xuất hiện như những vết nhơ trên thành phố vừa quét sạch được mùi hôi tanh
của bọn thực dân. Nhìn chúng lần này thảm hại hơn nhiều so với lần chúng tôi đã nhìn thấy
chúng năm năm trước tại Côn Minh, Quế Lâm.
Bác chủ toạ phiên họp đầu tiên của Thường vụ tại Hà Nội. Cách mạng đã thành công ở hầu
khắp các tỉnh. Nhưng chính quyền cách mạng trung ương vãn chưa thành lập. Tình hình trong,
ngoài lại rất khẩn trương. Thường vụ nhận thấy phải sớm công bố danh sách Chính phủ lâm
thời và tổ chức lễ ra mắt của Chính phủ. Những việc này cần làm ngay trước khi đại quân của
Tưởng kéo vào.
Các tỉnh ở phía trên nhận được chỉ thị nhân lúc nước lụt, lấy cớ huy động thuyền bè khó khăn,
làm chậm việc chuyển quân của Tưởng thêm ngày nào hay ngày ấy.
Một sổ chi đội Quân giải phóng đã được lệnh điều động gấp từ Thái Nguyên về Hà Nội. Nước
lụt làm hư nhiều đoạn đường nên anh em về chậm. Hà Nội giành chính quyền đã hơn một tuần
lễ. Nhưng lực lượng vũ trang cách mạng mới chỉ có những đơn vị tự vệ chiến đấu và một số lính
bảo an vừa theo cách mạng. Đó cũng là một điều phải quan tâm. Sáng ngày 26, có tin hai chi
đội Quân giải phóng đã về đến Gia Lâm. Anh Nguyễn Khang cùng anh Vương Thừa Vũ sang
đón.
Phải trải qua một cuộc dân xếp khó khăn, bọn Nhật mới đồng ý để các đơn vị Quân giải phóng
vào Hà Nội.
Đội nhạc binh cử những khúc quân hành khi đoàn quân vượt cầu Long Biên. Các chiến sĩ dàn
thành hai hàng dọc hai bên đường, súng cầm tay, đạn lên nòng, đi theo tư thế sẵn sàng chiến
dấu.
Sự có mặt ở Hà Nội của những lực lượng vũ trang cách mạng đã trải qua tôi luyện, thử thách
làm cho mọi người phấn khởi. Một cuộc duyệt binh của Quân giải phóng và tự vệ thành được
tổ chức tại quảng trường Nhà hát lớn trước niềm hân hoan, tin tưởng của đồng bào.
Ngày 28, danh sách Chính phủ lâm thời được công bó trên các báo chí tại Hà Nội. Thành phần
của Chính phủ nói lên chủ trương đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân của Mặt trận Việt
Minh trong công cuộc xây dựng đất nước.
Hôm trước đó, Bác đã gặp các vị Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời tại Bắc Bộ phủ. Ông
Nguyễn Văn Tố, Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, nhìn thấy ở phòng khách một cụ già, mặc chiếc
quần “soóc” nhuộm nâu, đội cái mũ bọc vải vàng đã móp, đứng chống cây gậy, tươi cười gật
đầu chào mình. Lát sau, ông mới biết đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thường vụ đã quyết định ngày ra mắt của Chính phủ lâm thời cũng là ngày nước Việt Nam
chính thức công bố giành quyền độc lập và thiết lập chính thề dân chủ cộng hoà. Ngoài đường
lối, chính sách của Chính phủ, phải chuẩn bị cả những lời thề để đưa ra trước nhân dân. Bác và
Thường vụ trao đổi về một việc hệ trọng cần bắt tay vào làm ngay: Thảo bản Tuyên ngôn Độc
lập.
Trong căn buồng nhỏ thiếu ánh sáng của ngôi nhà sâu thâm, nằm giữa một trong ba mươi sáu
phố phường cổ kính của Hả Nội, Bác ngồi làm việc, khi thì viết, khi thì đánh máy.
Những người giúp việc trong gia đình không biết ông cụ có cặp mắt sáng, chiếc áo nâu bạc
thường đề hở khuy ngực, hay hút thuốc lá, ngồi cặm cụi đó làm gì. Mỗi lần họ tới hỏi cụ có cẩn
gì, cụ quay lại mỉm cười, chuyện trò đôi câu. Lần nào cụ cũng nói không có gì cần phải giúp dỡ.
Họ không biết là mình đang chứng kiến những giờ phút lịch sử.
Một buổi sáng, Bác và anh Nhân gọi anh em chúng tôi tới.
Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thảo xong, Bác mang đọc để thông qua tập thể. Như lời Bác nói lại
sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người.
Hai mươi sáu năm trước, Bác đã tới Hội nghị hoà bình Véc-xây, nêu lên những yêu cầu cấp
thiết về dân sinh, dân chủ cho những người dân thuộc địa. Cả những yêu cầu tối thiểu đó cũng
không được bọn đế quốc mảy may chấp nhận. Người đã thấy rõ một sự thật là không thể trông
chờ ở lòng bác ái của các nhà tư bản. Người biết chỉ còn trông cậy vào cuộc đấu tranh, vào lực
lượng của bản thân dân tộc mình.
Giờ phút này, Người đang thay mặt cho cả dân tộc hái quả của tám mươi năm đấu tranh.
Bữa đó, chúng tôi đã nhìn thấy rõ niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng của Người.
--(1) Đồng chí Phạm Văn Đồng
- 5 -
Mồng 2 tháng Chín năm 1945.
Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát ngát cờ đèn và hoa. Cờ bay đỏ những mái nhà, đỏ
những rặng cây, đỏ những mặt hồ.
Biểu ngữ bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh, Hoa. Nga chăng khắp các đường phố: “Nước Việt
Nam của người Việt Nam”, “Đả đảo chủ nghĩa thực dân Pháp”, “Độc lập hay là chết”, “Ủng hộ
Chính phủ lâm thời”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”, “Hoan nghênh phái bộ Đồng minh”.
Các nhà máy, các cửa hiệu buôn to, nhỏ đều nghỉ việc. Chợ búa không họp. Mọi hoạt động buôn
bán, sản xuất của thành phố tạm ngừng. Đồng bào thủ đô già, trẻ, gái, trai đều xuống đường.
Mọi người đều thấy mình cần phải có mặt trong ngày hội lớn đầu tiên của đất nước.
Những dòng người đủ mọi màu sắc, từ khắp các ngả tuôn về vườn hoa Ba Đình.
Đội ngũ của những người thợ quần xanh, áo trắng, tràn đầy sức mạnh và niềm tin. Người lao
động bình thường hôm nay đến ngày hội với tư thế đường hoàng của những người làm chủ đất
nước, làm chủ tương lai.
Hàng chục vạn nông dân từ ngoại thành kéo vào. Những chiến sĩ dân quân mang theo côn,
kiếm, mã tấu. Có những người vác theo cả những quả chuỳ đồng, những thanh long đao rút ra
từ những giá vũ khí bày để trang trí trong các điện thờ. Trong hàng ngũ của các chị em phụ nữ
nông thôn với những bộ quần áo ngày hội, có những người vấn khăn vàng, mặc áo tứ thân, thắt
lưng hoa lý. Cũng chưa bao giờ người nông dân ở những làng xóm nghèo quanh Hà Nội đi vào
thành phố với một niềm tự hào như ngày hôm ấy.
Những cụ già vẻ mặt nghiêm trang. Những cô gái thủ đô hớn hở, áo màu rực rỡ.
Rộn ràng là các em thiếu nhi. Dù sự giầu nghèo của mỗi gia đình chưa đổi khác, nhưng từ ngày
hôm nay, tất cả các em đều trở thành những người chủ nhỏ của đất nước độc lập. Theo nhịp còi
của các anh, các chị phụ trách, các em khua rền trống ếch, giậm chân bước đều, hát vang những
bài ca cách mạng.
Những nhà sư, những ông cố đạo cũng rời nơi tu hành, xuống đường, xếp thành đội ngũ đến dự
ngày hội lớn của dân tộc.
Nắng mùa thu rất đẹp trên quảng trường Ba Đình từ giờ phút này đã đi vào lịch sứ. Đội danh
dự đứng nghiêm trang chung quanh lễ đài mới dựng. Các chiến sĩ Quân giải phóng bữa trước
theo Quân lệnh số 1 của Uỷ ban khởi nghĩa, từ Tân Trào tiến về phía Nam “đánh vào các đô thị
và trọng trấn của quân địch”. Hôm nay, họ đã đứng sát cánh cùng các đội tự vệ của công nhân,
thanh niên và lao động thủ đô bảo vệ Chính phủ lâm thời.
Sau bao năm bôn ba khắp thế giới. mang án tử hình của đế quốc Pháp, qua mấy chục nhà tù và
những ngày dài gối đất nằm sương, Bác đã trở về ra mắt trước một triệu đồng bào. Sự kiện lịch
sử này mới hôm nao còn ở trong ước mơ.
Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà
người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn
còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó
không nhiều.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Chủ tịch của Chính phủ. lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đã
ra mắt đồng bào như một lãnh tụ lần đầu xuất hiện trước đông đảo quần chúng.
Đó là một cụ già gầy gò, trán cao, mắt sáng, râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo ka-ki cao
cổ, đi dép cao-su trắng.
Mấy ngày hôm trước, một vấn đề được đặt ra là phải có một bộ quăn áo đề Bác mặc khi Chính
phủ ra mắt đồng bào. Cuối cùng, Bác đã chọn bộ quần áo này. Hai mươi bốn năm làm Chủ tịch
nước, trong những ngày lễ lớn của dân tộc, trong những cuộc đi thăm nước ngoài, Hồ Chủ tịch
bao giờ cũng xuất hiện với một hình ảnh giản dị, không thay đồi. Vẫn bộ quần áo vải, trên ngực
không một tấm huân chương, y như lần đầu Bác đã ra mắt đồng bào.
Ông cụ có dáng đi nhanh nhẹn. Dáng đi này cũng làm cho đôi người lúc đó hơi ngạc nhiên. Họ
đã không nhìn thấy ở vị Chủ tịch dáng đi trang trọng của những người sang. Giọng nói của ông
cụ phảng phất giọng nói của một miền quê đất Nghệ An.
Bác đã xuất hiện trước một triệu đồng bào ngày hôm đó như vậy.
Lời nói của Bác điềm đạm, đầm ấm, khúc chiết, rõ mâng. Không phải là cái giọng hùng hồn
người ta thường được nghe trong những ngày lễ long trọng. Nhưng người ta tìm thấy ngay ở
đó những tình cảm sâu sắc ý chí kiên quyết; tất cả đều tràn đày sức sống; từng câu, từng tiếng
đi vào lòng người.
Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng, Bác dừng lại và bỗng dưng hỏi:
- Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?
Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm:
- Co.. o... ó!
Từ giây phút đó, Bác củng với cả biển người đã hoà làm một.
Đây là bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa giành được độc lập bằng cuộc
chiến đấu suốt tám mươi năm của dân tộc. Đây còn là những lời lẽ tâm huyết, đầy cảm kích của
đội tiên phong giác ngộ nhất của giai cấp cách mạng nhất, có những người con tuyệt đối trung
thành với lợi ích của giai cấp và của dân tộc, trước máy chém, trước miệng súng của quân thù,
đã từng giật tấm băng đen bịt mắt, hô lớn: “Việt Nam độc lập muôn năm!”
Buổi lễ kết thúc bằng những lời thề Độc lập:
- Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời
Việt Nam dân chủ cộng hoà, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Chúng tôi xin thề: Cùng Chính phủ giữ nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu
mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng
- Nếu Pháp đến xâm lược lần nữa thì chúng tôi xin thề:
“Không đi lính cho Pháp,
Không làm việc cho Pháp,
Không bán lương thực cho Pháp,
Không đưa đường cho Pháp!”
Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng hoà làm một. Đó là lời thề của toàn dân kiên
quyết thực hiện lời Hồ Chủ tịch vừa đọc để kết thúc bản Tuyên ngôn:
“Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập vô sự thật đã thành một nước tự do,
độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của
cải đề giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
“Bản án chế độ thực dân Pháp” đã có từ ba mươi năm trước dây. Nhưng hôm nay mới chính là
ngày chế dộ thực dân Pháp bị đưa ra cho toàn dân Việt Nam công khai xét xử.
Lịch sử đã sang trang. Một kỷ nguyên mới bắt đầu: Kỷ nguyên của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.
Bản đồ thế giới phải sửa đổi lại vì sự ra đời của một Nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà.
Cùng với cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra trong suốt hạ tuần tháng Tám, Ngày Độc lập mồng 2
tháng Chín đã có một ý nghĩa cực kỳ trọng đại trong đời sống chính trị, tinh thần của dân tộc.
Điều lo lắng của Bác trước đây ba mươi năm: “Đông Dương dáng thương hại! Ngươi sẽ nguy
mất nếu đám thanh niên già cõi của ngươi không sớm hồi sinh”, hôm nay, không còn là điều
khiến cho Người phải băn khoăn. Cả dân tộc đã hồi sinh.
Độc lập tự do đã đến với mỗi người dân. Mõi người đã thấy được giá trị thiêng liêng của nó,
thấy trách nhiệm phải bảo vệ. Vô vàn khó khăn còn ở trước mất. Nhưng đối với bọn đế quốc,
muốn phục hồi lại thiên đàng đã mất, mọi việc cũng không còn dễ dàng như xưa.
- 6 -
Đối phó với các quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật là một khó khăn lớn lúc này mà
Đảng ta phải đương đầu. Ở miền Bắc, có tin Tưởng Giới Thạch sẽ đưa vào một số quân rất
đông. Căn cứ vào nghị quyết của Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, Thường vụ đã
bàn sách lược đối với bọn Tưởng.
Dã tâm của bọn Quốc dân đảng Trung Hoa, chúng ta đã rõ. Chúng là kẻ thù không đội trời
chung của cách mạng. Ta phải cảnh giác đề phòng chúng lật ta để thay thế băng bọn tay sai.
Tuy nhiên, lúc này cần phải hoà hoãn với chúng, phải khôn khéo, tìm mọi cách tránh xung đột.
Chính quyền cách mạng vừa thành lập đang cần có thời gian để củng cố và xây dựng lực lượng.
Khẩu hiệu để ra là “Hoa Việt thân thiện”
Thực hiện đối sách này với bọn Tưởng thật không dễ dàng. Đồng bào ta được sự giáo dục của
Đảng từ lâu, đã biết Hồng quân Trung Hoa mới là bạn của ta. Quan đội Quốc dân đảng của
Tưởng Giới Thạch chính là kẻ thù của nhân dân và cách mạng Trung Quốc; chúng cũng là kẻ
thù của nhân dân và cách mạng Việt Nam. Đồng bào ta vốn rất căm ghét chúng.
Quân Tưởng lại là một đội quân mang nhiều tính chất thổ phỉ. Chắc chắn, khi tràn vào ta, chúng
sẽ có nhiều hành động khiến cho đồng bào phẫn nộ, dễ xảy ra xung đột. Thường vụ đã phải cử
người lên các tỉnh phía trên, phổ biến chủ trương, cùng các đồng chí lãnh đạo ở địa phương
chuẩn bị tư tưởng cho cán bộ và nhân dân trước khi quân Tưởng kéo vào.
Sau khi Nhật đău hàng, Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng quân đội Quốc dân đảng Trung
Hoa, một tên chống cộng khét tiếng, đã thúc Lư Hán điều quân vào miền Bắc Việt Nam cho thật
nhanh. Kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” đã được chuẩn bị từ lâu. Bọn quân phiệt Quốc dân đảng
tin rằng đây là một thời cơ rất thuận lợi đề thôn tính miền Bắc Việt Nam. Chúng tính ít nhất
cũng đặt được từ vĩ tuyến 16 trở ra, một chính quyền tay sai ngoan ngoãn thực hiện mọi chỉ thị
của chúng.
Bọn quân phiệt Quốc dân đảng sắp sẵn những con bài, gồm những tên tay sai người Việt ở
Trung hoa như: Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam... Chúng thuộc hai tổ
chức: Việt Nam cách mạng đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng sống từ lâu ở nước
ngoài, không có liên hệ gì với phong trào trong nước. Chúng tự nhận là những người Việt Nam
yêu nước theo chủ nghĩa quốc gia, nhưng thực ra là một bọn phản động mưu toan dựa vào
Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch và mũi súng quân Tưởng để kiếm sống. Quân Tưởng đi vào
Việt Nam bằng hai đường, nên bọn này cũng chia làm hai bộ phận đi theo chúng.
Vì tổ chức luộm thuộm, thiếu phương tiện vận chuyển phải đi bộ, không có hậu cần đi cùng,
đến đâu cũng phải xoay ăn, lại thiếu cả quân số, vừa đi vừa vét quân lính dọc đường, nên chúng
đi khá chậm.
Phía Vân Nam, quân đoàn 93 thuộc đệ nhất phương diện quân của Lư Hán, theo kế hoạch sẽ đi
dọc sông Hồng đến Hà Nội. Cuối tháng Tám mới tới Lào Cai. Phía Quảng Tây, quân đoàn 62, lực
lượng của quân đội Quốc dân đảng trung ương. có tướng Tiêu Văn đi cùng, sẽ đi đường Lạng
Sơn, Cao Bằng xuống Hà Nội, mãi đầu tháng chín...
Những năm tháng không thể nào quên
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Mục Lục
Thông tin ebook
- 1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 -
- 1 -
Về Hà Nội, chúng tôi ở phố Hàng Ngang. Thành uỷ đã bố trí cho chúng tôi ở tại một gia đình cơ
sở. Ít hôm sau, có tin Bác đã về. Mấy ngày trước đó, một trung đội Quân giải phóng thuộc chi
đội Quang Trung chiến đấu tại Thái Nguyên, đã được lệnh quay gấp lại Tân Trào để đi bảo vệ
Bác. Đồng chí đến báo tin nói dọc đường có những lúc Bác phải dùng cáng. Như vậy, chắc Bác
còn yếu lắm. Bác vốn không bao giờ muốn làm bận đến người khác ngay cả những khi yếu mệt.
Tình hình đang khẩn trương. Các anh rất mừng.
Anh Thọ được cử lên chiến khu đón Bác thì Bắc đã về. Anh Ninh và tôi cùng đi lên Phú Gia gặp
Bác.
Xe nhanh chóng ra khỏi thành phố. Rặng ồi ven đê quen thuộc. Những làng quanh Hồ Tây phấp
phới cờ đỏ. Nhớ lại ngày đi đón Bác ở Đèo Gie. Khi đó, Bác ở Cao Bằng về Tân Trào. Ít ngày sau,
Tân Trào dã trở thành thủ đô của cách mạng.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, lênh dênh góc bể chân trời, đã có những ngày
vui lớn. Đó là ngày Bác tìm thấy con đường giải phóng dân tộc khi đọc Luận cương của Lenin
về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đó là ngày thành lập Đảng cộng sản Pháp năm 1920 mà Bác
là một thành viên. Và ngày lịch sử mồng 3 tháng Hai năm 1930, ngày thành lập Đảng cộng sản
Đông Dương...
Đây lại là một ngày vui lớn nữa đang đến với Bác, đang đến với cách mạng Việt Nam. Mới đêm
nào còn ngồi bên chiếc giường tre, trong căn lán nhỏ, những ngày Bác mệt nặng tại Tân Trào.
Vào những giây phút đó mới thấy hết được tấm lòng khát khao cháy bỏng của Bác đối với nền
độc lập, tự do của dân tộc. Không phải chỉ ở những lời Bác dặn dò về công tác cán bộ, cách giữ
vững phong trào, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập tự
do”. Tấm lòng của Bác còn hiện lên rất rõ qua mỗi cử chỉ nhỏ, qua cái nhìn khi Bác chợt tỉnh
giữa những cơn sốt, qua sự đấu tranh với bệnh tật hiểm nghèo để giành từng phút, từng giây
cho cách mạng.
Theo lời hiệu triệu của Đảng, của Bác, suốt mấy ngày nay, cả dân tộc ta từ Bắc chí Nam đã vùng
dậy với một sức mạnh như triều dâng, thác đổ. Tại Hà Nội, quần chúng cách mạng đã vượt qua
hàng rào sắt, xông vào chiếm Bắc Bộ phủ. Đồng bào già, trẻ, gái, trai, lớn, bé dã siết thành dội
ngũ, giương cờ Việt Minh, tiến vào trước họng đại bác xe tăng Nhật ở trại Nhật trại bảo an
binh. Xe tăng, súng máy và lưỡi lê của quân Nhật phải lùi. Bọn Nhật đành phải trao cho cách
mạng toàn bộ kho vĩu khí của bảo an binh đóng tại đây. Tin khởi nghĩa thắng lợi ở khắp các địa
phương đang dồn dập bay về...
Chúng tôi vào làng Gạ.
Bác ở một ngôi nhà gạch nhỏ nhưng sạch sẽ. Chúng tôi bước vào, nhìn thấy ngay Bác đang ngồi
nói chuyện với cụ chủ nhà.
Ngày nào ở Việt Bắc, Bác còn là một ông ké Nùng. Bữa nay, Bác đã trở thành một cụ nông dân
miền xuôi rất thoải mái, tự nhiên trong bộ áo quần nâu. Bác vẫn gầy nên đôi gò má cao. Những
đường gân hiện rõ trên trán và hai thái dương. Nnhưng với vầng luôn luôn ngời sáng, một sức
mạnh tinh thần kỳ lạ toát ra từ hình dáng mảnh dẻ của Bác. Dù sao so với những ngày dự hội
nghị ở Tân Trào, Bác đã khá hơn nhiều.
Cụ chủ nhà thấy chúng tôi tới, giữ ý, mời thế nào cũng không ngồi lại, nói vài câu chào hỏi rồi
lánh đi chỗ khác.
Bác tươi cười nhìn chúng tôi, nói:
- Trông các chú bữa nay ra dáng người tỉnh thành rồi.
Chúng tôi sôi nổi báo cáo với Bác tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội và các tỉnh. Bác ngồi lắng nghe,
vẻ mặt điểm đạm. Tính Bác như vậy, khi vui khi buồn đều vẫn bình thản.
Chúng tôi nói với Bác ý Thường vụ muốn tồ chức sớm lễ ra mắt của Chính phủ. Theo quyết
định của Hội nghị toàn quốc họp lại Tân Trào, Uỷ ban dân tộc giải phóng do Bác làm Chủ tịch
sẽ trở thành Chính phủ lâm thời.
Với một vẻ vui vui, Bác nói như hỏi lại chúng tôi:
- Mình làm Chủ tịch à?
Thực ra, một thời kỳ rất vẻ vang nhưng cũng cực kỳ hiểm nghèo của dân tộc đã bắt dầu. Bác đã
nhận sứ mệnh lhó khăn: Lái con thuyền quốc gia Việt Nam vừa mới hình thành, vượt qua
những thác ghềnh nguy hiểm. Bác đã đón nhận nhiệm vụ đó trước lịch sử, trước nhân dân đúng
như Bác đã trả lởi các nhà báo nước ngoài ba tháng sau đó: “Tôi tuyệt đối không ham muốn
công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi
gắng phải làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận”.
- 2 -
Chúng tôi trở về Hàng Ngang trước đề chuẩn bị.
Anh Nhân(1) lên sau, ở lại đến chiều cùng về với Bác. Đây là lần đầu tiên Bác đến Hà Nội. Chặng
đường ba trăm ki-lô-mét từ ngôi nhà tranh nhỏ hẹp tại làng Kim Liên tới đây, Bác đã đi mất
ngoài ba mươi lăm năm.
Con đường Bác đã đi không giống bất cứ con đường của một người Việt Nam yêu nước nào đã
đi trước Bác. Bác đã một mình lặn lội, xông pha trên những nẻo đường của hầu khắp các miền
khác nhau trên trái đất. Chủ nghĩa tư bản đã bước vào giai đoạn phát triền tột cùng của nó, trở
nên vô cùng xấu xa. Nó tìm mọi cách xoá nhoà ranh giới giữa trắng, đen, giữa thiện, ác. Nó
xuyên tạc mọi giá trị tinh thần chân chính mà loài người đến đó đã thành đạt được. Nó đang
bưng bít mọi ánh sáng của công lý, tự do.
Bác đã đi giữa những ngày đông ảm đạm, vòm trời châu Âu, châu Á bị những đám mây đen
chiến tranh cửa chủ nghĩa đế quốc che phủ.
Thế gian hỗn loạn, đau thương; tội ác của chủ nghĩa đế quốc chồng chất. Giữa lúc vàng thau lẫn
lộn, giả thật khó phân, Bác đã nhanh chóng nhìn thấy ánh sáng của chân lý. Bác đã đến với chủ
nghĩa Lenin. Bác đã thấy học thuyết Lenin chính là mặt trời đưa lại nguồn sổng tươi vui Bác đã
thấy ngọn cờ Lenin là tượng trưng cho lòng tin và đuốc sáng của hy vọng. Từ năm mươi năm
trước dây, người yêu nước Việt Nam vĩ đại đã tìm được ở chủ nghĩa Mác- Lê nin cho đồng bào
ta và những người cùng hội cùng thuyền - những dân tọc bị đoạ đày vì chủ nghĩa đế quốc một
con đường giải phóng duy nhất: “Đường cách mệnh”.
Một sự đổi thay lớn lao đã đến trong đời sống của dân tộc.
Mấy ngày trước đây, Hà Nội còn giữ nguyên vẹn bộ mặt một sản phầm của chế độ thực dân
thối nát thời chiến. Cả thành phố chìm đắm trong những hoạt động chợ đen. Cuộc sống tính
từng ngày. Những chiếc xe chở rác không đủ để đưa xác những người chết đói ra vùng ngoại ô,
đổ xuồng những hố chung. Trong khi đó, ở các cửa ô, người đói khắp làng quê vẫn ùn ùn kéo
vào. Họ đi vật vờ như những chiếc lá khô buổi chiều đông. Nhiều khi chỉ một cái gạt tay của
viên cảnh sát, cũng đủ làm họ ngã xuồng không bao giờ trở dậy.
Lại thêm tháng Tám năm nay, nước các triền sông đều lên to. Cơn “hồng thuỷ” đã phá vỡ
những đê diều từ lâu không được bọn thống trị nhòm ngó tới. Sáu tỉnh đồng bằng, vựa thóc của
cả miền Bác, bị chìm dưới làn nước trắng. Dịch tả hoành hành. Bao nhiêu tai hoạ của chế độ
thực dân cùng một lúc dồn đến.
Cùng với bọn đầu cơ kinh tế, bọn đầu cơ chính trị cũng dua nhau nổi lên. Chúng vừa hô Việt
Nam độc lập, vừa hô “Đại Nhật Bản vạn tuế”. Thay vào những tên đội xếp Pháp mang dùi cui là
những hiến binh Nhật đeo kiếm dài, lệt xệt đôi ủng đi trên các hè phố.
Không phải chỉ riêng Hà Nội mà cả dân tộc ta đang sống những giờ phút đau thương.
Thắng lợi vĩ đại của Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật vào giữa tháng
Tám, đã đưa lại cho dân tộc ta một thời cơ lớn. Cách mạng nổi lên như một cơn lốc. Chỉ trong
vài ngày, những vết nhơ, những nỗi nhục, những khổ đau của chê độ nô lệ đã được quét đi khá
nhiều.
Sức hồi sinh của cách mạng thật lạ thường. Hôm trước cả thành phố còn tê liệt vì nạn đói, vì
bệnh dịch, vì sự khủng bố. Hôm sau, tất cả những đường to ngõ hẻm đã sôi lên. Hàng vạn, hàng
vạn con người ầm ầm kéo đi với sức mạnh như những dòng thác. Chính quyền nhân dân cách
mạng vừa mới thành lập. Phần lớn đông bào còn chưa biết những ai là người thay mặt cho
chính quyền mới. Nhưng mọi người đã tự động tạo nên một trật tự mới, trật tự của cách mạng.
Nạn cướp giật mất hân. Trộm, cắp hầu như không xảy ra. Những người ăn xin cũng không còn.
Hoạt động buôn bán, hoạt động chủ yếu của thành phố, đã nhường chỗ cho một hoạt động
mới: hoạt động cách mạng.
Một người đi xe đạp đến đầu phố cầm loa hô lớn: “Mời đồng bào đến tập trung ở địa điểm X.
tham gia biểu tình”. Không biết người đó là ai, nhưng lời hô hào lập tức được truyền đi. Nhiều
người dân tự động vác loa ra đứng giữa đường, làm công tác thông tin. Ai đang làm dở việc gì
cũng dề lại đấy. Tất cả ào ào kéo đi. Chỉ chốc lát, hàng vạn người đã có mặt ở địa điểm biểu
tình. Họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà cách mạng cần đến. Không khí Hà Nội trở nên trong
lành, náo nức.
“Đoàn quân Việt Minh đi, chung lòng cứu quốc...” những bài ca cách mạng vang lên rộn ràng từ
sớm tới khuya. Cờ sao mỗi lúc một nhiều hơn, đẹp hơn. Cờ bay đỏ nhà, đỏ phố. Cách mạng
đúng là ngày hội của những người bị áp bức.
Chập tối, Bác đến nhà. Chúng tôi ra đón, nhận thấy trên nét mặt của Bác những dấu hiệu xúc
động.
Bác đã về đến Hà Nội. Ít ngày nữa, Hà Nội sẽ trở thành Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên tại Đông Nam châu Á. Hà Nội chưa được cùng san sẻ
với chúng tôi hôm nay niềm vui đón Bác trở về. Ngay cả đồng chí lái xe bữa ấy cũng vậy. Mấy
ngày sau, anh xin phép nghỉ, lên Thái Nguyên dẫn bố về dự Tết Độc lập để xem mặt cụ Chủ tịch
nước. Đến quảng trường Ba Đình, anh mới biết Hồ Chủ tịch chính là cụ già bữa trước mình đã
đánh xe đi đón ở làng Gạ.
---
(1) Đồng chí Trường Chinh
- 3 -
Tại hội nghị Pốt-đam cuối tháng Bảy năm ấy. Đồng minh đã quyết định chia Đông Dương
thành hai khu vực để tiến vào tước vũ khí quân đội Nhật Bản khi Nhật đầu hàng. Việc giải giáp
quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào, do quân Anh phụ trách. Từ vĩ tuyến 16 trở ra, sẽ do quân
đội Tưởng Giới Thạch chịu trách nhiệm. Đương nhiên, trong việc hệ trọng đó dân ta không
được hỏi ý kiến. Do áp lực của Mỹ, Pháp đã bị gạt ra ngoài.
Bọn Tưởng chưa tới thì chiều ngày 22 tháng Tám, đã thấy xuất hiện một số võ quan Pháp bên
cạnh phái bộ Mỹ vừa đáp máy bay xuống Hà Nội.
Các viên võ quan Pháp được bọn Nhật đưa tới khách sạn Mê-tơ-rô-pôn. Nhiều kiều dân Pháp
còn trú ngụ tại đây. Đồng bào ta nhận ra chúng qua bộ quần áo nhà binh Pháp, lập tức ùa tới
phản đối.
Người kéo đến mỗi lúc một đông. Bất chấp lưỡi lê của bọn lính Nhật đứng gác, những dây chắn
trước khách sạn bị phá đứt tung. Trước sự phẫn nộ của quần chúng, những tên hiến binh Nhật
vội vã hộ tống bọn võ quan Pháp trở về phủ toàn quyền cũ, lúc dó còn là tổng hành dinh của
quân đội Nhật.
Từ mấy tháng trước, khi còn ở chiến khu, chúng tôi đã nghe tin Đờ Gôn đưa ra một bản tuyên
bố về quy chế mới cho chế độ chính trị của Pháp tại Đông Dương. Theo bản tuyên bố này, Đông
Dương sẽ trở thành một liên bang gồm năm “nước” khác nhau (ngoài Lào, Cam-pu-chia, chúng
chia Việt Nam ra làm ba “nước”: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ). Các nước này sẽ được hưởng
một chế độ gọi là “chế độ tự trị ở bên trong”. Liên bang này sẽ có một Chính phủ liên bang
đứng dầu là một “quan toàn quyền” đại diện cho nước Pháp, có cả quyền hành pháp lẫn quyền
lập pháp. Qua bản tuyên bổ này, chính sách thực dân của đế quốc Pháp đối với ta vẫn không
thay đổi.
Nghe tin Nhật hoàng sắp đầu hàng, Chính phủ Pháp đã lập tức có những hoạt động. Nhiều toán
gồm những võ quan, những quan cai trị, những tên tình báo ở Trung Hoa, ở Xây-lan, ở Ma-đagát-ca được lệnh tìm mọi cách đột nhập Đông Dương. Chúng nhây dù xuống nhiều địa điểm ở
khắp Trung, Nam, Bắc. Có bọn vào ta bằng đường biển. Chúng chưa biết những đổi thay sâu sắc
đã diễn ra ở đây trong thời gian qua. Nhiều tên còn đi tìm các quan lại, hương lý cũ để cho xem
giấy tờ. Hầu hết bọn chúng đã rơi vào tay ta, một số vào tay Nhật.
Về Hà Nội ít ngày, chúng tôi được tin: ngay khi Nhật đầu hàng, Chính phủ Pháp đã ra lệnh cho
đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, được tổ chức từ khá lâu trước đó, lên đường gấp sang
Đông Dương. Lơ-cơ-léc, một viên tướng có tên tuổi trong cuộc chiến đấu giải phóng nước
Pháp, được chỉ định làm tổng chỉ huy, Đác-giăng-li-ơ, thuỷ sư đô đốc, một thầy tu phá giới,
người thân cận của Đờ Gôn, được bổ nhiệm chức cao uỷ. Những chiếc tàu chiến của Pháp còn
lại sau cuộc đại chiến lần thứ hai, hướng mũi về Đông Dương. Từ đầu bên kia trái đất, những
nòng súng đã chĩa về phía cách mạng.
Sự xuất hiện của một phái đoàn gồm trên một chục võ quan người Pháp ở Hà Nội, là một điều
làm cho Bác và các anh rất quan tâm. Tại sao bọn Pháp tới được đây trước cả khi quân Tưởng
vào. Thái độ của Đồng minh, đặc biệt là của Mỹ và Tưởng đối với Pháp trong vấn đề Đông
Dương ra sao. Đó là điều chúng ta đang cần biết.
Chúng tôi nhân danh một phái đoàn của chính quyền nhân dân gặp phái bộ Mỹ. Qua cuộc gặp
này, chúng ta biết dứt khoát việc giải giáp quân đội Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16 vẫn do quân
Tưởng đảm nhiệm. Chúng ta lại nhận thấy nhóm người Mỹ và nhóm người Pháp ở Hà Nội
đường như không ưa nhau. Trong khi Pháp đang ráo riết tìm cách quay lại Đông Dương thì
viên sĩ quan người Mỹ Pát-ti, với một động cơ nào đó còn chưa hiểu được, lại bày tỏ cảm tình
với cuộc chiến đấu chống Nhật của Việt Minh.
Trước cao trào khởi nghĩa của toàn dân từ Bắc chí Nam, bọn Nhật thua trận hoang mang.
Những trận đánh của ta ở Việt Bắc, ở các nơi làm cho chúng phải suy nghĩ. Nếu chống lại cách
mạng, số phận chúng sẽ ra sao sau khi chúng đã bị quân Đồng minh tước khí giới? Bọn Nhật đã
thấy chằng có lợi gì cho chúng, nếu chúng cản trở cách mạng.
Tại Huế, ngày 23 tháng Tám, mười lăm vạn đồng bào nội, ngoại thành tuần hành thị uy trên
các đường phố. Uỷ ban khởi nghĩa đưa thư đòi Bảo Đại thoái vị. Các lực lượng vũ trang khởi
nghĩa chiếm các công sở và lùng bắt bọn Việt gian. Trước áp lực to lớn của cách mạng, Bảo Đại
tuyên bố săn sàng từ giã ngôi vua.
Ngày 25 tháng Tám, cuộc khởi nghĩa bùng ra trên phần lớn các tỉnh ở Nam Bộ. Tám mươi vạn
đồng bào Sài Gòn, Chợ Lớn xuống đường. Viên khâm sai của Bảo Đại vừa phái vào mấy ngày
trước đó, buộc phá từ chức. Trước sức mạnh của quần chúng, mấy vạn quân Nhật phải ngoảnh
mặt làm ngơ.
Anh Trần Huy Liệu, anh Nguyễn Lương Bâng và anh Cù Huy Cận được cử vào Huế. Ngày 30
tháng Tám, cửa Ngọ môn tại hoàng thành mở rộng đón phái đoàn của Cách mạng. Bảo Đại dọc
chiếu thoái vị, trao lại ấn, kiếm đề trở thành người công dân của một nước tự do. Hàng vạn
đồng bào hân hoan chứng kiến những giờ phút cuối cùng của triều Nguyễn.
Thế là dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương lúc bấy giờ có khoảng năm ngàn đảng
viên, Mặt trận Việt Minh được toàn dân ủng hộ, đã giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Tổng khởi
nghĩa suốt từ Bác chí Nam. Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ. Chỉ trong khoảng
mười ngày, chính quyền cách mạng đã được thành lập trên cả nước. Chế độ thực dân kéo dài
tám mươi năm cùng với chế độ phong kiến hàng ngàn năm sụp đổ tan tành. Người ta nhổ
những lá cờ quẻ ly vàng úa, một sản phẩm của thời kỳ Nhật thuộc ngắn ngủi, như bứt đi những
chiếc lá sâu. Nó chìm nhanh vào sự lãng quên không để lại một dấu vết.
- 4 -
Anh chị chủ nhà ở phố Hàng Ngang đã dành cho chúng tôi tầng gác hai. Bác được mời lên tầng
ba làm việc cho tĩnh. Nhưng Bác không thích ở một mình, cùng ở với chúng tôi. Lúc đó, theo sự
phân công của Bác, anh Tô (1) và anh Hoan còn ở lại Tân Trào ít lâu. Đối với những người giúp
việc trong gia đình và hàng xóm thì Bác và chúng tôi là “các cụ và các ông ở nhà quê ra chơi”.
Anh Ninh hồi đó có bộ râu rậm lười cạo nên cũng được coi lầm là một “ông cụ”.
Tầng gác này vốn là phòng ăn và buồng tiếp khách nên không có bàn viết, Bác ngồi viết ở cái
bàn ăn rộng thênh thang. Chiếc máy chữ của Bác được đặt trên cái bàn vuông nhỏ, mặt bọc nỉ
xanh kê ở góc buồng.
Hết giờ làm việc, mỗi người kiếm một chỗ nghỉ luôn tại đó. Người nằm ở đi-văng. Người ngủ
trên những chiếc ghế kê ghép lại. Bác nghỉ trên một chiếc ghế xếp bằng vải trước kia vẫn dựng
ở góc buồng.
Ngay từ hôm Bác mới về, những toán quân Tưởng đầu tiên đã xuất hiện ở Hà Nội. Đó là những
tên thám báo vô tiền trạm. Đứng trên bao lơn, chúng tôi nhìn thấy những toán quân Tưởng lẻ
tẻ vẫn tiếp tục kéo đến. Thật khó mà tin được đây lại là một quân đội vừa chiến thắng. Mặt mũi
chúng bủng beo, ngơ ngác. Những bộ quân phục mâu vâng nghệ rách rưới, bẩn thỉu. Chúng
gồng gánh lễ mễ. Có những toán đem theo cả đàn bả và trẻ con. Nhiều đứa kéo lê không nổi cặp
chân voi. Chúng xuất hiện như những vết nhơ trên thành phố vừa quét sạch được mùi hôi tanh
của bọn thực dân. Nhìn chúng lần này thảm hại hơn nhiều so với lần chúng tôi đã nhìn thấy
chúng năm năm trước tại Côn Minh, Quế Lâm.
Bác chủ toạ phiên họp đầu tiên của Thường vụ tại Hà Nội. Cách mạng đã thành công ở hầu
khắp các tỉnh. Nhưng chính quyền cách mạng trung ương vãn chưa thành lập. Tình hình trong,
ngoài lại rất khẩn trương. Thường vụ nhận thấy phải sớm công bố danh sách Chính phủ lâm
thời và tổ chức lễ ra mắt của Chính phủ. Những việc này cần làm ngay trước khi đại quân của
Tưởng kéo vào.
Các tỉnh ở phía trên nhận được chỉ thị nhân lúc nước lụt, lấy cớ huy động thuyền bè khó khăn,
làm chậm việc chuyển quân của Tưởng thêm ngày nào hay ngày ấy.
Một sổ chi đội Quân giải phóng đã được lệnh điều động gấp từ Thái Nguyên về Hà Nội. Nước
lụt làm hư nhiều đoạn đường nên anh em về chậm. Hà Nội giành chính quyền đã hơn một tuần
lễ. Nhưng lực lượng vũ trang cách mạng mới chỉ có những đơn vị tự vệ chiến đấu và một số lính
bảo an vừa theo cách mạng. Đó cũng là một điều phải quan tâm. Sáng ngày 26, có tin hai chi
đội Quân giải phóng đã về đến Gia Lâm. Anh Nguyễn Khang cùng anh Vương Thừa Vũ sang
đón.
Phải trải qua một cuộc dân xếp khó khăn, bọn Nhật mới đồng ý để các đơn vị Quân giải phóng
vào Hà Nội.
Đội nhạc binh cử những khúc quân hành khi đoàn quân vượt cầu Long Biên. Các chiến sĩ dàn
thành hai hàng dọc hai bên đường, súng cầm tay, đạn lên nòng, đi theo tư thế sẵn sàng chiến
dấu.
Sự có mặt ở Hà Nội của những lực lượng vũ trang cách mạng đã trải qua tôi luyện, thử thách
làm cho mọi người phấn khởi. Một cuộc duyệt binh của Quân giải phóng và tự vệ thành được
tổ chức tại quảng trường Nhà hát lớn trước niềm hân hoan, tin tưởng của đồng bào.
Ngày 28, danh sách Chính phủ lâm thời được công bó trên các báo chí tại Hà Nội. Thành phần
của Chính phủ nói lên chủ trương đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân của Mặt trận Việt
Minh trong công cuộc xây dựng đất nước.
Hôm trước đó, Bác đã gặp các vị Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời tại Bắc Bộ phủ. Ông
Nguyễn Văn Tố, Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, nhìn thấy ở phòng khách một cụ già, mặc chiếc
quần “soóc” nhuộm nâu, đội cái mũ bọc vải vàng đã móp, đứng chống cây gậy, tươi cười gật
đầu chào mình. Lát sau, ông mới biết đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thường vụ đã quyết định ngày ra mắt của Chính phủ lâm thời cũng là ngày nước Việt Nam
chính thức công bố giành quyền độc lập và thiết lập chính thề dân chủ cộng hoà. Ngoài đường
lối, chính sách của Chính phủ, phải chuẩn bị cả những lời thề để đưa ra trước nhân dân. Bác và
Thường vụ trao đổi về một việc hệ trọng cần bắt tay vào làm ngay: Thảo bản Tuyên ngôn Độc
lập.
Trong căn buồng nhỏ thiếu ánh sáng của ngôi nhà sâu thâm, nằm giữa một trong ba mươi sáu
phố phường cổ kính của Hả Nội, Bác ngồi làm việc, khi thì viết, khi thì đánh máy.
Những người giúp việc trong gia đình không biết ông cụ có cặp mắt sáng, chiếc áo nâu bạc
thường đề hở khuy ngực, hay hút thuốc lá, ngồi cặm cụi đó làm gì. Mỗi lần họ tới hỏi cụ có cẩn
gì, cụ quay lại mỉm cười, chuyện trò đôi câu. Lần nào cụ cũng nói không có gì cần phải giúp dỡ.
Họ không biết là mình đang chứng kiến những giờ phút lịch sử.
Một buổi sáng, Bác và anh Nhân gọi anh em chúng tôi tới.
Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thảo xong, Bác mang đọc để thông qua tập thể. Như lời Bác nói lại
sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người.
Hai mươi sáu năm trước, Bác đã tới Hội nghị hoà bình Véc-xây, nêu lên những yêu cầu cấp
thiết về dân sinh, dân chủ cho những người dân thuộc địa. Cả những yêu cầu tối thiểu đó cũng
không được bọn đế quốc mảy may chấp nhận. Người đã thấy rõ một sự thật là không thể trông
chờ ở lòng bác ái của các nhà tư bản. Người biết chỉ còn trông cậy vào cuộc đấu tranh, vào lực
lượng của bản thân dân tộc mình.
Giờ phút này, Người đang thay mặt cho cả dân tộc hái quả của tám mươi năm đấu tranh.
Bữa đó, chúng tôi đã nhìn thấy rõ niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng của Người.
--(1) Đồng chí Phạm Văn Đồng
- 5 -
Mồng 2 tháng Chín năm 1945.
Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát ngát cờ đèn và hoa. Cờ bay đỏ những mái nhà, đỏ
những rặng cây, đỏ những mặt hồ.
Biểu ngữ bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh, Hoa. Nga chăng khắp các đường phố: “Nước Việt
Nam của người Việt Nam”, “Đả đảo chủ nghĩa thực dân Pháp”, “Độc lập hay là chết”, “Ủng hộ
Chính phủ lâm thời”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”, “Hoan nghênh phái bộ Đồng minh”.
Các nhà máy, các cửa hiệu buôn to, nhỏ đều nghỉ việc. Chợ búa không họp. Mọi hoạt động buôn
bán, sản xuất của thành phố tạm ngừng. Đồng bào thủ đô già, trẻ, gái, trai đều xuống đường.
Mọi người đều thấy mình cần phải có mặt trong ngày hội lớn đầu tiên của đất nước.
Những dòng người đủ mọi màu sắc, từ khắp các ngả tuôn về vườn hoa Ba Đình.
Đội ngũ của những người thợ quần xanh, áo trắng, tràn đầy sức mạnh và niềm tin. Người lao
động bình thường hôm nay đến ngày hội với tư thế đường hoàng của những người làm chủ đất
nước, làm chủ tương lai.
Hàng chục vạn nông dân từ ngoại thành kéo vào. Những chiến sĩ dân quân mang theo côn,
kiếm, mã tấu. Có những người vác theo cả những quả chuỳ đồng, những thanh long đao rút ra
từ những giá vũ khí bày để trang trí trong các điện thờ. Trong hàng ngũ của các chị em phụ nữ
nông thôn với những bộ quần áo ngày hội, có những người vấn khăn vàng, mặc áo tứ thân, thắt
lưng hoa lý. Cũng chưa bao giờ người nông dân ở những làng xóm nghèo quanh Hà Nội đi vào
thành phố với một niềm tự hào như ngày hôm ấy.
Những cụ già vẻ mặt nghiêm trang. Những cô gái thủ đô hớn hở, áo màu rực rỡ.
Rộn ràng là các em thiếu nhi. Dù sự giầu nghèo của mỗi gia đình chưa đổi khác, nhưng từ ngày
hôm nay, tất cả các em đều trở thành những người chủ nhỏ của đất nước độc lập. Theo nhịp còi
của các anh, các chị phụ trách, các em khua rền trống ếch, giậm chân bước đều, hát vang những
bài ca cách mạng.
Những nhà sư, những ông cố đạo cũng rời nơi tu hành, xuống đường, xếp thành đội ngũ đến dự
ngày hội lớn của dân tộc.
Nắng mùa thu rất đẹp trên quảng trường Ba Đình từ giờ phút này đã đi vào lịch sứ. Đội danh
dự đứng nghiêm trang chung quanh lễ đài mới dựng. Các chiến sĩ Quân giải phóng bữa trước
theo Quân lệnh số 1 của Uỷ ban khởi nghĩa, từ Tân Trào tiến về phía Nam “đánh vào các đô thị
và trọng trấn của quân địch”. Hôm nay, họ đã đứng sát cánh cùng các đội tự vệ của công nhân,
thanh niên và lao động thủ đô bảo vệ Chính phủ lâm thời.
Sau bao năm bôn ba khắp thế giới. mang án tử hình của đế quốc Pháp, qua mấy chục nhà tù và
những ngày dài gối đất nằm sương, Bác đã trở về ra mắt trước một triệu đồng bào. Sự kiện lịch
sử này mới hôm nao còn ở trong ước mơ.
Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà
người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn
còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó
không nhiều.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Chủ tịch của Chính phủ. lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đã
ra mắt đồng bào như một lãnh tụ lần đầu xuất hiện trước đông đảo quần chúng.
Đó là một cụ già gầy gò, trán cao, mắt sáng, râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo ka-ki cao
cổ, đi dép cao-su trắng.
Mấy ngày hôm trước, một vấn đề được đặt ra là phải có một bộ quăn áo đề Bác mặc khi Chính
phủ ra mắt đồng bào. Cuối cùng, Bác đã chọn bộ quần áo này. Hai mươi bốn năm làm Chủ tịch
nước, trong những ngày lễ lớn của dân tộc, trong những cuộc đi thăm nước ngoài, Hồ Chủ tịch
bao giờ cũng xuất hiện với một hình ảnh giản dị, không thay đồi. Vẫn bộ quần áo vải, trên ngực
không một tấm huân chương, y như lần đầu Bác đã ra mắt đồng bào.
Ông cụ có dáng đi nhanh nhẹn. Dáng đi này cũng làm cho đôi người lúc đó hơi ngạc nhiên. Họ
đã không nhìn thấy ở vị Chủ tịch dáng đi trang trọng của những người sang. Giọng nói của ông
cụ phảng phất giọng nói của một miền quê đất Nghệ An.
Bác đã xuất hiện trước một triệu đồng bào ngày hôm đó như vậy.
Lời nói của Bác điềm đạm, đầm ấm, khúc chiết, rõ mâng. Không phải là cái giọng hùng hồn
người ta thường được nghe trong những ngày lễ long trọng. Nhưng người ta tìm thấy ngay ở
đó những tình cảm sâu sắc ý chí kiên quyết; tất cả đều tràn đày sức sống; từng câu, từng tiếng
đi vào lòng người.
Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng, Bác dừng lại và bỗng dưng hỏi:
- Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?
Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm:
- Co.. o... ó!
Từ giây phút đó, Bác củng với cả biển người đã hoà làm một.
Đây là bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa giành được độc lập bằng cuộc
chiến đấu suốt tám mươi năm của dân tộc. Đây còn là những lời lẽ tâm huyết, đầy cảm kích của
đội tiên phong giác ngộ nhất của giai cấp cách mạng nhất, có những người con tuyệt đối trung
thành với lợi ích của giai cấp và của dân tộc, trước máy chém, trước miệng súng của quân thù,
đã từng giật tấm băng đen bịt mắt, hô lớn: “Việt Nam độc lập muôn năm!”
Buổi lễ kết thúc bằng những lời thề Độc lập:
- Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời
Việt Nam dân chủ cộng hoà, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Chúng tôi xin thề: Cùng Chính phủ giữ nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu
mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng
- Nếu Pháp đến xâm lược lần nữa thì chúng tôi xin thề:
“Không đi lính cho Pháp,
Không làm việc cho Pháp,
Không bán lương thực cho Pháp,
Không đưa đường cho Pháp!”
Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng hoà làm một. Đó là lời thề của toàn dân kiên
quyết thực hiện lời Hồ Chủ tịch vừa đọc để kết thúc bản Tuyên ngôn:
“Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập vô sự thật đã thành một nước tự do,
độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của
cải đề giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
“Bản án chế độ thực dân Pháp” đã có từ ba mươi năm trước dây. Nhưng hôm nay mới chính là
ngày chế dộ thực dân Pháp bị đưa ra cho toàn dân Việt Nam công khai xét xử.
Lịch sử đã sang trang. Một kỷ nguyên mới bắt đầu: Kỷ nguyên của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.
Bản đồ thế giới phải sửa đổi lại vì sự ra đời của một Nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà.
Cùng với cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra trong suốt hạ tuần tháng Tám, Ngày Độc lập mồng 2
tháng Chín đã có một ý nghĩa cực kỳ trọng đại trong đời sống chính trị, tinh thần của dân tộc.
Điều lo lắng của Bác trước đây ba mươi năm: “Đông Dương dáng thương hại! Ngươi sẽ nguy
mất nếu đám thanh niên già cõi của ngươi không sớm hồi sinh”, hôm nay, không còn là điều
khiến cho Người phải băn khoăn. Cả dân tộc đã hồi sinh.
Độc lập tự do đã đến với mỗi người dân. Mõi người đã thấy được giá trị thiêng liêng của nó,
thấy trách nhiệm phải bảo vệ. Vô vàn khó khăn còn ở trước mất. Nhưng đối với bọn đế quốc,
muốn phục hồi lại thiên đàng đã mất, mọi việc cũng không còn dễ dàng như xưa.
- 6 -
Đối phó với các quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật là một khó khăn lớn lúc này mà
Đảng ta phải đương đầu. Ở miền Bắc, có tin Tưởng Giới Thạch sẽ đưa vào một số quân rất
đông. Căn cứ vào nghị quyết của Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, Thường vụ đã
bàn sách lược đối với bọn Tưởng.
Dã tâm của bọn Quốc dân đảng Trung Hoa, chúng ta đã rõ. Chúng là kẻ thù không đội trời
chung của cách mạng. Ta phải cảnh giác đề phòng chúng lật ta để thay thế băng bọn tay sai.
Tuy nhiên, lúc này cần phải hoà hoãn với chúng, phải khôn khéo, tìm mọi cách tránh xung đột.
Chính quyền cách mạng vừa thành lập đang cần có thời gian để củng cố và xây dựng lực lượng.
Khẩu hiệu để ra là “Hoa Việt thân thiện”
Thực hiện đối sách này với bọn Tưởng thật không dễ dàng. Đồng bào ta được sự giáo dục của
Đảng từ lâu, đã biết Hồng quân Trung Hoa mới là bạn của ta. Quan đội Quốc dân đảng của
Tưởng Giới Thạch chính là kẻ thù của nhân dân và cách mạng Trung Quốc; chúng cũng là kẻ
thù của nhân dân và cách mạng Việt Nam. Đồng bào ta vốn rất căm ghét chúng.
Quân Tưởng lại là một đội quân mang nhiều tính chất thổ phỉ. Chắc chắn, khi tràn vào ta, chúng
sẽ có nhiều hành động khiến cho đồng bào phẫn nộ, dễ xảy ra xung đột. Thường vụ đã phải cử
người lên các tỉnh phía trên, phổ biến chủ trương, cùng các đồng chí lãnh đạo ở địa phương
chuẩn bị tư tưởng cho cán bộ và nhân dân trước khi quân Tưởng kéo vào.
Sau khi Nhật đău hàng, Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng quân đội Quốc dân đảng Trung
Hoa, một tên chống cộng khét tiếng, đã thúc Lư Hán điều quân vào miền Bắc Việt Nam cho thật
nhanh. Kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” đã được chuẩn bị từ lâu. Bọn quân phiệt Quốc dân đảng
tin rằng đây là một thời cơ rất thuận lợi đề thôn tính miền Bắc Việt Nam. Chúng tính ít nhất
cũng đặt được từ vĩ tuyến 16 trở ra, một chính quyền tay sai ngoan ngoãn thực hiện mọi chỉ thị
của chúng.
Bọn quân phiệt Quốc dân đảng sắp sẵn những con bài, gồm những tên tay sai người Việt ở
Trung hoa như: Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam... Chúng thuộc hai tổ
chức: Việt Nam cách mạng đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng sống từ lâu ở nước
ngoài, không có liên hệ gì với phong trào trong nước. Chúng tự nhận là những người Việt Nam
yêu nước theo chủ nghĩa quốc gia, nhưng thực ra là một bọn phản động mưu toan dựa vào
Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch và mũi súng quân Tưởng để kiếm sống. Quân Tưởng đi vào
Việt Nam bằng hai đường, nên bọn này cũng chia làm hai bộ phận đi theo chúng.
Vì tổ chức luộm thuộm, thiếu phương tiện vận chuyển phải đi bộ, không có hậu cần đi cùng,
đến đâu cũng phải xoay ăn, lại thiếu cả quân số, vừa đi vừa vét quân lính dọc đường, nên chúng
đi khá chậm.
Phía Vân Nam, quân đoàn 93 thuộc đệ nhất phương diện quân của Lư Hán, theo kế hoạch sẽ đi
dọc sông Hồng đến Hà Nội. Cuối tháng Tám mới tới Lào Cai. Phía Quảng Tây, quân đoàn 62, lực
lượng của quân đội Quốc dân đảng trung ương. có tướng Tiêu Văn đi cùng, sẽ đi đường Lạng
Sơn, Cao Bằng xuống Hà Nội, mãi đầu tháng chín...
 





