Video sự tích cây nêu đất
Những năm tháng quyết định

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:59' 18-04-2024
Dung lượng: 780.2 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:59' 18-04-2024
Dung lượng: 780.2 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Đại tướng Hoàng Văn Thái
Những Năm Tháng Quyết Định
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Đại tướng Hoàng Văn Thái(1915-1986)
Thông tin ebook
Tên sách : Những Năm Tháng Quyết Định
Tác giả : Đại tướng Hoàng Văn Thái
Thể loại : Hồi ký – Tiểu sử
------------------------------Mục Lục
Tiểu sử
Lời nói đầu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Tiểu sử
Đại tướng Hoàng Văn Thái (1915–1986), Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội
Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Ông tên thật là Hoàng Văn Xiêm, quê xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Năm 1938, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1941, chỉ huy tiểu đội Cứu quốc quân Bắc Sơn (Lạng Sơn). Sau phụ trách Trường
Quân chính kháng Nhật ở Tân Trào cho đến trước Cách mạng tháng 8 năm 1945. Ông cũng là
một trong 34 chiến sĩ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đầu tiên tham dự lễ thành lập
ngày 22 tháng 12 năm 1944.
Tháng 9 năm 1945, được Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh giao thành lập Bộ Tổng
tham mưu quân đội quốc gia, sau giữ chức Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội Nhân
dân Việt Nam (1945 - 1953).
Năm 1948, ông là 1 trong 9 Thiếu tướng đầu tiên của Việt Nam. Cùng được phong trong
đợt này có : Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Bình, và 9 thiếu tướng: Nguyễn
Sơn, Chu Văn Tấn, Văn Tiến Dũng, Hoàng Sâm, Trần Đại Nghĩa...
Năm 1950, ông kiêm chức Tham mưu trưởng chiến dịch Biên Giới.
Năm 1954, ông được điều động đặc biệt giữ chức Tham mưu trưởng chiến dịch Điện Biên
Phủ, phụ tá cho Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
Năm 1958, ông được thăng quân hàm Trung tướng, giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Quân
huấn,
Năm 1960, kiêm chức Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao của Chính phủ.
Năm 1966, ông được phân công làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu V.
Từ năm 1967 đến 1973, ông được phân công vào Nam, giữ chức Tư lệnh Quân giải phóng
miền Nam Việt Nam, kiêm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam.
Từ năm 1974, ông được thăng quân hàm Thượng tướng và được cử vào chức vụ Thứ
trưởng Quốc phòng, kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, Ủy viên thường vụ Đảng ủy
Quân sự Trung ương.
Năm 1980, ông được thăng quân hàm Đại tướng.
Ông là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa II, IV, V và là
đại biểu Quốc hội khóa VII.
Năm 1986, ông qua đời đột ngột vì bệnh tật.
Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng: Huân chương Sao vàng (truy tặng năm
2007), Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến
thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.
(Theo Wikipedia tiếng Việt)
Lời nói đầu
Bạn đọc thân mến!
Thắng lợi to lớn mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc ta
chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Sau khi quân Mỹ kéo vào miền Nam, đầu năm 1966, tôi được cử vào phổ biến Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho các chiến trường Khu 5 và Tây
Nguyên.
Sau đó theo quyết định của Bộ Chính trị, tôi ở lại tham gia chiến trường B1 (Khu 5). Từ
tháng 10 năm 1967, tôi được cử vào cùng Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo chiến trường B2
(Nam Bộ).
Hiệp định Paris được ký kết, tôi cùng các anh ở B2 ra báo cáo tình hình và dự Hội nghị lần
thứ 21 của Trung ương, sau đó ở lại công tác ở Bộ Tổng Tham mưu cho đến ngày miền Nam
hoàn toàn giải phóng.
Nhân kỷ niệm lần thứ 10 mùa Xuân đại thắng, chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ
chức những ngày kỷ niệm lớn trong hai năm 1984-1985, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân yêu
cầu tôi viết cuốn hồi ức này. Qua cuốn sách, tôi muốn giới thiệu với bạn đọc hoạt động của Bộ
chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Quân uỷ Trung ương và của cơ quan tham mưu chiến
lược của Đảng trong những năm cuối của cuộc chiến tranh, từ năm 1973 đến năm 1975. Hy
vọng rằng cuốn sách nhỏ này sẽ giúp bạn đọc thấy rõ hơn tài thao lược của Đảng ta trong giai
đoạn quyết định thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Bước phát triển nhảy vọt về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng trong những năm
1973-1975 là một trong những nhân tố quyết định đưa đến Mùa Xuân đại thắng.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, trước âm mưu và hành động của Mỹ - nguỵ công khai
trắng trợn phá hoại Hiệp định, Đảng ta đã phân tích tình hình một cách khách quan, khoa học
để xác định đúng đắn phương hướng đi lên của cách mạng miền Nam. Suốt trong hai năm
1973-1974, Đảng đã lãnh đạo quân và dân ta vừa kiên quyết đánh bại kế hoạch bình định, lấn
chiếm của Mỹ - nguỵ, vừa kiên quyết tạo thế mới, lực mới ngày càng có lợi cho ta cả ở hậu
phương lớn miền Bắc trên đường vận chuyển chiến lược và nhất là ở tiền tuyến lớn miền Nam.
Với thế mới, lực mới đã được chuẩn bị để đón thời cơ chiến lược, bước vào mùa khô 19741975, Đảng rất nhạy bén phát hiện nhân tố mới xuất hiện trên chiến trường, khẳng định thời
cơ chiến lược đã chín muồi, nên kịp thời hạ quyết tâm chiến lược chính xác và táo bạo đẩy
nhanh tới cao trào tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường miền Nam. Mùa xuân năm
1975, nhất là từ sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, trong thế chiến lược chung phát triển ngày
càng thuận lợi, Đảng ta liên tiếp bổ sung quyết tâm chiến lược nhằm giành thắng lợi lớn nhất,
nhanh nhất. Quán triệt quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, các cấp lãnh đạo và
chỉ huy các chiến trường vừa chỉ đạo tác chiến, tiêu diệt địch, giải phóng các địa phương, vừa
tập trung tinh lực chuẩn bị hết sức khẩn trương để đánh đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng,
gidi phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Dưới sự chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén, kịp
thời của tập thể Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, các địa phương, các chiến trường, các
đơn vị đã chủ động, sáng tạo, thừa thắng xốc tới, hướng mọi hành động theo phương châm
"Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng".
Với kết quả động viên sức người, sức của to lớn của cả nước, bằng ba đòn quyết chiến chiến
lược (giải phóng Tây Nguyên, giài phóng Huế - Đà Nẵng, giải phóng Sài Gòn và đồng bằng sông
Cửu Long), quân và dân ta đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch chiến lược hai năm trong vòng hai
tháng, giành thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Do trình độ và thời gian có hạn, lại tập trung nói về hoạt động cửa cơ quan Tổng hành dinh
trong giai đoạn kết thúc chiến tranh là chủ yếu, cho nên cuốn sách chỉ đề cập một cách khái
quát hoạt động trên các chiến trường, cũng như các mặt hoạt động khác trong phạm vi cả
nước.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan tổng kết chiến tranh và nghiên cứu
lịch sử ở Trung ương, ở Khu 5, Phân viện lịch sử quân sự ở phía Nam và nhiều đồng chí khác đã
giúp đỡ tư liệu và góp nhiểu ý kiến quý báu, trong quá trình chuẩn bị và viết cuốn sách này.
Cũng do trình độ và thời gian có hạn, phạm vi đề tài tuy đã giới hạn nhưng vẫn rất rộng lớn,
cuốn sảch chắc chắn không tránh khổi thiếu sót và nhược điểm. Rất mong được sự góp ý của
đông đảo bạn đọc.
Ngày 31-1-1985
HOÀNG VĂN THÁI
Chương 1
CHIẾN TRƯỜNG CHƯA IM TIẾNG SÚNG
Trong mấy tháng cuối năm 1972, không khí làm việc trong các cơ quan Trung ương Cục và Bộ
tư lệnh Miền thật khẩn trương và căng thẳng.
Chúng tôi ở B2(1) thường xuyên nhận được thông báo của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung
ương và của anh Sáu Thọ(2), anh Xuân Thuỷ ở Paris cho biết từng bước phát triển cuộc đấu
tranh ngoại giao giữa ta và địch.
Ta và Mỹ đồng ý ngày 31-10-1972 sẽ ký tắt vào văn bản Hiệp định mà hai bên đã thoả
thuận.
Bộ Chính trị cũng chỉ thị cho chúng tôi phương hướng tổ chức các ban liên hợp quân sự bốn
bên, hai bên và, thông báo về vai trò của Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế, về hội đồng hoà
giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau, đồng thời chỉ thị những việc cần triển
khai chuẩn bị để thi hành Hiệp định.
Như mọi người đều biết, phía Mỹ đã lật lọng không chịu ký tắt vào thời gian đã định. Sau khi
Ních-xơn trúng cứ tổng thống nhiệm kỳ hai, Mỹ đòi sửa nhiều điểm thuộc thực chất của bản
Hiệp định mà hai bên đã thoả thuận. Họ vẫn đòi "rút quân miền Bắc".
Rõ ràng là cần đẩy mạnh hoạt động quân sự hơn nữa theo tinh thần bức điện anh Ba(3) gửi
cho chúng tôi hồi tháng 8, không những nhằm hậu thuẫn cho cuộc đàm phán mà còn tạo thế có
lợi cho ta khi Hiệp định được ký kết.
Trong bức điện gửi cho Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền đề ngày 8-11-1972, anh Văn(4)
đã nhắc lại nhận định của Bộ Chính trị về hai khả năng (chiến tranh có thể tiếp tục trong mấy
năm nữa hoặc có thể kết thúc trong thời gian tương đối sớm); ta phải chuẩn bị sẵn sàng cho cả
hai khả năng đó.
Các anh dự kiến: Trước sau phía Mỹ cũng phải ký kết và trong điều kiện đó thì phức tạp nhất
là những vấn đề ngừng bắn, quy định vùng kiểm soát, thể thức đóng quân của hai bên. Bức điện
cũng gợi ý chúng tôi những vấn đề cụ thể cần suy nghĩ và báo cáo để Bộ Chính trị và Quân uỷ
xem xét.
Cuối tháng 11 năm 1972, chúng tôi vừa theo dõi trên chiến trường, vừa được Bộ Tổng Tham
mưu thông báo, ngày càng thấy rõ: trong hai tháng vừa qua, Mỹ đã và đang tranh thủ tăng
cường lực lượng cho nguỵ đưa ồ ạt vũ khí và dụng cụ chiến tranh vào miền Nam Việt Nam(5).
Chúng ra sức yểm trợ cho quân nguỵ đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm và khủng bố, nhằm tạo thế
cho nguỵ.
Rõ ràng Mỹ ở vào thế phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam nhưng lại muốn kết thúc chiến
tranh thế giới mạnh, muốn bọn tay sai đứng vững và mạnh lên.
Ít ngày sau đó, Bộ Chính trị lại khẳng định: Trên thực tế, Mỹ âm mưu tiếp tục dính líu dưới
hình thức mới và tăng cường thực lực cho nguỵ ở thế lợi hơn ta, đồng thời ra sức làm yếu lực
lượng ta. Và ngay khi ta và Mỹ chưa thoả thuận được văn bản Hiệp định, Mỹ đã dùng chính
quyền Thiệu chuẩn bị phá hoại Hiệp định.
Ngày 27-11-1972, chúng tôi được Quân uỷ Trung ương thông báo: Có nhiều khả năng địch
sẽ đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng B.52 đánh phá ồ ạt Hà Nội,
Hải Phòng. Một tuần sau, Bộ Chính trị chỉ thị cho chúng tôi: Ngay từ bây giờ, ta cần chuẩn bị
sẵn sàng đối phó với trường hợp Mỹ liều lĩnh đánh phá trở lại trên toàn miền Bắc và cuộc đàm
phán lại bị gián đoạn.
Chúng tôi nhận được tin anh Sáu Thọ trở về Hà Nội gần như đồng thời với tin Mỹ dùng máy
bay B.52 ném bom miền Bắc.
Thật ra ngay lúc đó chúng tôi rất tin ta sẽ đánh thắng nhưng chưa hình dung hết khả năng
quân và dân ta ở ngoài Bắc sẽ đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của địch như
thế nào. Một số đồng chí cán bộ tuyên huấn được giao nhiệm vụ theo dõi hoạt động của đài
phát thanh Tiếng nói Việt Nam, theo dõi tin bộ đội phòng không và không quân của ta ở miền
Bắc đánh trả máy bay B.52 địch.
Trong hai ngày đầu (18 và 19 tháng 12), chúng tôi cảm thấy đài phát thanh có phút như trục
trặc. Những phút lo lắng như 25 năm trước, lại trở lại trong ký ức của tôi. Hồi đó, cuối năm
1947, địch đem hai vạn quân tiến công căn cứ địa Việt Bắc, trong đó có khu đài phát thanh
Tiếng nói Việt Nam. Bộ Tổng chỉ huy nhận được chỉ thị của Bác Hồ phải bằng mọì cách bảo vệ
đài an toàn, bảo đảm tiếng nói kháng chiến không bị ngắt quãng. Chiến dịch Việt Bắc kết thúc
thắng lợi. Anh chị em đài phát thanh đã bảo đảm hoạt động của đài được liên tục.
Và bây giờ, trong những ngày cuối năm 1972 đáng ghi nhớ này, chúng tôi xúc động biết bao
khi những phút lo lắng qua đi, chúng tôi vẫn không ngừng được nghe tiếng nói thân quen và
rành rọt của phát thanh viên từ Thủ đô vọng vào: "Đây là tiếng nói Việt Nam! Phát thanh từ Hà
Nội, Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hoà". Tin ngày 18 tháng 12, tám máy bay địch bị hạ
trên bầu trời miền Bắc, trong đó có ba chiếc B.52, hai chiếc rơi tại chỗ, làm náo nức lòng người.
Không khí trong cơ quan Bộ tư lệnh Miền náo nhiệt hẳn lên.
Thế là pháo đài bay của không quân Mỹ vừa lao sâu ra hậu phương lớn, ngay trận đầu đã bị
trừng trị đích đáng. Thêm những bài báo, những bức tranh đả kích uy thế của không lực Hoa Kỳ
được dán lên tờ báo tường của cơ quan.
Mấy ngày sau, hãng thông tấn AP (Mỹ) thú nhận: "Số phi công Mỹ bị mất trong năm ngày (từ
18 tháng 12 đến 22 tháng 12) bằng 13 phần trăm tổng số phi công đang bị giam ở Bắc Việt
Nam".
Tiếp đến hãng Roi-tơ (Anh) bình luận: "Các nhà quan sát quân sự ở Oa-sinh-tơn ước tính
rằng với mức độ bị bắn rơi như hiện nay, chỉ trong vòng ba tháng nữa, Mỹ có thể hết nhẵn
B.52".
Phía Mỹ bắt đầu hạ giọng. Ních-xơn phải tuyên bố ngừng ném bom, bắn pháo, thả mìn,
phong toả bờ biển từ vĩ tuyến 20 trở ra.
Kissinger lại lên đường đi Paris, tiếp tục cuộc đàm phán. Một sự thú nhận thất bại của mưu
đồ gây sức ép lớn với ta.
Tuy nhiên cuộc đấu tranh ngoại giao cũng còn gặp không ít khó khăn. Sau cuộc họp riêng
với Kissinger và khi bản dự thảo Hiệp định về cơ bản đã được hai bên thoả thuận và sẽ được
ký vào ngày 23-1-1973, anh Sáu Thọ điện về cho anh Phạm Hùng và Trung ương Cục biết: Cần
dự kiến ba vấn đề lớn nổi lên trong việc thi hành Hiệp định sắp tới ở miền Nam:
1. Về quân sự, thế nào bọn nguỵ cũng còn đòi "rút quân miền Bắc".
2. Về chính trị, có vấn đề thành lập hội đồng hoà giải và hoà hợp dân tộc.
3. Vấn đề thả những người bị bắt của hai bên.
Chúng tôi suy nghĩ và trao đổi ý kiến ngay về những vấn đề này.
*
* *
Mấy tháng cuối năm, theo chủ trương của Trung ương Cục, một bộ phận gồm các anh
Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu Kiếm và tôi cùng một số cán bộ giúp việc, có
nhiệm vụ tập trung nghiên cứu, chuẩn bị cho việc thành lập hội đồng hoà giải và hoà hợp dân
tộc, nghiên cứu các thành viên của ta trong chính phủ liên hợp ba thành phần theo tinh thần
dự thảo Hiệp định mà ta và Mỹ đã thoả thuận, dự kiến những nhân vật trong thành phần thứ ba
có thể hợp tác với ta. Chúng tôi nghiên cứu tổ chức và chức trách từng cấp trong hệ thống
chính quyền, làm sao giữ vững và phát triển được lực lượng của cách mạng trong chính quyền,
trong các đoàn thể quần chúng, xây dựng được lực lượng vũ trang, tranh thủ được thành phần
trung gian và các nhân sĩ tiến bộ về phía cách mạng, tạo nên ưu thế trong tương quan lực
lượng giữa ta và đối phương.
Từ trước ngày Hiệp định được ký cho đến những tháng sau này, ta vẫn chủ trương kiên trì
đấu tranh tiến tới thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần sau khi Mỹ rút quân. Chúng tôi
cũng được thông báo tin tức về cuộc sang thăm Việt Nam của Chu Ân Lai.
Về việc thành lập ban liên hợp quân sự, Trung ương Cục đã trao đổi ý kiến và đề nghị lên Bộ
Chính trị. Ngày 9 tháng 1, đồng chí Nguyễn Duy Trinh, uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng,
Bộ trưởng Ngoại giao điện cho biết: Bộ Chính trị cho rằng cuộc đấu tranh sắp tới có thể sẽ khó
khăn phức tạp. Vì vậy Trung ương Cục nên cử Trung tướng Trần Văn Trà, với cương vị là phó tư
lệnh, làm trưởng đoàn của miền Nam trong Ban liên hợp quân sự bốn bên. Khi Uỷ ban quân sự
hai bên thành lập thì sẽ làm trưởng đoàn của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam
trong Uỷ ban đó. Giúp việc anh Trà là hai đồng chí phó đoàn sẽ từ Paris về thẳng miền Nam
Việt Nam. Mọi việc tổ chức cần thiết và phương hướng hoạt động của đoàn đều được bàn bạc
khẩn trương vì chỉ còn vài tuần nữa, tức là ngày 28 tháng 1, phái đoàn ta sẽ đối mặt với những
người mà chúng ta đã biết trước rằng họ không có gì là thiện chí.
Dựa vào điện chỉ đạo của Bộ Chính trị, qua nhiều cuộc trao đổi ý kiến và thảo luận trong
Trung ương Cục, chúng tôi nhận thấy điều cốt yếu trước mắt là làm sao chấm dứt sự dính líu
của Mỹ; toàn bộ quân Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam. Đạt được yêu cầu đó chính là tạo
cơ sở để đưa cách mạng miền Nam tiến lên một bước mới.
Theo dự thảo Hiệp định đã được ta và Mỹ thoả thuận thì tại miền Nam vẫn tồn tại hai chính
quyền, hai quân đội và hai vùng kiểm soát. Về phía địch, bọn nguỵ còn có lợi thế ở chỗ vẫn nắm
được các đô thị, các đường giao thông chiến lược, Mỹ vẫn bám lấy chính quyền Thiệu để thực
hiện chủ nghĩa thực dân mới. Ta đã làm chủ vùng rừng núi và nhiều vùng quan trọng ở nông
thôn; có tổ chức chính trị rộng lớn trong quần chúng, lại có lực lượng vũ trang khá mạnh đứng
vững trên nhiều địa bàn. Tuy vậy, số dân trong vùng giải phóng chưa nhiều; lực lượng vũ trang
trên các vùng phát triển chưa đều. Nếu có những vùng, như ở đồng bằng sông Cửu Long, lực
lượng chính trị và vũ trang khá mạnh, áp sát vị trí địch trước ngày ký Hiệp định thì, ngược lại,
còn có những vùng lực lượng vũ trang ta còn yếu hơn địch. Nhiều đơn vị bộ đội ta trải qua
chiến đấu liên tục trong năm 1972, chưa kịp củng cố tổ chức, bổ sung quân và trang bị vũ khí.
Lực lượng so sánh trên đây cho thấy cuộc đấu tranh sắp tới tuy nhiều thuận lợi nhưng cũng
còn không ít khó khăn và sẽ rất phức tạp.
Chúng tôi nhất trí với ý kiến của anh Sáu Thọ tử Paris điện về ngày 17 tháng 1 nói rằng cần
đề phòng chiến tranh có thể trở lại do địch gây chiến ở một số khu vực nào đó, thậm chí chiến
tranh có khả năng lan rộng. Bởi vậy, đi đôi với đấu tranh chính trị, ngoại giao và pháp lý, việc
tranh thủ thời gian củng cố và xây dựng lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang trong các vùng
căn cứ và giải phóng, là cấp thiết để sẵn sàng đối phó với tình huống chiến tranh trở lại. Trước
mắt, địch có thể tập trung lực lượng đánh ra để giành lợi thế trước khi có ký kết. Vấn đề sẵn
sàng chiến đấu, tích cực đánh trả địch, giữ vững vị trí, giữ các vùng căn cứ và giải phóng của ta,
cũng như vấn đề tranh thủ thời cơ nhanh chóng xây dựng và phát triển các cơ sở hậu cần kỹ
thuật là hết sức quan trọng, cần được quán triệt xuống tận cơ sở.
Nhờ tích cực chuẩn bị triển khai "kế hoạch thời cơ" của Bộ Tổng tư lệnh mà trong những
ngày cuối tháng 1 năm 1973, trước khi Hiệp định được ký kết, Trung ương Cục và Bộ tư lệnh
Miền đã chỉ đạo các chiến trường tiêu diệt hoặc bức hàng, bức rút hàng trăm đồn bốt, giành
thế làm chủ hàng trăm ấp trên một số địa bàn có lợi, mở ra thêm nhiều mảng, nhiều vùng quan
trọng, cắt đứt và làm chủ nhiều đoạn trên các trục đường chiến lược, chia cắt địch ở nhiều nơi
sâu hơn và lớn hơn trước.
Cái vui trong cơ quan Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm
1973 là cái vui chiến thắng mới giành được ở Paris: Phía Mỹ đã phải ký vào bản Hiệp định, Mỹ
sẽ rút hết quân khỏi miền Nam nước ta. Thế là sau hơn một trăm năm, sắp đến ngày đất nước
ta sạch bóng quán xâm lược nước ngoài. Đó là cái vui của Xuân mới, của việc tổ chức ăn Tết
trước để tiễn phái đoàn anh Trần Văn Trà lên đường, bước vào cuộc đấu tranh mới.
Tin nhận được cho thấy trong những ngày sau khi ký Hiệp định Paris, bọn nguỵ quân, nguỵ
quyền tỏ ra hoang mang. Do bị thất bại và bế tắc trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,
chủ Mỹ đã vượt lên đầu nguỵ Thiệu mà ký với ta một bản Hiệp định ngoài ý muốn của bọn tay
sai.
Tại nhiều nơi phong trào ta mạnh, binh sĩ địch dao động, sợ hãi, ta đã dựa vào pháp lý của
Hiệp định, kịp thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận, giành thêm thắng lợi mới. Điều
mà bọn nguỵ Sài Gòn cho là bất hạnh đối với chúng là Mỹ đã "không ép được ta rút quân miền
Bắc khỏi miền Nam"; do đó sau khi Mỹ rút, một mình quân nguỵ sẽ phải đối mặt với quân ta
trên chiến trường trong thế da báo, xen kẽ cài răng lược, một thế trận mà Thiệu rất không
muốn, rất lo sợ.
Nhưng rồi Mỹ - nguỵ tạm dẹp mâu thuẫn, cùng nhau thực hiện mưu đồ đã thống nhất: Một
tay ký, một tay phá. Bọn tay sai ở Sài Gòn theo lệnh Mỹ, đã chuẩn bị trước và bắt đầu thực hiện
kế hoạch Lý Thường Kiệt 1973, tung quân đi thực hiện kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" trên toàn
miền Nam.
Ở B2, trọng điểm đánh phá của địch là đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh quanh Sài Gòn.
Từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 3 năm 1973, ở đồng bằng sông Cửu Long, địch phân tán quân
chủ lực kết hợp với bọn bảo an, dân vệ thực hiện lấn chiếm, cắm cờ giành đất hết sức quyết liệt
ở Cai Lậy, Cái Bè (Mỹ Tho), Tân Châu, Hồng Ngự (Kiến Phong), Châu Đốc, Chương Thiện, Phong
Dinh, Ba Xuyên thuộc miền Tây Nam Bộ. Tại miền Đông, địch tranh chấp quyết liệt với ta ở
Long An, Hậu Nghĩa, Bình Dương, Gia Định, Biên Hoà.
Chúng dùng chủ lực, có cả không quân yểm trợ, đánh mạnh khu tiếp giáp vùng giải phóng
Phước Vĩnh - Đồng Xoài, Lộc Tấn (Bình Long), Xa Mát (Tây Ninh); dùng biệt kích và bảo an
chốt khu vực Bu Prăng và ngã ba Tuy Đức, hòng chặn phá hành lang của ta. Tại Khu 6, địch
dùng bộ binh, có xe tăng, pháo binh, không quân yểm trợ, đánh vào nhiều nơi ở Bình Thuận,
Ninh Thuận, Bình Tuy, Lâm Đồng, Tuyên Đức; dùng phi pháo đánh phá vùng giáp ranh để ngăn
chặn ta và giải toả thế bị vây ép.
Trong vòng hơn một tháng sau khi ký Hiệp định, địch đã giải toả và lấn chiếm nhiều khu
vực, đặc biệt là quanh các thị xã, thị trấn, ven các trục giao thông quan trọng. Chúng đã chiếm
lại gần như toàn bộ 394 ấp mà ta đã giải phóng trước ngày ký.
Về phía ta, sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, mặc dù ta đã có dự kiến địch phá hoại Hiệp
định, nhưng công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức còn nhiều sơ hở. Chiều hướng tư tưởng khá
phổ biến là tin vào khả năng thi hành Hiệp định, tin vào vai trò của Uỷ ban giám sát và kiểm
soát quốc tế, Uỷ ban quân sự liên hiệp, tin vào khả năng thành lập hội đồng hoà giải, hoà hợp
dân tộc và chính phủ liên hiệp ba thành phần, v.v. Nhưng thực tế đã chứng minh: Do hành động
của địch công khai trắng trợn phá hoại Hiệp định ngay từ đầu, nên chiến trường vẫn chưa im
tiếng súng.
Chỉ riêng Khu 8, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1973, địch đã lấn chiếm 24 xã, 120 ấp, đóng
287 đồn. Về cơ bản, chúng đã "líp" các vùng ta mới mở trước Hiệp định và lấn thêm một số
vùng giải phóng cũ. Sau khi Trung ương Cục uốn nắn, từ tháng 4 trở đi, tình trạng lệch lạc nói
trên mới được khắc phục, tình hình mới dần dần chuyển biến theo chiều hướng tốt.
Tại Khu 9, trước và sau khi ký Hiệp định, cũng xuất hiện tương đối phổ biến tư tưởng hoà
bình, mất cảnh giác. Đảng bộ Khu 9 đã kịp thời ngăn chặn được chiều hướng tiêu cực ấy. Chỉ
gần một tuần sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, ngày 3 tháng 2 Thường vụ Khu uỷ đã họp hội
nghị mở rộng. Hội nghị đánh giá thắng lợi to lớn của việc ký Hiệp định. Quần chúng rất phấn
khởi, phong trào đã chuyển lên khí thế mới, tinh thần quân nguỵ sa sút, phong trào ba mũi giáp
công của quần chúng có khả năng đẩy lên được. Hội nghị dự kiến: Đứng trước tình hình đó,
nhất định địch sẽ phá hoại Hiệp định và thủ đoạn đầu tiên của dịch là tiếp tục bình định lấn
chiếm. Chúng sẽ phản kích chiếm lại những vùng đã mất sau ngày 27 tháng 1, nhất là những
nơi ta sơ hở; đồng thời dùng hành động phát xít ngăn chặn quần chúng nổi dậy. Hội nghị nhất
trí đề nghị lên Trung ương Cục giữ vững thế tiến công, kiên quyết đánh trả địch lấn chiếm, bình
định, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị, tăng cường công tác binh vận, nhằm giữ vững
thành quả cách mạng đã giành được và đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Đến khi nào địch chịu
thi hành Hiệp định, nhất là chịu thi hành các điều khoản ngừng bắn và thực hành tự do dân chủ
thì ta sẽ đưa đấu tranh chính trị và binh vận lên hàng đầu, còn mũi tiến công quân sự thì tùy
tình hình cụ thể mà vận dụng cho thích hợp. Hội nghị xác định phương thức tiến công là đánh
không để cho địch có cớ tố cáo ta, đánh mà tranh thủ được sự đồng tình của đông đảo binh sĩ
nguỵ, cô lập được bọn ác ôn và được nhân dân hưởng ứng; đánh để tạo điều kiện đẩy mạnh
được phong trào chính trị của quần chúng, công tác binh vận, giành thêm dân, đánh cho địch
thấm đòn mà không ảnh hưởng đến đấu tranh ngoại giao của ta. Hướng tiến công chủ yếu là
vùng tranh chấp và vùng bị địch kìm kẹp, vùng đông dân nhiều của, nhằm từng bước chuyển
vùng tranh chấp lên vùng giải phóng, vùng địch kìm kẹp lên vùng tranh chấp.
Nhờ nhạy bén về chỉ đạo chiến lược, kịp thời đánh giá đúng âm mưu và thủ đoạn của địch,
chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và của ta, xác định đúng phương châm, phương thức hoạt động, chỉ
đạo, chỉ huy cụ thể, trên đưới nhất trí, các lực lượng phối hợp hoạt động ăn khớp, cho nên quân
và dân Khu 9 đã từng bước giành thắng lợi, đánh bại kế hoạch bình định, lấn chiếm của địch,
giữ vững vùng giải phóng.
Kinh nghiệm chỉ đạo của Khu 9 là bài học về nắm vững quan điểm bạo lực, quán triệt tư
tưởng tiến công, chủ động phản công và tiến công địch để bảo vệ thành quả cách mạng đã
giành được.
Sau thời gian tập trung làm việc với các anh Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu
Kiếm về công tác chính quyền, từ ngày 20-1-1973, tôi trở lại với công tác quân sự. Công tác
này, trong thời gian tôi được Trung ương Cục phân công sang làm việc bên Chính phủ cách
mạng lâm thời, do anh Trần Văn Trà, Phó tư lệnh. Lúc này anh Trà đang chuẩn bị gấp để lên
đường ngày 28-1-1973, đồng chí Trưởng đoàn quân sự miền Nam đã có mặt ở Tân Sơn Nhất.
Thường xuyên báo cáo tình hình và nghiên cứu ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về phương
châm, phương thức đấu tranh, chăm chú nghe kinh nghiệm của Khu 9, Khu 8 và những thông
báo của trên về tình hình chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, chúng tôi chuẩn bị cuộc họp của
Thường vụ Trung ương Cục vào trung tuần tháng 3.
Vào những ngày đầu năm 1973 này, công việc thật bề bộn.
Từ việc triển khai "kế hoạch thời cơ" nhằm giành thêm thắng lợi trước khi có giải pháp
chính trị, việc bám sát diễn biến của các chiến trường để rút ra kết luận xác đáng, định ra
phương thức hoạt động đúng đắn, đến việc chuyển cơ quan lãnh đạo lên gần phía trước hơn
nữa để kịp chỉ đạo các địa phương triển khai tổ chức đấu tranh, chỉ đạo việc trao trả tù binh
địch và tiếp nhận người của ta, tất cả đều diễn ra hết sức khẩn trương.
Một tháng sau khi ký Hiệp định, ngày 27 tháng 2 chúng tôi đã tổng hợp tình hình, kiểm điểm
công tác chỉ đạo các mặt để báo cáo ra Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, đồng thời thảo
luận đi đến thống nhất trong Thường vụ Trung ương Cục, xác định phương hướng chỉ đạo các
địa phương vận dụng phương châm, phương thức đấu tranh và vận dụng kinh nghiệm về đánh
địch bình định, lấn chiếm, bảo vệ nhân dân, về củng cố và phát triển lực lượng cách mạng.
Bản chỉ thị số 02 của Trung ương Cục thể hiện tinh thần cuộc trao đổi ý kiến trên đã giúp
các địa phương có cơ sở để xác định phương thức đấu tranh trong tình hình mới.
Ngày 2-3-1973, trong cuộc hội nghị quân sự địa phương ở Bù Đốp, có đủ các tỉnh và một số
huyện về dự, thay mặt Trung ương Cục, tôi truyền đạt tinh thần bản chỉ thị nói trên: Khẳng
dịnh thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của dân tộc ta sau gần 20 năm chống Mỹ; âm mưu mới của Mỹ
- nguỵ; đặc điểm và khả năng phát triển của tình hình; chủ trương, phương châm, phương thức
đấu tranh của ta trong tình hình mới.
Điều mà anh em thảo luận sôi nổi nhất trong cuộc họp này là: Sử dụng lực lượng vũ trang
như thế nào cho đúng mức, có lợi nhất, trong điều kiện ta phấn đấu củng cố hoà bình, còn địch
thì công khai phá hoại Hiệp định; phối hợp đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và đấu tranh
pháp lý như thế nào để phát huy được sức mạnh tổng hợp, giữ vững thế tiến công trong điều
kiện mới. Hội nghị nhất trí chống hai khuynh hướng cực đoan: Một là: coi như không có Hiệp
định, cứ "làm tới". Hai là: không dám cầm súng đánh lại địch khi chúng tiến công ta, tự trói
buộc vào các điều khoản của Hiệp định mà chính kẻ địch đã phá hoại ngay từ đầu.
Từ Bù Đốp, ngày 7 tháng 3 tôi về tới cơ quan Bộ tư lệnh Miền thì được tin có điện gọi ra Hà
Nội họp. Tôi rất mừng, vì sau hơn một tháng thi hành Hiệp định, biết bao vấn đề mới nảy sinh,
cần được trao đổi, thảo luận, cần phải xin ý kiến Trung ương để xác định đường đi nước bước
trong tình hình mới, tình hình Mỹ - nguỵ đang công khai trắng trợn vi phạm Hiệp định.
Thế là sau bốn năm, tôi lại có dịp ra Bắc. Cả năm 1972 vừa qua, tôi ít bị sốt rét, sức khỏe tốt,
huyết áp tương đối ổn định nên làm việc được liên tục.
Thời gian chuẩn bị lên đường rất khẩn trương, chúng tôi họp các cơ quan trong Bộ tư lệnh
Miền, tổng kết phần quân sự năm 1972 và bàn kế hoạch công tác sắp tới.
Hội nghị mở rộng Thường vụ Trung ương Cục họp hai ngày 16 và 17 tháng 3, trước hôm
chúng tôi lên đường. Sau khi thông qua báo cáo tổng kết năm 1972, Chúng tôi đi sâu vào việc
đánh giá tình hình, xác định phương hướng, chuẩn bị ý kiến báo cáo Bộ Chính trị.
Điếu khiến chúng tôi đặc biệt quan tâm là: Đánh giá thế và lực của ta trên chiến trường và
so sánh lực lượng giữa ta và địch. Mỹ và chư hầu đã rút hết quân, nhưng quân nguỵ còn đông,
chúng vẫn kìm kẹp được dân, bắt được lính, vẫn được Mỹ viện trợ cả về quân sự và kinh tế. Nơi
nào ta mạnh thì binh sĩ nguỵ tỏ ra hoà hoãn. Nơi nào ta yếu và sơ hở thì chúng tập trung lấn
chiếm.
Vấn đề đặt ra trong cuộc họp lần này là xác định cách mạng miền Nam phát triển như thế
nào? Địch có chịu chấp nhận việc thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần hay chúng tiếp
tục phá hoại Hiệp định?
Phân tích tư tưởng cán bộ và nhân dân mấy tháng qua, chúng tôi thấy hai khuynh hướng rõ
rệt.
Một là: Quá tin vào khả năng thi hành Hiệp định dẫn tới lơ là cảnh giác, để địch lấn chiếm,
không bảo vệ được thành quả cách mạng.
Hai là: Không thấy hết ý nghĩa thắng lợi của việc ký kết, không biết dựa vào Hiệp định để
vận dụng phương châm, phương thức đấu tranh thích hợp với điều kiện từng nơi, từng lúc.
Chúng tôi thấy cần kịp thời chỉ đạo các địa phương khắc phục những biểu hiện lệch lạc giữa
hoà bình và chiến tranh, khẳng định quyết tâm vận dụng mọi phương thức đấu tranh để giữ
vững và phát huy thắng lợi của Hiệp định, đồng thời kiên quyết đánh trả địch lấn chiếm, bình
định. Cần chỉ đạo các địa phương, đơn vị đánh giá đúng tình hình chung và tình hình cụ thể
trên từng địa bàn, dự kiến đúng âm mtâl và thủ đoạn của địch, chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và
của ta, để vận dụng hình thức đấu tranh thích hợp, đồng thời không ngừng củng cố và phát
triển thực lực, củng cố vùng giải phóng, bổ sung quân và trang bị vũ khí, bảo đảm cho lực lượng
vũ trang sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.
Cuối cùng, hai vấn đề được hội nghị nhất trí và anh Phạm Hùng kết luận:
1) Trước mắt, chỉ đạo các địa phương dựa vào tình hình thực tế mà chuyển hướng đấu
tranh cho phù hợp, kết hợp các mặt quân sự, chí...
Những Năm Tháng Quyết Định
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Đại tướng Hoàng Văn Thái(1915-1986)
Thông tin ebook
Tên sách : Những Năm Tháng Quyết Định
Tác giả : Đại tướng Hoàng Văn Thái
Thể loại : Hồi ký – Tiểu sử
------------------------------Mục Lục
Tiểu sử
Lời nói đầu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Tiểu sử
Đại tướng Hoàng Văn Thái (1915–1986), Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội
Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Ông tên thật là Hoàng Văn Xiêm, quê xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Năm 1938, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1941, chỉ huy tiểu đội Cứu quốc quân Bắc Sơn (Lạng Sơn). Sau phụ trách Trường
Quân chính kháng Nhật ở Tân Trào cho đến trước Cách mạng tháng 8 năm 1945. Ông cũng là
một trong 34 chiến sĩ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đầu tiên tham dự lễ thành lập
ngày 22 tháng 12 năm 1944.
Tháng 9 năm 1945, được Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh giao thành lập Bộ Tổng
tham mưu quân đội quốc gia, sau giữ chức Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội Nhân
dân Việt Nam (1945 - 1953).
Năm 1948, ông là 1 trong 9 Thiếu tướng đầu tiên của Việt Nam. Cùng được phong trong
đợt này có : Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Bình, và 9 thiếu tướng: Nguyễn
Sơn, Chu Văn Tấn, Văn Tiến Dũng, Hoàng Sâm, Trần Đại Nghĩa...
Năm 1950, ông kiêm chức Tham mưu trưởng chiến dịch Biên Giới.
Năm 1954, ông được điều động đặc biệt giữ chức Tham mưu trưởng chiến dịch Điện Biên
Phủ, phụ tá cho Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
Năm 1958, ông được thăng quân hàm Trung tướng, giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Quân
huấn,
Năm 1960, kiêm chức Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao của Chính phủ.
Năm 1966, ông được phân công làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu V.
Từ năm 1967 đến 1973, ông được phân công vào Nam, giữ chức Tư lệnh Quân giải phóng
miền Nam Việt Nam, kiêm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam.
Từ năm 1974, ông được thăng quân hàm Thượng tướng và được cử vào chức vụ Thứ
trưởng Quốc phòng, kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, Ủy viên thường vụ Đảng ủy
Quân sự Trung ương.
Năm 1980, ông được thăng quân hàm Đại tướng.
Ông là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa II, IV, V và là
đại biểu Quốc hội khóa VII.
Năm 1986, ông qua đời đột ngột vì bệnh tật.
Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng: Huân chương Sao vàng (truy tặng năm
2007), Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến
thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.
(Theo Wikipedia tiếng Việt)
Lời nói đầu
Bạn đọc thân mến!
Thắng lợi to lớn mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc ta
chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Sau khi quân Mỹ kéo vào miền Nam, đầu năm 1966, tôi được cử vào phổ biến Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho các chiến trường Khu 5 và Tây
Nguyên.
Sau đó theo quyết định của Bộ Chính trị, tôi ở lại tham gia chiến trường B1 (Khu 5). Từ
tháng 10 năm 1967, tôi được cử vào cùng Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo chiến trường B2
(Nam Bộ).
Hiệp định Paris được ký kết, tôi cùng các anh ở B2 ra báo cáo tình hình và dự Hội nghị lần
thứ 21 của Trung ương, sau đó ở lại công tác ở Bộ Tổng Tham mưu cho đến ngày miền Nam
hoàn toàn giải phóng.
Nhân kỷ niệm lần thứ 10 mùa Xuân đại thắng, chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ
chức những ngày kỷ niệm lớn trong hai năm 1984-1985, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân yêu
cầu tôi viết cuốn hồi ức này. Qua cuốn sách, tôi muốn giới thiệu với bạn đọc hoạt động của Bộ
chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Quân uỷ Trung ương và của cơ quan tham mưu chiến
lược của Đảng trong những năm cuối của cuộc chiến tranh, từ năm 1973 đến năm 1975. Hy
vọng rằng cuốn sách nhỏ này sẽ giúp bạn đọc thấy rõ hơn tài thao lược của Đảng ta trong giai
đoạn quyết định thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Bước phát triển nhảy vọt về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng trong những năm
1973-1975 là một trong những nhân tố quyết định đưa đến Mùa Xuân đại thắng.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, trước âm mưu và hành động của Mỹ - nguỵ công khai
trắng trợn phá hoại Hiệp định, Đảng ta đã phân tích tình hình một cách khách quan, khoa học
để xác định đúng đắn phương hướng đi lên của cách mạng miền Nam. Suốt trong hai năm
1973-1974, Đảng đã lãnh đạo quân và dân ta vừa kiên quyết đánh bại kế hoạch bình định, lấn
chiếm của Mỹ - nguỵ, vừa kiên quyết tạo thế mới, lực mới ngày càng có lợi cho ta cả ở hậu
phương lớn miền Bắc trên đường vận chuyển chiến lược và nhất là ở tiền tuyến lớn miền Nam.
Với thế mới, lực mới đã được chuẩn bị để đón thời cơ chiến lược, bước vào mùa khô 19741975, Đảng rất nhạy bén phát hiện nhân tố mới xuất hiện trên chiến trường, khẳng định thời
cơ chiến lược đã chín muồi, nên kịp thời hạ quyết tâm chiến lược chính xác và táo bạo đẩy
nhanh tới cao trào tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường miền Nam. Mùa xuân năm
1975, nhất là từ sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, trong thế chiến lược chung phát triển ngày
càng thuận lợi, Đảng ta liên tiếp bổ sung quyết tâm chiến lược nhằm giành thắng lợi lớn nhất,
nhanh nhất. Quán triệt quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, các cấp lãnh đạo và
chỉ huy các chiến trường vừa chỉ đạo tác chiến, tiêu diệt địch, giải phóng các địa phương, vừa
tập trung tinh lực chuẩn bị hết sức khẩn trương để đánh đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng,
gidi phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Dưới sự chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén, kịp
thời của tập thể Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, các địa phương, các chiến trường, các
đơn vị đã chủ động, sáng tạo, thừa thắng xốc tới, hướng mọi hành động theo phương châm
"Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng".
Với kết quả động viên sức người, sức của to lớn của cả nước, bằng ba đòn quyết chiến chiến
lược (giải phóng Tây Nguyên, giài phóng Huế - Đà Nẵng, giải phóng Sài Gòn và đồng bằng sông
Cửu Long), quân và dân ta đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch chiến lược hai năm trong vòng hai
tháng, giành thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Do trình độ và thời gian có hạn, lại tập trung nói về hoạt động cửa cơ quan Tổng hành dinh
trong giai đoạn kết thúc chiến tranh là chủ yếu, cho nên cuốn sách chỉ đề cập một cách khái
quát hoạt động trên các chiến trường, cũng như các mặt hoạt động khác trong phạm vi cả
nước.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan tổng kết chiến tranh và nghiên cứu
lịch sử ở Trung ương, ở Khu 5, Phân viện lịch sử quân sự ở phía Nam và nhiều đồng chí khác đã
giúp đỡ tư liệu và góp nhiểu ý kiến quý báu, trong quá trình chuẩn bị và viết cuốn sách này.
Cũng do trình độ và thời gian có hạn, phạm vi đề tài tuy đã giới hạn nhưng vẫn rất rộng lớn,
cuốn sảch chắc chắn không tránh khổi thiếu sót và nhược điểm. Rất mong được sự góp ý của
đông đảo bạn đọc.
Ngày 31-1-1985
HOÀNG VĂN THÁI
Chương 1
CHIẾN TRƯỜNG CHƯA IM TIẾNG SÚNG
Trong mấy tháng cuối năm 1972, không khí làm việc trong các cơ quan Trung ương Cục và Bộ
tư lệnh Miền thật khẩn trương và căng thẳng.
Chúng tôi ở B2(1) thường xuyên nhận được thông báo của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung
ương và của anh Sáu Thọ(2), anh Xuân Thuỷ ở Paris cho biết từng bước phát triển cuộc đấu
tranh ngoại giao giữa ta và địch.
Ta và Mỹ đồng ý ngày 31-10-1972 sẽ ký tắt vào văn bản Hiệp định mà hai bên đã thoả
thuận.
Bộ Chính trị cũng chỉ thị cho chúng tôi phương hướng tổ chức các ban liên hợp quân sự bốn
bên, hai bên và, thông báo về vai trò của Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế, về hội đồng hoà
giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau, đồng thời chỉ thị những việc cần triển
khai chuẩn bị để thi hành Hiệp định.
Như mọi người đều biết, phía Mỹ đã lật lọng không chịu ký tắt vào thời gian đã định. Sau khi
Ních-xơn trúng cứ tổng thống nhiệm kỳ hai, Mỹ đòi sửa nhiều điểm thuộc thực chất của bản
Hiệp định mà hai bên đã thoả thuận. Họ vẫn đòi "rút quân miền Bắc".
Rõ ràng là cần đẩy mạnh hoạt động quân sự hơn nữa theo tinh thần bức điện anh Ba(3) gửi
cho chúng tôi hồi tháng 8, không những nhằm hậu thuẫn cho cuộc đàm phán mà còn tạo thế có
lợi cho ta khi Hiệp định được ký kết.
Trong bức điện gửi cho Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền đề ngày 8-11-1972, anh Văn(4)
đã nhắc lại nhận định của Bộ Chính trị về hai khả năng (chiến tranh có thể tiếp tục trong mấy
năm nữa hoặc có thể kết thúc trong thời gian tương đối sớm); ta phải chuẩn bị sẵn sàng cho cả
hai khả năng đó.
Các anh dự kiến: Trước sau phía Mỹ cũng phải ký kết và trong điều kiện đó thì phức tạp nhất
là những vấn đề ngừng bắn, quy định vùng kiểm soát, thể thức đóng quân của hai bên. Bức điện
cũng gợi ý chúng tôi những vấn đề cụ thể cần suy nghĩ và báo cáo để Bộ Chính trị và Quân uỷ
xem xét.
Cuối tháng 11 năm 1972, chúng tôi vừa theo dõi trên chiến trường, vừa được Bộ Tổng Tham
mưu thông báo, ngày càng thấy rõ: trong hai tháng vừa qua, Mỹ đã và đang tranh thủ tăng
cường lực lượng cho nguỵ đưa ồ ạt vũ khí và dụng cụ chiến tranh vào miền Nam Việt Nam(5).
Chúng ra sức yểm trợ cho quân nguỵ đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm và khủng bố, nhằm tạo thế
cho nguỵ.
Rõ ràng Mỹ ở vào thế phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam nhưng lại muốn kết thúc chiến
tranh thế giới mạnh, muốn bọn tay sai đứng vững và mạnh lên.
Ít ngày sau đó, Bộ Chính trị lại khẳng định: Trên thực tế, Mỹ âm mưu tiếp tục dính líu dưới
hình thức mới và tăng cường thực lực cho nguỵ ở thế lợi hơn ta, đồng thời ra sức làm yếu lực
lượng ta. Và ngay khi ta và Mỹ chưa thoả thuận được văn bản Hiệp định, Mỹ đã dùng chính
quyền Thiệu chuẩn bị phá hoại Hiệp định.
Ngày 27-11-1972, chúng tôi được Quân uỷ Trung ương thông báo: Có nhiều khả năng địch
sẽ đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng B.52 đánh phá ồ ạt Hà Nội,
Hải Phòng. Một tuần sau, Bộ Chính trị chỉ thị cho chúng tôi: Ngay từ bây giờ, ta cần chuẩn bị
sẵn sàng đối phó với trường hợp Mỹ liều lĩnh đánh phá trở lại trên toàn miền Bắc và cuộc đàm
phán lại bị gián đoạn.
Chúng tôi nhận được tin anh Sáu Thọ trở về Hà Nội gần như đồng thời với tin Mỹ dùng máy
bay B.52 ném bom miền Bắc.
Thật ra ngay lúc đó chúng tôi rất tin ta sẽ đánh thắng nhưng chưa hình dung hết khả năng
quân và dân ta ở ngoài Bắc sẽ đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của địch như
thế nào. Một số đồng chí cán bộ tuyên huấn được giao nhiệm vụ theo dõi hoạt động của đài
phát thanh Tiếng nói Việt Nam, theo dõi tin bộ đội phòng không và không quân của ta ở miền
Bắc đánh trả máy bay B.52 địch.
Trong hai ngày đầu (18 và 19 tháng 12), chúng tôi cảm thấy đài phát thanh có phút như trục
trặc. Những phút lo lắng như 25 năm trước, lại trở lại trong ký ức của tôi. Hồi đó, cuối năm
1947, địch đem hai vạn quân tiến công căn cứ địa Việt Bắc, trong đó có khu đài phát thanh
Tiếng nói Việt Nam. Bộ Tổng chỉ huy nhận được chỉ thị của Bác Hồ phải bằng mọì cách bảo vệ
đài an toàn, bảo đảm tiếng nói kháng chiến không bị ngắt quãng. Chiến dịch Việt Bắc kết thúc
thắng lợi. Anh chị em đài phát thanh đã bảo đảm hoạt động của đài được liên tục.
Và bây giờ, trong những ngày cuối năm 1972 đáng ghi nhớ này, chúng tôi xúc động biết bao
khi những phút lo lắng qua đi, chúng tôi vẫn không ngừng được nghe tiếng nói thân quen và
rành rọt của phát thanh viên từ Thủ đô vọng vào: "Đây là tiếng nói Việt Nam! Phát thanh từ Hà
Nội, Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hoà". Tin ngày 18 tháng 12, tám máy bay địch bị hạ
trên bầu trời miền Bắc, trong đó có ba chiếc B.52, hai chiếc rơi tại chỗ, làm náo nức lòng người.
Không khí trong cơ quan Bộ tư lệnh Miền náo nhiệt hẳn lên.
Thế là pháo đài bay của không quân Mỹ vừa lao sâu ra hậu phương lớn, ngay trận đầu đã bị
trừng trị đích đáng. Thêm những bài báo, những bức tranh đả kích uy thế của không lực Hoa Kỳ
được dán lên tờ báo tường của cơ quan.
Mấy ngày sau, hãng thông tấn AP (Mỹ) thú nhận: "Số phi công Mỹ bị mất trong năm ngày (từ
18 tháng 12 đến 22 tháng 12) bằng 13 phần trăm tổng số phi công đang bị giam ở Bắc Việt
Nam".
Tiếp đến hãng Roi-tơ (Anh) bình luận: "Các nhà quan sát quân sự ở Oa-sinh-tơn ước tính
rằng với mức độ bị bắn rơi như hiện nay, chỉ trong vòng ba tháng nữa, Mỹ có thể hết nhẵn
B.52".
Phía Mỹ bắt đầu hạ giọng. Ních-xơn phải tuyên bố ngừng ném bom, bắn pháo, thả mìn,
phong toả bờ biển từ vĩ tuyến 20 trở ra.
Kissinger lại lên đường đi Paris, tiếp tục cuộc đàm phán. Một sự thú nhận thất bại của mưu
đồ gây sức ép lớn với ta.
Tuy nhiên cuộc đấu tranh ngoại giao cũng còn gặp không ít khó khăn. Sau cuộc họp riêng
với Kissinger và khi bản dự thảo Hiệp định về cơ bản đã được hai bên thoả thuận và sẽ được
ký vào ngày 23-1-1973, anh Sáu Thọ điện về cho anh Phạm Hùng và Trung ương Cục biết: Cần
dự kiến ba vấn đề lớn nổi lên trong việc thi hành Hiệp định sắp tới ở miền Nam:
1. Về quân sự, thế nào bọn nguỵ cũng còn đòi "rút quân miền Bắc".
2. Về chính trị, có vấn đề thành lập hội đồng hoà giải và hoà hợp dân tộc.
3. Vấn đề thả những người bị bắt của hai bên.
Chúng tôi suy nghĩ và trao đổi ý kiến ngay về những vấn đề này.
*
* *
Mấy tháng cuối năm, theo chủ trương của Trung ương Cục, một bộ phận gồm các anh
Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu Kiếm và tôi cùng một số cán bộ giúp việc, có
nhiệm vụ tập trung nghiên cứu, chuẩn bị cho việc thành lập hội đồng hoà giải và hoà hợp dân
tộc, nghiên cứu các thành viên của ta trong chính phủ liên hợp ba thành phần theo tinh thần
dự thảo Hiệp định mà ta và Mỹ đã thoả thuận, dự kiến những nhân vật trong thành phần thứ ba
có thể hợp tác với ta. Chúng tôi nghiên cứu tổ chức và chức trách từng cấp trong hệ thống
chính quyền, làm sao giữ vững và phát triển được lực lượng của cách mạng trong chính quyền,
trong các đoàn thể quần chúng, xây dựng được lực lượng vũ trang, tranh thủ được thành phần
trung gian và các nhân sĩ tiến bộ về phía cách mạng, tạo nên ưu thế trong tương quan lực
lượng giữa ta và đối phương.
Từ trước ngày Hiệp định được ký cho đến những tháng sau này, ta vẫn chủ trương kiên trì
đấu tranh tiến tới thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần sau khi Mỹ rút quân. Chúng tôi
cũng được thông báo tin tức về cuộc sang thăm Việt Nam của Chu Ân Lai.
Về việc thành lập ban liên hợp quân sự, Trung ương Cục đã trao đổi ý kiến và đề nghị lên Bộ
Chính trị. Ngày 9 tháng 1, đồng chí Nguyễn Duy Trinh, uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng,
Bộ trưởng Ngoại giao điện cho biết: Bộ Chính trị cho rằng cuộc đấu tranh sắp tới có thể sẽ khó
khăn phức tạp. Vì vậy Trung ương Cục nên cử Trung tướng Trần Văn Trà, với cương vị là phó tư
lệnh, làm trưởng đoàn của miền Nam trong Ban liên hợp quân sự bốn bên. Khi Uỷ ban quân sự
hai bên thành lập thì sẽ làm trưởng đoàn của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam
trong Uỷ ban đó. Giúp việc anh Trà là hai đồng chí phó đoàn sẽ từ Paris về thẳng miền Nam
Việt Nam. Mọi việc tổ chức cần thiết và phương hướng hoạt động của đoàn đều được bàn bạc
khẩn trương vì chỉ còn vài tuần nữa, tức là ngày 28 tháng 1, phái đoàn ta sẽ đối mặt với những
người mà chúng ta đã biết trước rằng họ không có gì là thiện chí.
Dựa vào điện chỉ đạo của Bộ Chính trị, qua nhiều cuộc trao đổi ý kiến và thảo luận trong
Trung ương Cục, chúng tôi nhận thấy điều cốt yếu trước mắt là làm sao chấm dứt sự dính líu
của Mỹ; toàn bộ quân Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam. Đạt được yêu cầu đó chính là tạo
cơ sở để đưa cách mạng miền Nam tiến lên một bước mới.
Theo dự thảo Hiệp định đã được ta và Mỹ thoả thuận thì tại miền Nam vẫn tồn tại hai chính
quyền, hai quân đội và hai vùng kiểm soát. Về phía địch, bọn nguỵ còn có lợi thế ở chỗ vẫn nắm
được các đô thị, các đường giao thông chiến lược, Mỹ vẫn bám lấy chính quyền Thiệu để thực
hiện chủ nghĩa thực dân mới. Ta đã làm chủ vùng rừng núi và nhiều vùng quan trọng ở nông
thôn; có tổ chức chính trị rộng lớn trong quần chúng, lại có lực lượng vũ trang khá mạnh đứng
vững trên nhiều địa bàn. Tuy vậy, số dân trong vùng giải phóng chưa nhiều; lực lượng vũ trang
trên các vùng phát triển chưa đều. Nếu có những vùng, như ở đồng bằng sông Cửu Long, lực
lượng chính trị và vũ trang khá mạnh, áp sát vị trí địch trước ngày ký Hiệp định thì, ngược lại,
còn có những vùng lực lượng vũ trang ta còn yếu hơn địch. Nhiều đơn vị bộ đội ta trải qua
chiến đấu liên tục trong năm 1972, chưa kịp củng cố tổ chức, bổ sung quân và trang bị vũ khí.
Lực lượng so sánh trên đây cho thấy cuộc đấu tranh sắp tới tuy nhiều thuận lợi nhưng cũng
còn không ít khó khăn và sẽ rất phức tạp.
Chúng tôi nhất trí với ý kiến của anh Sáu Thọ tử Paris điện về ngày 17 tháng 1 nói rằng cần
đề phòng chiến tranh có thể trở lại do địch gây chiến ở một số khu vực nào đó, thậm chí chiến
tranh có khả năng lan rộng. Bởi vậy, đi đôi với đấu tranh chính trị, ngoại giao và pháp lý, việc
tranh thủ thời gian củng cố và xây dựng lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang trong các vùng
căn cứ và giải phóng, là cấp thiết để sẵn sàng đối phó với tình huống chiến tranh trở lại. Trước
mắt, địch có thể tập trung lực lượng đánh ra để giành lợi thế trước khi có ký kết. Vấn đề sẵn
sàng chiến đấu, tích cực đánh trả địch, giữ vững vị trí, giữ các vùng căn cứ và giải phóng của ta,
cũng như vấn đề tranh thủ thời cơ nhanh chóng xây dựng và phát triển các cơ sở hậu cần kỹ
thuật là hết sức quan trọng, cần được quán triệt xuống tận cơ sở.
Nhờ tích cực chuẩn bị triển khai "kế hoạch thời cơ" của Bộ Tổng tư lệnh mà trong những
ngày cuối tháng 1 năm 1973, trước khi Hiệp định được ký kết, Trung ương Cục và Bộ tư lệnh
Miền đã chỉ đạo các chiến trường tiêu diệt hoặc bức hàng, bức rút hàng trăm đồn bốt, giành
thế làm chủ hàng trăm ấp trên một số địa bàn có lợi, mở ra thêm nhiều mảng, nhiều vùng quan
trọng, cắt đứt và làm chủ nhiều đoạn trên các trục đường chiến lược, chia cắt địch ở nhiều nơi
sâu hơn và lớn hơn trước.
Cái vui trong cơ quan Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm
1973 là cái vui chiến thắng mới giành được ở Paris: Phía Mỹ đã phải ký vào bản Hiệp định, Mỹ
sẽ rút hết quân khỏi miền Nam nước ta. Thế là sau hơn một trăm năm, sắp đến ngày đất nước
ta sạch bóng quán xâm lược nước ngoài. Đó là cái vui của Xuân mới, của việc tổ chức ăn Tết
trước để tiễn phái đoàn anh Trần Văn Trà lên đường, bước vào cuộc đấu tranh mới.
Tin nhận được cho thấy trong những ngày sau khi ký Hiệp định Paris, bọn nguỵ quân, nguỵ
quyền tỏ ra hoang mang. Do bị thất bại và bế tắc trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,
chủ Mỹ đã vượt lên đầu nguỵ Thiệu mà ký với ta một bản Hiệp định ngoài ý muốn của bọn tay
sai.
Tại nhiều nơi phong trào ta mạnh, binh sĩ địch dao động, sợ hãi, ta đã dựa vào pháp lý của
Hiệp định, kịp thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận, giành thêm thắng lợi mới. Điều
mà bọn nguỵ Sài Gòn cho là bất hạnh đối với chúng là Mỹ đã "không ép được ta rút quân miền
Bắc khỏi miền Nam"; do đó sau khi Mỹ rút, một mình quân nguỵ sẽ phải đối mặt với quân ta
trên chiến trường trong thế da báo, xen kẽ cài răng lược, một thế trận mà Thiệu rất không
muốn, rất lo sợ.
Nhưng rồi Mỹ - nguỵ tạm dẹp mâu thuẫn, cùng nhau thực hiện mưu đồ đã thống nhất: Một
tay ký, một tay phá. Bọn tay sai ở Sài Gòn theo lệnh Mỹ, đã chuẩn bị trước và bắt đầu thực hiện
kế hoạch Lý Thường Kiệt 1973, tung quân đi thực hiện kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" trên toàn
miền Nam.
Ở B2, trọng điểm đánh phá của địch là đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh quanh Sài Gòn.
Từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 3 năm 1973, ở đồng bằng sông Cửu Long, địch phân tán quân
chủ lực kết hợp với bọn bảo an, dân vệ thực hiện lấn chiếm, cắm cờ giành đất hết sức quyết liệt
ở Cai Lậy, Cái Bè (Mỹ Tho), Tân Châu, Hồng Ngự (Kiến Phong), Châu Đốc, Chương Thiện, Phong
Dinh, Ba Xuyên thuộc miền Tây Nam Bộ. Tại miền Đông, địch tranh chấp quyết liệt với ta ở
Long An, Hậu Nghĩa, Bình Dương, Gia Định, Biên Hoà.
Chúng dùng chủ lực, có cả không quân yểm trợ, đánh mạnh khu tiếp giáp vùng giải phóng
Phước Vĩnh - Đồng Xoài, Lộc Tấn (Bình Long), Xa Mát (Tây Ninh); dùng biệt kích và bảo an
chốt khu vực Bu Prăng và ngã ba Tuy Đức, hòng chặn phá hành lang của ta. Tại Khu 6, địch
dùng bộ binh, có xe tăng, pháo binh, không quân yểm trợ, đánh vào nhiều nơi ở Bình Thuận,
Ninh Thuận, Bình Tuy, Lâm Đồng, Tuyên Đức; dùng phi pháo đánh phá vùng giáp ranh để ngăn
chặn ta và giải toả thế bị vây ép.
Trong vòng hơn một tháng sau khi ký Hiệp định, địch đã giải toả và lấn chiếm nhiều khu
vực, đặc biệt là quanh các thị xã, thị trấn, ven các trục giao thông quan trọng. Chúng đã chiếm
lại gần như toàn bộ 394 ấp mà ta đã giải phóng trước ngày ký.
Về phía ta, sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, mặc dù ta đã có dự kiến địch phá hoại Hiệp
định, nhưng công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức còn nhiều sơ hở. Chiều hướng tư tưởng khá
phổ biến là tin vào khả năng thi hành Hiệp định, tin vào vai trò của Uỷ ban giám sát và kiểm
soát quốc tế, Uỷ ban quân sự liên hiệp, tin vào khả năng thành lập hội đồng hoà giải, hoà hợp
dân tộc và chính phủ liên hiệp ba thành phần, v.v. Nhưng thực tế đã chứng minh: Do hành động
của địch công khai trắng trợn phá hoại Hiệp định ngay từ đầu, nên chiến trường vẫn chưa im
tiếng súng.
Chỉ riêng Khu 8, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1973, địch đã lấn chiếm 24 xã, 120 ấp, đóng
287 đồn. Về cơ bản, chúng đã "líp" các vùng ta mới mở trước Hiệp định và lấn thêm một số
vùng giải phóng cũ. Sau khi Trung ương Cục uốn nắn, từ tháng 4 trở đi, tình trạng lệch lạc nói
trên mới được khắc phục, tình hình mới dần dần chuyển biến theo chiều hướng tốt.
Tại Khu 9, trước và sau khi ký Hiệp định, cũng xuất hiện tương đối phổ biến tư tưởng hoà
bình, mất cảnh giác. Đảng bộ Khu 9 đã kịp thời ngăn chặn được chiều hướng tiêu cực ấy. Chỉ
gần một tuần sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, ngày 3 tháng 2 Thường vụ Khu uỷ đã họp hội
nghị mở rộng. Hội nghị đánh giá thắng lợi to lớn của việc ký Hiệp định. Quần chúng rất phấn
khởi, phong trào đã chuyển lên khí thế mới, tinh thần quân nguỵ sa sút, phong trào ba mũi giáp
công của quần chúng có khả năng đẩy lên được. Hội nghị dự kiến: Đứng trước tình hình đó,
nhất định địch sẽ phá hoại Hiệp định và thủ đoạn đầu tiên của dịch là tiếp tục bình định lấn
chiếm. Chúng sẽ phản kích chiếm lại những vùng đã mất sau ngày 27 tháng 1, nhất là những
nơi ta sơ hở; đồng thời dùng hành động phát xít ngăn chặn quần chúng nổi dậy. Hội nghị nhất
trí đề nghị lên Trung ương Cục giữ vững thế tiến công, kiên quyết đánh trả địch lấn chiếm, bình
định, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị, tăng cường công tác binh vận, nhằm giữ vững
thành quả cách mạng đã giành được và đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Đến khi nào địch chịu
thi hành Hiệp định, nhất là chịu thi hành các điều khoản ngừng bắn và thực hành tự do dân chủ
thì ta sẽ đưa đấu tranh chính trị và binh vận lên hàng đầu, còn mũi tiến công quân sự thì tùy
tình hình cụ thể mà vận dụng cho thích hợp. Hội nghị xác định phương thức tiến công là đánh
không để cho địch có cớ tố cáo ta, đánh mà tranh thủ được sự đồng tình của đông đảo binh sĩ
nguỵ, cô lập được bọn ác ôn và được nhân dân hưởng ứng; đánh để tạo điều kiện đẩy mạnh
được phong trào chính trị của quần chúng, công tác binh vận, giành thêm dân, đánh cho địch
thấm đòn mà không ảnh hưởng đến đấu tranh ngoại giao của ta. Hướng tiến công chủ yếu là
vùng tranh chấp và vùng bị địch kìm kẹp, vùng đông dân nhiều của, nhằm từng bước chuyển
vùng tranh chấp lên vùng giải phóng, vùng địch kìm kẹp lên vùng tranh chấp.
Nhờ nhạy bén về chỉ đạo chiến lược, kịp thời đánh giá đúng âm mưu và thủ đoạn của địch,
chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và của ta, xác định đúng phương châm, phương thức hoạt động, chỉ
đạo, chỉ huy cụ thể, trên đưới nhất trí, các lực lượng phối hợp hoạt động ăn khớp, cho nên quân
và dân Khu 9 đã từng bước giành thắng lợi, đánh bại kế hoạch bình định, lấn chiếm của địch,
giữ vững vùng giải phóng.
Kinh nghiệm chỉ đạo của Khu 9 là bài học về nắm vững quan điểm bạo lực, quán triệt tư
tưởng tiến công, chủ động phản công và tiến công địch để bảo vệ thành quả cách mạng đã
giành được.
Sau thời gian tập trung làm việc với các anh Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu
Kiếm về công tác chính quyền, từ ngày 20-1-1973, tôi trở lại với công tác quân sự. Công tác
này, trong thời gian tôi được Trung ương Cục phân công sang làm việc bên Chính phủ cách
mạng lâm thời, do anh Trần Văn Trà, Phó tư lệnh. Lúc này anh Trà đang chuẩn bị gấp để lên
đường ngày 28-1-1973, đồng chí Trưởng đoàn quân sự miền Nam đã có mặt ở Tân Sơn Nhất.
Thường xuyên báo cáo tình hình và nghiên cứu ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về phương
châm, phương thức đấu tranh, chăm chú nghe kinh nghiệm của Khu 9, Khu 8 và những thông
báo của trên về tình hình chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, chúng tôi chuẩn bị cuộc họp của
Thường vụ Trung ương Cục vào trung tuần tháng 3.
Vào những ngày đầu năm 1973 này, công việc thật bề bộn.
Từ việc triển khai "kế hoạch thời cơ" nhằm giành thêm thắng lợi trước khi có giải pháp
chính trị, việc bám sát diễn biến của các chiến trường để rút ra kết luận xác đáng, định ra
phương thức hoạt động đúng đắn, đến việc chuyển cơ quan lãnh đạo lên gần phía trước hơn
nữa để kịp chỉ đạo các địa phương triển khai tổ chức đấu tranh, chỉ đạo việc trao trả tù binh
địch và tiếp nhận người của ta, tất cả đều diễn ra hết sức khẩn trương.
Một tháng sau khi ký Hiệp định, ngày 27 tháng 2 chúng tôi đã tổng hợp tình hình, kiểm điểm
công tác chỉ đạo các mặt để báo cáo ra Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, đồng thời thảo
luận đi đến thống nhất trong Thường vụ Trung ương Cục, xác định phương hướng chỉ đạo các
địa phương vận dụng phương châm, phương thức đấu tranh và vận dụng kinh nghiệm về đánh
địch bình định, lấn chiếm, bảo vệ nhân dân, về củng cố và phát triển lực lượng cách mạng.
Bản chỉ thị số 02 của Trung ương Cục thể hiện tinh thần cuộc trao đổi ý kiến trên đã giúp
các địa phương có cơ sở để xác định phương thức đấu tranh trong tình hình mới.
Ngày 2-3-1973, trong cuộc hội nghị quân sự địa phương ở Bù Đốp, có đủ các tỉnh và một số
huyện về dự, thay mặt Trung ương Cục, tôi truyền đạt tinh thần bản chỉ thị nói trên: Khẳng
dịnh thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của dân tộc ta sau gần 20 năm chống Mỹ; âm mưu mới của Mỹ
- nguỵ; đặc điểm và khả năng phát triển của tình hình; chủ trương, phương châm, phương thức
đấu tranh của ta trong tình hình mới.
Điều mà anh em thảo luận sôi nổi nhất trong cuộc họp này là: Sử dụng lực lượng vũ trang
như thế nào cho đúng mức, có lợi nhất, trong điều kiện ta phấn đấu củng cố hoà bình, còn địch
thì công khai phá hoại Hiệp định; phối hợp đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và đấu tranh
pháp lý như thế nào để phát huy được sức mạnh tổng hợp, giữ vững thế tiến công trong điều
kiện mới. Hội nghị nhất trí chống hai khuynh hướng cực đoan: Một là: coi như không có Hiệp
định, cứ "làm tới". Hai là: không dám cầm súng đánh lại địch khi chúng tiến công ta, tự trói
buộc vào các điều khoản của Hiệp định mà chính kẻ địch đã phá hoại ngay từ đầu.
Từ Bù Đốp, ngày 7 tháng 3 tôi về tới cơ quan Bộ tư lệnh Miền thì được tin có điện gọi ra Hà
Nội họp. Tôi rất mừng, vì sau hơn một tháng thi hành Hiệp định, biết bao vấn đề mới nảy sinh,
cần được trao đổi, thảo luận, cần phải xin ý kiến Trung ương để xác định đường đi nước bước
trong tình hình mới, tình hình Mỹ - nguỵ đang công khai trắng trợn vi phạm Hiệp định.
Thế là sau bốn năm, tôi lại có dịp ra Bắc. Cả năm 1972 vừa qua, tôi ít bị sốt rét, sức khỏe tốt,
huyết áp tương đối ổn định nên làm việc được liên tục.
Thời gian chuẩn bị lên đường rất khẩn trương, chúng tôi họp các cơ quan trong Bộ tư lệnh
Miền, tổng kết phần quân sự năm 1972 và bàn kế hoạch công tác sắp tới.
Hội nghị mở rộng Thường vụ Trung ương Cục họp hai ngày 16 và 17 tháng 3, trước hôm
chúng tôi lên đường. Sau khi thông qua báo cáo tổng kết năm 1972, Chúng tôi đi sâu vào việc
đánh giá tình hình, xác định phương hướng, chuẩn bị ý kiến báo cáo Bộ Chính trị.
Điếu khiến chúng tôi đặc biệt quan tâm là: Đánh giá thế và lực của ta trên chiến trường và
so sánh lực lượng giữa ta và địch. Mỹ và chư hầu đã rút hết quân, nhưng quân nguỵ còn đông,
chúng vẫn kìm kẹp được dân, bắt được lính, vẫn được Mỹ viện trợ cả về quân sự và kinh tế. Nơi
nào ta mạnh thì binh sĩ nguỵ tỏ ra hoà hoãn. Nơi nào ta yếu và sơ hở thì chúng tập trung lấn
chiếm.
Vấn đề đặt ra trong cuộc họp lần này là xác định cách mạng miền Nam phát triển như thế
nào? Địch có chịu chấp nhận việc thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần hay chúng tiếp
tục phá hoại Hiệp định?
Phân tích tư tưởng cán bộ và nhân dân mấy tháng qua, chúng tôi thấy hai khuynh hướng rõ
rệt.
Một là: Quá tin vào khả năng thi hành Hiệp định dẫn tới lơ là cảnh giác, để địch lấn chiếm,
không bảo vệ được thành quả cách mạng.
Hai là: Không thấy hết ý nghĩa thắng lợi của việc ký kết, không biết dựa vào Hiệp định để
vận dụng phương châm, phương thức đấu tranh thích hợp với điều kiện từng nơi, từng lúc.
Chúng tôi thấy cần kịp thời chỉ đạo các địa phương khắc phục những biểu hiện lệch lạc giữa
hoà bình và chiến tranh, khẳng định quyết tâm vận dụng mọi phương thức đấu tranh để giữ
vững và phát huy thắng lợi của Hiệp định, đồng thời kiên quyết đánh trả địch lấn chiếm, bình
định. Cần chỉ đạo các địa phương, đơn vị đánh giá đúng tình hình chung và tình hình cụ thể
trên từng địa bàn, dự kiến đúng âm mtâl và thủ đoạn của địch, chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và
của ta, để vận dụng hình thức đấu tranh thích hợp, đồng thời không ngừng củng cố và phát
triển thực lực, củng cố vùng giải phóng, bổ sung quân và trang bị vũ khí, bảo đảm cho lực lượng
vũ trang sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.
Cuối cùng, hai vấn đề được hội nghị nhất trí và anh Phạm Hùng kết luận:
1) Trước mắt, chỉ đạo các địa phương dựa vào tình hình thực tế mà chuyển hướng đấu
tranh cho phù hợp, kết hợp các mặt quân sự, chí...
 





