Video sự tích cây nêu đất
Sách tham khảo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: LÊ THỊ MINH XUÂN
Ngày gửi: 10h:39' 26-02-2026
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: LÊ THỊ MINH XUÂN
Ngày gửi: 10h:39' 26-02-2026
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HIỆU SÁCH CUỐI CÙNG Ở
LONDON
MADELINE MARTIN
Phương Hạ dịch
Quỳnh @ vctvegroup
2023-12-03
Mến gửi đến tất cả các tác giả của các tác phẩm tôi
từng đọc.
Tôi chân thành cảm ơn họ vì đã sáng tạo nên những
thế giới để tôi đắm chìm trong đó, và vì đã trao cho tôi
kiến thức cũng như góp phần tạo nên con người tôi
ngày hôm nay.
CHƯƠNG 1
THÁNG TÁM NĂM 1939
THỦ ĐÔ LONDON, NƯỚC ANH
Grace Bennett luôn ấp ủ ước mơ được đến sống ở London nhưng cô
chưa bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó, đây lại là chọn lựa duy
nhất của mình, nhất là vào đêm trước khi cuộc chiến nổ ra.
Con tàu ngừng lăn bánh khi đến nhà ga Farringdon. Trên tường,
người ta có thể thấy rõ dòng chữ “FARRINGDON” nằm trên dải nền
màu xanh lam trong một vòng tròn đỏ chót. Trên khuôn mặt của
những hành khách đứng đợi trong sân ga hiện lên vẻ bồn chồn
chẳng khác gì những người sắp xuống tàu cả. Họ mặc những bộ
quần áo được cắt may sang trọng theo phong cách thị thành, thứ
cầu kì hơn nhiều so với áo quần ở làng Drayton, thuộc hạt Norfolk.
Grace đang run lên vì hồi hộp và háo hức. Cô nhìn sang người
bạn Viv ngồi bên cạnh, khẽ nói, “Chúng ta đến rồi.”
Cô bạn liền đóng nắp thỏi son lại khiến nó phát ra một tiếng
“cạch” rồi nở nụ cười tươi tắn trên đôi môi vừa tô son đỏ thắm. Viv
nhìn ra ngoài cửa sổ, lướt mắt qua những tấm biển quảng cáo chạy
dọc theo bức tường cong cong. Cô thoáng siết nhẹ tay Grace, “Sau
bao năm ước ao, cuối cùng chúng ta cũng đến London rồi. Chúng ta
đến rồi.”
Từ hồi hai người còn là thiếu nữ, Viv đã bắt đầu nung nấu ý định
rời khỏi ngôi làng Drayton buồn tẻ để lên thành phố tìm kiếm một
cuộc đời thú vị hơn. Việc rời bỏ những tháng ngày êm đềm, thân
thuộc chốn thôn quê rồi lao vào nhịp sống hối hả, náo nhiệt ở
London từng là một suy nghĩ hết sức điên rồ đối với họ. Nhưng
Grace đâu ngờ rằng một ngày nào đó, cô buộc phải chuyển đi chứ
không còn là lựa chọn muốn được đi nữa.
Nhưng rồi Drayton chẳng còn gì để Grace lưu luyến, hoặc ít nhất
cũng không còn gì khiến cô vương vấn mong được trở về.
Grace và Viv đứng lên khỏi chiếc ghế tàu hạng sang và với lấy
hành lý của mình. Mỗi người chỉ xách theo một cái vali đã bạc màu
và cũ rích vì bị xếp xó lâu ngày nhiều hơn là được đem ra dùng
thường xuyên. Cả hai cái đều bị nhồi nhét nhiều đến mức như thể
sắp vỡ bung ra. Chúng không chỉ nặng hơn cả tưởng tượng, mà còn
cồng kềnh nên rất khó mang theo, nhất là khi mỗi người còn phải
đeo trên vai những chiếc hộp đựng mặt nạ phòng độc. Theo lệnh
của chính phủ, tất cả người dân phải luôn mang theo thứ kinh khủng
ấy để tự vệ nếu chẳng may bị tấn công bằng khí ga.
Thật may vì phố Britton chỉ cách nhà ga hai phút đi bộ, hoặc cũng
có thể do bác Weatherford nói thế thôi.
Bác Weatherford vốn là bạn từ thuở thiếu thời với mẹ của Grace.
Năm ngoái, khi mẹ cô vừa qua đời, bà đã ngỏ lời mời Grace đến ở
chung vì nhà bà còn dư một phòng trống. Điều kiện thuê nhà của bà
cũng thật hào phóng - chẳng những miễn phí hai tháng để chờ
Grace tìm được việc làm, mà thậm chí sau đó tiền nhà còn có thể
giảm thêm. Mặc dù từ lâu Grace đã ao ước được đến London, và dù
Viv nhiệt tình động viên hết mình nhưng cô vẫn cố nán lại Drayton
thêm khoảng một năm nữa để nỗ lực chắp vá cuộc đời vỡ vụn của
mình.
Lúc đó, Grace vẫn chưa biết ngôi nhà đã gắn bó với cô từ lúc lọt
lòng thực ra thuộc về chú của cô. Lúc đó, ông chú vẫn chưa đưa bà
vợ hống hách cùng năm đứa con đến đây sống. Và lúc đó, cô vẫn
chưa biết hóa ra cuộc đời mình còn có thể tan nát hơn nữa.
Bà thím luôn sốt sắng đay nghiến rằng trong chính ngôi nhà từng
là của Grace bây giờ không còn chỗ nào dành cho cô nữa. Nơi một
thời là tổ ấm yêu thương và yên ủi giờ đã quay lưng ghẻ lạnh, hắt
hủi cô. Cuối cùng, khi bà thím gom đủ can đảm để đuổi đứa cháu
gái ra khỏi nhà thì cũng là lúc Grace nhận ra mình không còn sự lựa
chọn nào nữa.
Tháng trước, Grace đã viết thư cho bác Weatherford để hỏi xem
liệu cô còn có thể đến nhà bà ở được không. Đó là việc làm khó
khăn nhất trong cuộc đời Grace từ khi sinh ra đến giờ. Nó không
khác nào sự đầu hàng trước những nghịch cảnh mà cô phải trải qua,
một thất bại tồi tệ đầy đau đớn. Grace cảm giác hành động nhượng
bộ ấy chính là thất bại lớn nhất mà cô phải đối mặt.
Trước giờ Grace vốn không phải là người can đảm. Thậm chí đến
lúc này, cô vẫn băn khoăn không biết mình có thể tự xoay xở đến
được London không nếu như Viv không kiên quyết đi theo cùng.
Cảm giác bồn chồn siết chặt trái tim Grace trong lúc họ đợi những
cánh cửa kim loại lấp lánh của đoàn tàu mở ra, chào đón họ bước
lên hành trình khám phá một thế giới đầy mới mẻ.
Viv thì thào, “Mọi thứ sẽ tuyệt lắm. Sẽ tốt hơn ở quê nhiều, Grace
ạ. Tớ đảm bảo đấy.”
Những cánh cửa trượt tự động trên tàu điện rít lên rồi mở ra. Hai
cô gái đã đặt chân lên sân ga London. Xung quanh họ, dòng người
đang tất tả ngược xuôi. Rồi mấy cánh cửa đóng sập lại sau lưng họ,
làn gió lùa theo đoàn tàu tiếp tục chuyển bánh thổi bay mái tóc và
tà váy của hai nữ hành khách này.
Trên bức tường xa xa là tấm biển quảng cáo thuốc lá Chesterfield
với hình ảnh anh chàng cứu hộ điển trai đang mơ màng hút thuốc,
trong khi bên cạnh nó lại là tấm áp phích kêu gọi thanh niên London
lên đường nhập ngũ.
Đó không chỉ là dấu hiệu nhắc nhở rằng đất nước của họ sắp sửa
phải đối mặt với một cuộc chiến, mà còn đang cảnh báo họ sẽ càng
dễ gặp nguy hiểm hơn khi sống ở thành phố này. Vì nếu như Hitler
lăm le tấn công nước Anh, London rất có thể sẽ lọt ngay vào tầm
ngắm của hắn.
“Ôi Grace, nhìn kìa!” Viv reo lên.
Grace đang mải chăm chú nhìn tấm áp phích cổ động, nghe thấy
bạn gọi, cô liền đưa mắt về phía chiếc cầu thang bằng kim loại. Nó
từ từ chuyển động lên cao theo một băng chuyền vô hình rồi chợt
biến mất đâu đó bên trên mái vòm cong cong. Grace và Viv từ từ
tiến vào thành phố trong mơ của mình.
Tấm biển quảng cáo nhanh chóng trôi vào quên lãng khi hai cô
gái háo hức nhào lên chiếc thang cuốn, rồi cố kiềm lại sự phấn khích
khi nó nhẹ nhàng nâng họ lên cao, cao, cao mãi.
Đôi vai Viv rướn lên trong niềm hạnh phúc sắp sửa vỡ òa, “Chẳng
phải tớ đã nói với cậu là nơi đây tuyệt lắm sao?”
Cả người Grace lâng lâng vui sướng. Thế là sau ngần ấy năm ước
ao và ấp ủ, cuối cùng họ cũng đã đến London rồi đây.
Vậy là Grace đã thoát khỏi những lời chì chiết đay nghiến của ông
chú, còn Viv thì không còn phải chịu sự quản thúc nghiêm khắc của
bố mẹ nữa.
Mặc dù trong lòng Grace còn nhiều phiền muộn, nhưng cô và Viv
vẫn ào ra khỏi sân ga như những chú chim được tháo cũi sổ lồng,
sẵn sàng sải cánh bay vào bầu trời tự do.
Xung quanh họ là biết bao tòa nhà chọc trời, cao chót vót tới nỗi
Grace phải đưa tay lên che nắng mới nhìn thấy được đỉnh của
chúng. Vài cửa hàng gần đó chào đón hai cô gái lần đầu lên phố
bằng những bảng hiệu sơn màu rực rỡ, nào là tiệm bánh mì
sandwich, tiệm cắt tóc và cả cửa hàng dược phẩm nữa. Trên đường,
mấy chiếc xe tải và xe buýt sầm sập chạy xuôi ngược, bên hông
chiếc xe buýt còn sơn màu đỏ bóng lộn hệt như móng tay của Viv.
Tất cả những điều mà Grace có thể làm lúc này là cố túm lấy
cánh tay bạn mình và reo lên trước cảnh tượng trước mặt. Viv cũng
ngây người ra, mở to cặp mắt long lanh nhìn mọi thứ trong sự sửng
sốt. Hóa ra, cô cũng “nhà quê” chẳng khác gì Grace, mặc dù chiếc
váy Viv đang mặc trông khá hợp mốt và những lọn tóc nâu vàng của
cô được tạo kiểu vô cùng duyên dáng.
Grace thì không sành điệu như thế. Cô đã chọn bộ đầm đẹp nhất
cho một dịp đặc biệt thế này nhưng nó cũng chỉ dài qua gối một
chút với chiếc thắt lưng đen mảnh mai làm điểm nhấn ngay eo, phối
hợp hài hòa với đôi guốc đế thấp. Tuy không thời trang bằng kiểu
váy chấm bi đen trắng mà Viv đang mặc, nhưng chiếc đầm vải bông
màu xanh nhạt đã tôn lên đôi mắt xám và mái tóc hoe vàng của
Grace.
Dĩ nhiên bộ đầm này là Viv may tặng Grace. Nhưng không chỉ
dừng lại ở đó, Viv vẫn luôn nuôi dưỡng những khát khao lớn hơn
dành cho cả hai người họ. Họ đã cùng nhau dành hàng giờ để may
váy áo và uốn tóc, chăm chỉ đọc tạp chí Woman và Woman's Life
suốt nhiều năm trời để học hỏi về thời trang lẫn quy tắc xã giao lịch
thiệp, sau đó nỗ lực thay đổi bản thân để không còn ai nhận ra đây
là những cô gái Drayton quê mùa nữa.
Bây giờ, với đôi gò má cao và cặp mắt nâu long lanh, trông Viv
duyên dáng đến độ xứng đáng trở thành gương mặt trang bìa cho
những tạp chí này.
Họ hòa mình vào dòng người tất bật ngược xuôi, chuyển mớ hành
lý nặng trịch từ tay này sang tay kia trong lúc Grace dẫn đường đi về
phố Britton. May là trong lá thư gần nhất, bác Weatherford đã chỉ
đường rất tỉ mỉ nên họ cũng dễ dàng đi theo.
Tuy nhiên, trong thư tuyệt nhiên không nhắc đến bất cứ dấu hiệu
nào của chiến tranh.
Trên phố ngày càng xuất hiện nhiều quảng cáo. Một số cái kêu
gọi lớp thanh niên hãy làm tròn nghĩa vụ với đất nước. Một số khác
lại xúi giục mọi người cứ mặc kệ Hitler lẫn lời đe dọa của hắn và
thoải mái lên lịch nghỉ hè. Ngay bên kia đường, một bức tường xây
bằng nhiều bao cát đang bao quanh cánh cửa, với tấm biển màu
đen trắng thông báo rằng nơi này là chỗ Trú ẩn Không kích Công
cộng.
Đúng như hướng dẫn của bác Weatherford, họ đến được phố Britton
chỉ sau hai phút ngắn ngủi. Bây giờ, trước mặt họ là một ngôi nhà
phố bằng gạch có cánh cửa màu xanh lá, chiếc vòng gõ cửa bằng
đồng bóng loáng và một cái chậu trồng đầy hoa dạ yến thảo tím pha
trắng nằm bên cửa sổ. Theo những gì trong thư đã viết thì đây chắc
chắn là nhà bác Weatherford rồi, không thể nào nhầm được.
Và đây cũng chính là nhà mới của họ.
Viv háo hức bước lên những bậc thềm khiến những lọn tóc xoăn
nhún nhảy theo từng bước chân, rồi cô gõ nhẹ vào cánh cửa. Grace
cũng háo hức theo sau với niềm hi vọng tràn ngập trong lòng. Dẫu
sao đi nữa, bác Weatherford cũng là người bạn thân thiết nhất với
mẹ cô, và bác từng đến Drayton thăm hai mẹ con cô vài lần hồi
Grace còn nhỏ.
Tình bạn giữa mẹ của Grace và bác Weatherford bắt đầu từ khi
bác còn sống ở Drayton. Sau này, tuy bác đã chuyển đi nhưng tình
bạn đó vẫn tiếp tục duy trì và bền bỉ vượt qua nhiều biến cố - ban
đầu là Chiến tranh Thế giới thứ Nhất đã khiến hai người phụ nữ trở
thành quả phụ, và sau đó là cơn bạo bệnh đã quật ngã mẹ của
Grace.
Cánh cửa mở ra và bác Weatherford xuất hiện. Tuy bác nom có vẻ
già hơn hình ảnh trong kí ức của Grace nhưng dáng người bác vẫn
đầy đặn với đôi má bầu bĩnh ửng hồng và cặp mắt xanh sáng lấp
lánh. Bác đeo cặp kính tròn và mái tóc đen nhánh được buộc lại
bằng những sợi dây màu bạc lung linh. Bác đưa mắt nhìn Grace.
Bác có vẻ sửng sốt và đưa tay chạm nhẹ lên môi, “Grace, cháu
giống mẹ y như đúc vậy. Đôi mắt xám của cháu đẹp quá, hệt như
đôi mắt của Beatrice ngày xưa.” Rồi người phụ nữ mở rộng cửa ra,
bà mặc chiếc váy bông màu trắng, điểm xuyết mấy bông hoa thêu
màu xanh dương hài hòa với những chiếc cúc áo cùng màu. Đằng
sau bà là một lối vào nhỏ hẹp nhưng gọn gàng, với dãy cầu thang
dẫn lên tầng trên choán gần hết diện tích. “Nào, vào đi các cháu.”
Grace thì thào cảm ơn bác Weatherford vì lời khen vừa rồi nhưng
quả thật nó đã chạm vào nỗi nhớ thương người mẹ quá cố vẫn luôn
chực trào trong cô.
Cô xách vali qua ngưỡng cửa, bước vào một ngôi nhà ấm cúng,
nơi tỏa ra mùi thơm của rau và thịt. Nghĩ đến thôi cũng đủ khiến
Grace chảy nước miếng.
Từ ngày mẹ mất, cô chưa bao giờ có được bữa cơm nhà tử tế.
Đến một bữa tàm tạm cũng không. Thím của Grace vốn chẳng nấu
nướng gì mấy, còn Grace phải tất bật chuyện quản lý cửa hàng cho
chú nên chẳng còn thì giờ mà chuẩn bị thứ gì tươm tất.
Tấm thảm mềm mại dưới chân như nâng đỡ những bước đi của
Grace. Chiếc thảm có màu kem và trang trí những bông hoa nhàn
nhạt, tuy sạch sẽ nhưng hình như đã sờn vài mảng.
“Cháu là Vivienne?” Bà Weatherford lên tiếng khi Viv bước vào
cùng Grace.
“Bạn bè đều gọi cháu là Viv ạ.” Cô đáp, kèm theo nụ cười duyên
dáng đậm chất Viv có-một-không-hai.
“Hai đứa lớn lên đều xinh quá. Thằng con nhà bác chắc chắn sẽ
đỏ mặt cho xem.” Bà ra hiệu cho hai cô gái để hành lý xuống sàn rồi
gọi với lên chiếc cầu thang bằng gỗ bóng loáng. “Colin, xuống phụ
hai chị một tay để mẹ đi đun nước.”
“Colin có khỏe không ạ?” Grace lịch sự hỏi thăm.
Giống như Grace, Colin cũng là con một và đã trở thành đứa trẻ
mồ côi cha sau Chiến tranh Thế giới thứ Nhất. Tuy cậu nhỏ hơn
Grace hai tuổi nhưng họ đã chơi chung với nhau từ khi còn bé. Cô
thường đắm mình chìm trong hồi tưởng về những kỉ niệm thời thơ
ấu ấy. Colin lúc nào cũng dịu dàng, tử tế cùng với trái tim chân
thành ẩn sau đôi mắt thông minh sắc sảo.
Bà Weatherford bực bội vung tay lên. “Nó vẫn thích cứu mấy con
vật rồi lại ôm hết về nhà.” Miệng nói thế nhưng nụ cười lặng lẽ hiền
hậu của bà như thầm bảo rằng bà không phiền lòng lắm đâu.
Trong lúc chờ Colin, Grace tranh thủ ngắm nhìn hành lang một
chút. Cạnh cầu thang có đặt một chiếc bàn, trên bàn để chiếc điện
thoại đen bóng. Giấy dán tường là tấm vải xanh trắng bắt mắt, tuy
hơi bợt bạt nhưng hài hòa với mấy cánh cửa và các khung cửa sơn
trắng. Thiết kế đơn giản nhưng mọi thứ đều hoàn hảo, không thể
chê vào đâu được. Thật ra, Grace dám chắc cô sẽ khó lòng tìm được
một hạt bụi nào vương trên bất kì vật gì mà bạn của mẹ cô sở hữu.
Một tiếng cọt kẹt vang lên, theo sau là tiếng bước chân đi xuống
cầu thang, và rồi một anh thanh niên cao gầy xuất hiện. Trong trang
phục áo sơ mi kết hợp với quần tây nâu chững chạc, mái tóc đen
của anh được chải chuốt gọn gàng.
Chàng trai nở nụ cười bẽn lẽn, điều đó khiến nét mặt của anh trở
nên mềm mại hơn và trông anh trẻ trung hơn so với độ tuổi hai
mươi mốt của mình. “A, chị Grace.”
“Colin?” Grace thốt lên, không tin vào mắt mình. Mặc dù ngày
trước cô đã từng cao hơn anh, nhưng giờ đây anh đã cao vượt cô
rồi.
Chàng trai liền đỏ mặt.
Phản ứng của Colin thật đáng yêu, nó khiến Grace cảm thấy thân
thương vì cô biết sau ngần ấy năm xa cách, người bạn thời thơ ấu
của mình vẫn không mất đi vẻ dịu dàng.
Grace ngước nhìn Colin, “Em đã lớn hơn nhiều kể từ lần cuối mình
gặp nhau rồi đấy.”
Chàng trai trẻ nhún đôi vai gầy trông thật bẽn lẽn rụt rè, rồi sau
đó anh quay qua gật nhẹ đầu chào Viv. Viv cũng là người bạn
thường chơi đùa với cậu hồi bé bởi vì hai cô gái này lúc nào cũng
quấn quýt bên nhau. “Mừng chị đến London, Viv ạ. Mẹ con em
mong chị lắm.” Cậu quay sang Grace cười toe toét, rồi cúi xuống
nhấc hai chiếc vali mà hai cô gái này đã đặt sang một bên. Colin hơi
ngần ngại, “Em mang cái này lên cho hai chị được không?”
“Ừ, giúp chị nhé. Cảm ơn em.” Viv đáp.
Colin gật đầu rồi mỗi tay xách một chiếc, nhẹ nhàng mang chúng
lên tầng.
“Cháu còn nhớ Colin không?” Bà Weatherford hỏi.
“Dạ nhớ.” Grace đáp. “Em nó trước giờ vẫn tốt bụng.”
“Chỉ có điều cao ngồng lên rồi.” Viv tiếp lời.
Bà Weatherford nhìn lên cầu thang với ánh mắt trìu mến như thể
bà vẫn nhìn thấy bóng dáng con trai mình, “Nó là một chàng trai tử
tế. Nào, bây giờ chúng ta đi uống trà, uống trà xong rồi bác dắt tụi
con đi vòng vòng coi nhà.”
Bà chủ nhà ra hiệu cho hai cô gái trẻ đi theo và đẩy cánh cửa dẫn
vào một gian bếp. Ánh sáng tràn vào từ ô cửa sổ phía trên bồn rửa
và từ cánh cửa sau, rồi xuyên qua những tấm rèm trắng mỏng manh
đang hé mở. Mọi thứ trong căn bếp khiêm tốn này cũng mới tinh
tươm y như ở hành lang. Ánh nắng rọi lên các mặt bàn sạch sẽ
trắng tinh, vài chiếc đĩa được xếp gọn gàng trên giá để hong khô.
Mấy chiếc khăn màu vàng chanh được mắc lên một cái giá. Nhưng
hấp dẫn hơn cả chính là mùi thơm của món gì đó mà bà
Weatherford đang nấu trên bếp lúc này.
Bà chỉ tay về phía một chiếc bàn nhỏ có bốn chiếc ghế màu trắng
cho Grace và Viv ngồi, sau đó bà nhấc ấm đun nước ra khỏi bếp.
“Chú của con đòi lại nhà đúng lúc quá nhỉ, ngay khi cuộc chiến sắp
đổ lên đầu chúng ta.” Bà cho chiếc ấm vào bồn rửa và mở vòi nước.
“Và như vậy mới đúng là Horace,” giọng bà thể hiện sự khinh ghét
rõ ràng, còn nước vẫn cứ tiếp tục chảy ra xối xả. “Beatrice đã lo lắng
sớm muộn gì ổng cũng sẽ làm vậy, nhưng không ngờ mẹ con đổ
bệnh đột ngột quá…”
Bà Weatherford đang để ý mực nước trong ấm nhưng vẫn liếc
sang nhìn Grace. “Lẽ ra bác không nên càm ràm mấy chuyện này.
Các cháu vừa từ xa đến đây mà. Bác rất mừng khi có hai đứa ở đây.
Bác chỉ ước gì hoàn cảnh sáng sủa hơn một chút.”
Grace cắn môi, lúng túng không biết nói gì.
“Nhà của bác dễ thương quá!” Viv nhanh ý đỡ lời.
Grace quay qua nhìn cô bạn với ánh mắt đầy biết ơn. Viv liền đáp
lại bằng cái nháy mắt đầy ẩn ý.
“Cảm ơn cháu.” Người phụ nữ lớn tuổi tắt vòi nước và mỉm cười
nhìn quanh gian bếp đầy nắng. “Mấy đời nhà Thomas của bác đều ở
đây, tuy không còn tốt như lúc đầu nhưng sống tạm thì vẫn được.”
Grace và Viv cùng thả mình xuống ghế. Chiếc đệm lót in hình trái
chanh rất mỏng nên họ có thể cảm nhận được mặt gỗ cưng cứng
bên dưới. “Tụi cháu rất biết ơn vì bác đã cho tụi cháu ở lại đây. Bác
tốt bụng quá.”
“Cháu đừng khách sáo.” Bà Weatherford đặt chiếc ấm lên bếp và
xoay núm để bật lửa. “Bác có thể làm tất cả cho đứa con gái của
người bạn thân thiết nhất với bác.”
“Bác nghĩ tìm việc có khó lắm không ạ?” Viv hỏi. Mặc dù cô đã cố
giữ giọng mình thật nhẹ nhàng, nhưng Grace biết từ lâu bạn mình
đã khao khát được làm nhân viên trong cửa hàng đến nhường nào.
Thực lòng thì ý tưởng đó cũng rất thu hút Grace. Viễn cảnh được
làm việc trong một cửa hàng bách hóa, nơi vừa to vừa đẹp như
Woolworths với những tầng lầu chứa đầy hàng hóa trải dọc suốt cả
dãy nhà thật hấp dẫn biết bao.
Bà Weatherford mỉm cười bí ẩn, “Tình cờ là bác quen biết khá
nhiều chủ cửa hàng ở London này. Bác tin bác có thể giúp được các
cháu. Colin cũng đang làm việc ở Harrods. Nó có thể nói giúp hai
cháu vài lời.”
Mắt Viv sáng lên và cô vô cùng phấn khởi lặp lại tên cửa hàng đó
với Grace.
Bà Weatherford lấy chiếc khăn màu vàng, nhấc một chiếc đĩa ra
khỏi giá rồi lau sạch vài giọt nước còn đọng trên đó, “Bác phải nói
rằng trông hai cháu không hề giống như mới từ Drayton lên chút
nào.”
Viv nghiêng cằm cao hơn một chút, “Cháu cảm ơn bác. Tụi cháu
chắc chắn sẽ cố gắng làm việc. Cháu hi vọng điều đó sẽ giúp chúng
cháu dễ xin vào làm hơn.”
Bà Weatherford mở tủ để cất chiếc đĩa vào trong, “Tốt quá. Chắc
là cháu đã chuẩn bị thư giới thiệu rồi chứ hả?”
Trước khi đến London, Viv đã mượn chiếc máy đánh chữ và dành
cả ngày để tự soạn cho mình một lá thư giới thiệu chỉn chu. Cô còn
đề nghị làm luôn cho Grace một cái nhưng Grace từ chối.
Bà Weatherford quay lại để tiếp tục lau khô mấy cái đĩa. Viv
nhướng mày nhìn bạn như thầm nói đáng lẽ lúc đó Grace nên đồng
ý để cô giúp.
“Chúng cháu đều có thư giới thiệu ạ.” Viv tự tin trả lời thay cho cả
hai, rõ ràng cô đã dự tính được cách làm thêm một lá thư nữa cho
Grace.
Grace đính chính, “Viv thì có nhưng cháu thì không ạ. Thật xui
xẻo vì ông chú không chịu viết thư giới thiệu cho cháu, dù bao lâu
nay cháu đã làm cho cửa hàng của ông ấy.”
Đó là hành động nhẫn tâm cuối cùng của người chú nhằm trả đũa
việc Grace đã “rời bỏ cửa hàng” mà cô đã nai lưng làm suốt một thời
gian dài. Dường như ông không đếm xỉa đến việc vợ ông khăng
khăng đuổi Grace ra khỏi nhà mà chỉ cay cú chuyện đứa cháu gái
không còn ở đây để tùy ông sai khiến nữa.
Chiếc ấm rít lên một tiếng chói tai và luồng hơi nước xộc ra từ vòi
ấm. Bà Weatherford nhanh chóng dập tắt tiếng kêu ấy bằng cách
nhấc ấm xuống khỏi bếp và đặt lên cái kiềng ba chân.
Bà xúc một thìa đầy lá trà cho vào quả lọc trà rồi chế nước sôi
vào ấm, miệng trách cứ, “Thật nhẫn tâm, quá nhẫn tâm.” Bà lẩm
bẩm điều gì đó về chú Horace và đặt ấm trà lên một cái khay bạc,
bên cạnh ba chiếc tách, hộp đường và kem. Bà cau mày nhìn Grace
với vẻ bất lực, “Nếu không có thư, họ sẽ không nhận cháu vào làm
đâu.”
Grace nghe lòng mình chùng xuống. Đáng lẽ cô nên đồng ý để
Viv làm giả một bức thư cho rồi.
“Nhưng bác nghĩ ra một chỗ này. Cháu có thể đến đó làm tạm
nửa năm để lấy thư giới thiệu hợp lệ.” Bà Weatherford từ tốn nói
tiếp trong lúc bưng chiếc khay lên bàn và rót cho mỗi người một
tách trà nóng.
“Cho dù bác định giới thiệu việc gì thì cậu ấy cũng là ứng viên
tuyệt nhất.” Viv xúc một cục đường trong bát rồi thả vào tách trà.
“Hồi đi học Grace lúc nào cũng đạt điểm cao nhất lớp. Một tay bạn
ấy đã quản lý nguyên cửa tiệm của chú mình và nhờ vậy nó làm ăn
phát đạt hẳn lên.”
“Cho nên bác nghĩ việc này sẽ xuôi chèo mát mái thôi.” Bà
Weatherford nhấp một ngụm trà.
Có thứ gì đó thúc vào chân Grace. Cô nhìn xuống, hóa ra là một
chú mèo mướp con đang ngước nhìn cô bằng cặp mắt to tròn màu
hổ phách với vẻ nài nỉ.
Grace vuốt ve lớp lông mềm mại phía sau tai chú mèo con và
nghe tiếng nó “rừ… rừ” thích thú. “Thì ra bác có nuôi một con mèo.”
“Chỉ mới mấy ngày thôi, mong là cháu không thấy phiền.” Bà
Weatherford xua tay định đuổi con mèo đi nhưng nó vẫn bướng bỉnh
nằm lì bên chỗ Grace.
“Cái con mèo tinh ranh này nhất quyết không rời khỏi nhà bếp
mỗi khi nó ngửi thấy mùi đồ ăn.” Bà Weatherford ném cho con vật
nhỏ bé cái nhìn bực bội nhưng nó nhìn lại bà bằng cặp mắt ngây
thơ, không hề tỏ chút áy náy. “Colin là người hùng đối với mấy con
vật. Bác mà cho phép nó nuôi hết những con thú bị thương nó mang
về nhà, thì dám chừng chúng ta sẽ có một sở thú đấy.” Tiếng cười
của bà cắt ngang làn hơi nước bốc lên từ tách trà.
Con mèo nằm ngửa lên sàn, để lộ mảng lông hình ngôi sao màu
trắng trên ngực. Grace gãi gãi vào chỗ lông đó, rồi cô nghe thấy
tiếng “rừ… rừ” của nó nhịp nhàng đều đặn dưới ngón tay mình. “Bác
đặt tên cho nó là gì ạ?”
“Tabby.” Bà Weatherford vừa đáp vừa hài hước đảo mắt. “Con trai
bác giỏi giải cứu hơn là đặt tên cho tụi nó.”
Như thể được gọi đến, vừa nhắc một cái là Colin đã bước vào
bếp. Tabby liền đứng lên, chạy lon ton đến bên vị cứu tinh của nó.
Colin nâng chú mèo con lên bằng đôi bàn tay to lớn. Cử chỉ của anh
thật dịu dàng và con vật nhỏ bé nũng nịu rúc vào người anh.
Lần này, người bị bà Weatherford đuổi đi chính là Colin, “Mang nó
ra khỏi bếp cùng đi.”
“Con xin lỗi mẹ.” Colin vội vàng mỉm cười hối lỗi với Grace và Viv
rồi cúi đầu, ôm con mèo trên ngực và đi ra khỏi phòng.
Bà mẹ lắc đầu với vẻ thích thú trìu mến khi nhìn cậu con trai đi
khỏi. “Để bác ghé qua chỗ ông Evans rồi gửi gắm cháu ở chỗ ông
ấy.” Bà ngồi lại xuống ghế, chăm chú nhìn ra vườn rồi buông một
tiếng thở dài.
Grace nhìn ra cửa sổ. Một cái hố sâu nằm chình ình trên mặt đất,
bên cạnh nó là đống hoa u sầu bị bật gốc và một chồng những tấm
có vẻ như là tấm nhôm. Rất có thể người ta đang chuẩn bị đào hầm
trú ẩn ở đó.
Ở làng Drayton, Grace chưa bao giờ thấy những thứ như vậy vì
nơi đó ít có nguy cơ bị giội bom, nhưng cô nghe phong thanh rằng
người ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho một vài thành phố. Những hầm
trú ẩn nhỏ sẽ được đào trong vườn, phòng khi Hitler đánh vào nước
Anh.
Cảm giác sợ hãi chạy dọc sống lưng Grace. Sau bao lần nỗ lực để
đặt chân đến London, cuối cùng họ lại tới đúng lúc cuộc chiến sắp
bùng nổ. Bây giờ, nơi này đang nằm trong tầm ngắm chính của các
vụ đánh bom.
Nhưng họ cũng không thể quay về Drayton được nữa. Grace thà
bất chấp hiểm nguy để trụ lại nơi mà cô hằng ước ao còn hơn là trở
về để chịu đựng sự thù ghét của người chú.
Viv tò mò ngó ra cửa sổ và ngay lập tức nhìn
LONDON
MADELINE MARTIN
Phương Hạ dịch
Quỳnh @ vctvegroup
2023-12-03
Mến gửi đến tất cả các tác giả của các tác phẩm tôi
từng đọc.
Tôi chân thành cảm ơn họ vì đã sáng tạo nên những
thế giới để tôi đắm chìm trong đó, và vì đã trao cho tôi
kiến thức cũng như góp phần tạo nên con người tôi
ngày hôm nay.
CHƯƠNG 1
THÁNG TÁM NĂM 1939
THỦ ĐÔ LONDON, NƯỚC ANH
Grace Bennett luôn ấp ủ ước mơ được đến sống ở London nhưng cô
chưa bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó, đây lại là chọn lựa duy
nhất của mình, nhất là vào đêm trước khi cuộc chiến nổ ra.
Con tàu ngừng lăn bánh khi đến nhà ga Farringdon. Trên tường,
người ta có thể thấy rõ dòng chữ “FARRINGDON” nằm trên dải nền
màu xanh lam trong một vòng tròn đỏ chót. Trên khuôn mặt của
những hành khách đứng đợi trong sân ga hiện lên vẻ bồn chồn
chẳng khác gì những người sắp xuống tàu cả. Họ mặc những bộ
quần áo được cắt may sang trọng theo phong cách thị thành, thứ
cầu kì hơn nhiều so với áo quần ở làng Drayton, thuộc hạt Norfolk.
Grace đang run lên vì hồi hộp và háo hức. Cô nhìn sang người
bạn Viv ngồi bên cạnh, khẽ nói, “Chúng ta đến rồi.”
Cô bạn liền đóng nắp thỏi son lại khiến nó phát ra một tiếng
“cạch” rồi nở nụ cười tươi tắn trên đôi môi vừa tô son đỏ thắm. Viv
nhìn ra ngoài cửa sổ, lướt mắt qua những tấm biển quảng cáo chạy
dọc theo bức tường cong cong. Cô thoáng siết nhẹ tay Grace, “Sau
bao năm ước ao, cuối cùng chúng ta cũng đến London rồi. Chúng ta
đến rồi.”
Từ hồi hai người còn là thiếu nữ, Viv đã bắt đầu nung nấu ý định
rời khỏi ngôi làng Drayton buồn tẻ để lên thành phố tìm kiếm một
cuộc đời thú vị hơn. Việc rời bỏ những tháng ngày êm đềm, thân
thuộc chốn thôn quê rồi lao vào nhịp sống hối hả, náo nhiệt ở
London từng là một suy nghĩ hết sức điên rồ đối với họ. Nhưng
Grace đâu ngờ rằng một ngày nào đó, cô buộc phải chuyển đi chứ
không còn là lựa chọn muốn được đi nữa.
Nhưng rồi Drayton chẳng còn gì để Grace lưu luyến, hoặc ít nhất
cũng không còn gì khiến cô vương vấn mong được trở về.
Grace và Viv đứng lên khỏi chiếc ghế tàu hạng sang và với lấy
hành lý của mình. Mỗi người chỉ xách theo một cái vali đã bạc màu
và cũ rích vì bị xếp xó lâu ngày nhiều hơn là được đem ra dùng
thường xuyên. Cả hai cái đều bị nhồi nhét nhiều đến mức như thể
sắp vỡ bung ra. Chúng không chỉ nặng hơn cả tưởng tượng, mà còn
cồng kềnh nên rất khó mang theo, nhất là khi mỗi người còn phải
đeo trên vai những chiếc hộp đựng mặt nạ phòng độc. Theo lệnh
của chính phủ, tất cả người dân phải luôn mang theo thứ kinh khủng
ấy để tự vệ nếu chẳng may bị tấn công bằng khí ga.
Thật may vì phố Britton chỉ cách nhà ga hai phút đi bộ, hoặc cũng
có thể do bác Weatherford nói thế thôi.
Bác Weatherford vốn là bạn từ thuở thiếu thời với mẹ của Grace.
Năm ngoái, khi mẹ cô vừa qua đời, bà đã ngỏ lời mời Grace đến ở
chung vì nhà bà còn dư một phòng trống. Điều kiện thuê nhà của bà
cũng thật hào phóng - chẳng những miễn phí hai tháng để chờ
Grace tìm được việc làm, mà thậm chí sau đó tiền nhà còn có thể
giảm thêm. Mặc dù từ lâu Grace đã ao ước được đến London, và dù
Viv nhiệt tình động viên hết mình nhưng cô vẫn cố nán lại Drayton
thêm khoảng một năm nữa để nỗ lực chắp vá cuộc đời vỡ vụn của
mình.
Lúc đó, Grace vẫn chưa biết ngôi nhà đã gắn bó với cô từ lúc lọt
lòng thực ra thuộc về chú của cô. Lúc đó, ông chú vẫn chưa đưa bà
vợ hống hách cùng năm đứa con đến đây sống. Và lúc đó, cô vẫn
chưa biết hóa ra cuộc đời mình còn có thể tan nát hơn nữa.
Bà thím luôn sốt sắng đay nghiến rằng trong chính ngôi nhà từng
là của Grace bây giờ không còn chỗ nào dành cho cô nữa. Nơi một
thời là tổ ấm yêu thương và yên ủi giờ đã quay lưng ghẻ lạnh, hắt
hủi cô. Cuối cùng, khi bà thím gom đủ can đảm để đuổi đứa cháu
gái ra khỏi nhà thì cũng là lúc Grace nhận ra mình không còn sự lựa
chọn nào nữa.
Tháng trước, Grace đã viết thư cho bác Weatherford để hỏi xem
liệu cô còn có thể đến nhà bà ở được không. Đó là việc làm khó
khăn nhất trong cuộc đời Grace từ khi sinh ra đến giờ. Nó không
khác nào sự đầu hàng trước những nghịch cảnh mà cô phải trải qua,
một thất bại tồi tệ đầy đau đớn. Grace cảm giác hành động nhượng
bộ ấy chính là thất bại lớn nhất mà cô phải đối mặt.
Trước giờ Grace vốn không phải là người can đảm. Thậm chí đến
lúc này, cô vẫn băn khoăn không biết mình có thể tự xoay xở đến
được London không nếu như Viv không kiên quyết đi theo cùng.
Cảm giác bồn chồn siết chặt trái tim Grace trong lúc họ đợi những
cánh cửa kim loại lấp lánh của đoàn tàu mở ra, chào đón họ bước
lên hành trình khám phá một thế giới đầy mới mẻ.
Viv thì thào, “Mọi thứ sẽ tuyệt lắm. Sẽ tốt hơn ở quê nhiều, Grace
ạ. Tớ đảm bảo đấy.”
Những cánh cửa trượt tự động trên tàu điện rít lên rồi mở ra. Hai
cô gái đã đặt chân lên sân ga London. Xung quanh họ, dòng người
đang tất tả ngược xuôi. Rồi mấy cánh cửa đóng sập lại sau lưng họ,
làn gió lùa theo đoàn tàu tiếp tục chuyển bánh thổi bay mái tóc và
tà váy của hai nữ hành khách này.
Trên bức tường xa xa là tấm biển quảng cáo thuốc lá Chesterfield
với hình ảnh anh chàng cứu hộ điển trai đang mơ màng hút thuốc,
trong khi bên cạnh nó lại là tấm áp phích kêu gọi thanh niên London
lên đường nhập ngũ.
Đó không chỉ là dấu hiệu nhắc nhở rằng đất nước của họ sắp sửa
phải đối mặt với một cuộc chiến, mà còn đang cảnh báo họ sẽ càng
dễ gặp nguy hiểm hơn khi sống ở thành phố này. Vì nếu như Hitler
lăm le tấn công nước Anh, London rất có thể sẽ lọt ngay vào tầm
ngắm của hắn.
“Ôi Grace, nhìn kìa!” Viv reo lên.
Grace đang mải chăm chú nhìn tấm áp phích cổ động, nghe thấy
bạn gọi, cô liền đưa mắt về phía chiếc cầu thang bằng kim loại. Nó
từ từ chuyển động lên cao theo một băng chuyền vô hình rồi chợt
biến mất đâu đó bên trên mái vòm cong cong. Grace và Viv từ từ
tiến vào thành phố trong mơ của mình.
Tấm biển quảng cáo nhanh chóng trôi vào quên lãng khi hai cô
gái háo hức nhào lên chiếc thang cuốn, rồi cố kiềm lại sự phấn khích
khi nó nhẹ nhàng nâng họ lên cao, cao, cao mãi.
Đôi vai Viv rướn lên trong niềm hạnh phúc sắp sửa vỡ òa, “Chẳng
phải tớ đã nói với cậu là nơi đây tuyệt lắm sao?”
Cả người Grace lâng lâng vui sướng. Thế là sau ngần ấy năm ước
ao và ấp ủ, cuối cùng họ cũng đã đến London rồi đây.
Vậy là Grace đã thoát khỏi những lời chì chiết đay nghiến của ông
chú, còn Viv thì không còn phải chịu sự quản thúc nghiêm khắc của
bố mẹ nữa.
Mặc dù trong lòng Grace còn nhiều phiền muộn, nhưng cô và Viv
vẫn ào ra khỏi sân ga như những chú chim được tháo cũi sổ lồng,
sẵn sàng sải cánh bay vào bầu trời tự do.
Xung quanh họ là biết bao tòa nhà chọc trời, cao chót vót tới nỗi
Grace phải đưa tay lên che nắng mới nhìn thấy được đỉnh của
chúng. Vài cửa hàng gần đó chào đón hai cô gái lần đầu lên phố
bằng những bảng hiệu sơn màu rực rỡ, nào là tiệm bánh mì
sandwich, tiệm cắt tóc và cả cửa hàng dược phẩm nữa. Trên đường,
mấy chiếc xe tải và xe buýt sầm sập chạy xuôi ngược, bên hông
chiếc xe buýt còn sơn màu đỏ bóng lộn hệt như móng tay của Viv.
Tất cả những điều mà Grace có thể làm lúc này là cố túm lấy
cánh tay bạn mình và reo lên trước cảnh tượng trước mặt. Viv cũng
ngây người ra, mở to cặp mắt long lanh nhìn mọi thứ trong sự sửng
sốt. Hóa ra, cô cũng “nhà quê” chẳng khác gì Grace, mặc dù chiếc
váy Viv đang mặc trông khá hợp mốt và những lọn tóc nâu vàng của
cô được tạo kiểu vô cùng duyên dáng.
Grace thì không sành điệu như thế. Cô đã chọn bộ đầm đẹp nhất
cho một dịp đặc biệt thế này nhưng nó cũng chỉ dài qua gối một
chút với chiếc thắt lưng đen mảnh mai làm điểm nhấn ngay eo, phối
hợp hài hòa với đôi guốc đế thấp. Tuy không thời trang bằng kiểu
váy chấm bi đen trắng mà Viv đang mặc, nhưng chiếc đầm vải bông
màu xanh nhạt đã tôn lên đôi mắt xám và mái tóc hoe vàng của
Grace.
Dĩ nhiên bộ đầm này là Viv may tặng Grace. Nhưng không chỉ
dừng lại ở đó, Viv vẫn luôn nuôi dưỡng những khát khao lớn hơn
dành cho cả hai người họ. Họ đã cùng nhau dành hàng giờ để may
váy áo và uốn tóc, chăm chỉ đọc tạp chí Woman và Woman's Life
suốt nhiều năm trời để học hỏi về thời trang lẫn quy tắc xã giao lịch
thiệp, sau đó nỗ lực thay đổi bản thân để không còn ai nhận ra đây
là những cô gái Drayton quê mùa nữa.
Bây giờ, với đôi gò má cao và cặp mắt nâu long lanh, trông Viv
duyên dáng đến độ xứng đáng trở thành gương mặt trang bìa cho
những tạp chí này.
Họ hòa mình vào dòng người tất bật ngược xuôi, chuyển mớ hành
lý nặng trịch từ tay này sang tay kia trong lúc Grace dẫn đường đi về
phố Britton. May là trong lá thư gần nhất, bác Weatherford đã chỉ
đường rất tỉ mỉ nên họ cũng dễ dàng đi theo.
Tuy nhiên, trong thư tuyệt nhiên không nhắc đến bất cứ dấu hiệu
nào của chiến tranh.
Trên phố ngày càng xuất hiện nhiều quảng cáo. Một số cái kêu
gọi lớp thanh niên hãy làm tròn nghĩa vụ với đất nước. Một số khác
lại xúi giục mọi người cứ mặc kệ Hitler lẫn lời đe dọa của hắn và
thoải mái lên lịch nghỉ hè. Ngay bên kia đường, một bức tường xây
bằng nhiều bao cát đang bao quanh cánh cửa, với tấm biển màu
đen trắng thông báo rằng nơi này là chỗ Trú ẩn Không kích Công
cộng.
Đúng như hướng dẫn của bác Weatherford, họ đến được phố Britton
chỉ sau hai phút ngắn ngủi. Bây giờ, trước mặt họ là một ngôi nhà
phố bằng gạch có cánh cửa màu xanh lá, chiếc vòng gõ cửa bằng
đồng bóng loáng và một cái chậu trồng đầy hoa dạ yến thảo tím pha
trắng nằm bên cửa sổ. Theo những gì trong thư đã viết thì đây chắc
chắn là nhà bác Weatherford rồi, không thể nào nhầm được.
Và đây cũng chính là nhà mới của họ.
Viv háo hức bước lên những bậc thềm khiến những lọn tóc xoăn
nhún nhảy theo từng bước chân, rồi cô gõ nhẹ vào cánh cửa. Grace
cũng háo hức theo sau với niềm hi vọng tràn ngập trong lòng. Dẫu
sao đi nữa, bác Weatherford cũng là người bạn thân thiết nhất với
mẹ cô, và bác từng đến Drayton thăm hai mẹ con cô vài lần hồi
Grace còn nhỏ.
Tình bạn giữa mẹ của Grace và bác Weatherford bắt đầu từ khi
bác còn sống ở Drayton. Sau này, tuy bác đã chuyển đi nhưng tình
bạn đó vẫn tiếp tục duy trì và bền bỉ vượt qua nhiều biến cố - ban
đầu là Chiến tranh Thế giới thứ Nhất đã khiến hai người phụ nữ trở
thành quả phụ, và sau đó là cơn bạo bệnh đã quật ngã mẹ của
Grace.
Cánh cửa mở ra và bác Weatherford xuất hiện. Tuy bác nom có vẻ
già hơn hình ảnh trong kí ức của Grace nhưng dáng người bác vẫn
đầy đặn với đôi má bầu bĩnh ửng hồng và cặp mắt xanh sáng lấp
lánh. Bác đeo cặp kính tròn và mái tóc đen nhánh được buộc lại
bằng những sợi dây màu bạc lung linh. Bác đưa mắt nhìn Grace.
Bác có vẻ sửng sốt và đưa tay chạm nhẹ lên môi, “Grace, cháu
giống mẹ y như đúc vậy. Đôi mắt xám của cháu đẹp quá, hệt như
đôi mắt của Beatrice ngày xưa.” Rồi người phụ nữ mở rộng cửa ra,
bà mặc chiếc váy bông màu trắng, điểm xuyết mấy bông hoa thêu
màu xanh dương hài hòa với những chiếc cúc áo cùng màu. Đằng
sau bà là một lối vào nhỏ hẹp nhưng gọn gàng, với dãy cầu thang
dẫn lên tầng trên choán gần hết diện tích. “Nào, vào đi các cháu.”
Grace thì thào cảm ơn bác Weatherford vì lời khen vừa rồi nhưng
quả thật nó đã chạm vào nỗi nhớ thương người mẹ quá cố vẫn luôn
chực trào trong cô.
Cô xách vali qua ngưỡng cửa, bước vào một ngôi nhà ấm cúng,
nơi tỏa ra mùi thơm của rau và thịt. Nghĩ đến thôi cũng đủ khiến
Grace chảy nước miếng.
Từ ngày mẹ mất, cô chưa bao giờ có được bữa cơm nhà tử tế.
Đến một bữa tàm tạm cũng không. Thím của Grace vốn chẳng nấu
nướng gì mấy, còn Grace phải tất bật chuyện quản lý cửa hàng cho
chú nên chẳng còn thì giờ mà chuẩn bị thứ gì tươm tất.
Tấm thảm mềm mại dưới chân như nâng đỡ những bước đi của
Grace. Chiếc thảm có màu kem và trang trí những bông hoa nhàn
nhạt, tuy sạch sẽ nhưng hình như đã sờn vài mảng.
“Cháu là Vivienne?” Bà Weatherford lên tiếng khi Viv bước vào
cùng Grace.
“Bạn bè đều gọi cháu là Viv ạ.” Cô đáp, kèm theo nụ cười duyên
dáng đậm chất Viv có-một-không-hai.
“Hai đứa lớn lên đều xinh quá. Thằng con nhà bác chắc chắn sẽ
đỏ mặt cho xem.” Bà ra hiệu cho hai cô gái để hành lý xuống sàn rồi
gọi với lên chiếc cầu thang bằng gỗ bóng loáng. “Colin, xuống phụ
hai chị một tay để mẹ đi đun nước.”
“Colin có khỏe không ạ?” Grace lịch sự hỏi thăm.
Giống như Grace, Colin cũng là con một và đã trở thành đứa trẻ
mồ côi cha sau Chiến tranh Thế giới thứ Nhất. Tuy cậu nhỏ hơn
Grace hai tuổi nhưng họ đã chơi chung với nhau từ khi còn bé. Cô
thường đắm mình chìm trong hồi tưởng về những kỉ niệm thời thơ
ấu ấy. Colin lúc nào cũng dịu dàng, tử tế cùng với trái tim chân
thành ẩn sau đôi mắt thông minh sắc sảo.
Bà Weatherford bực bội vung tay lên. “Nó vẫn thích cứu mấy con
vật rồi lại ôm hết về nhà.” Miệng nói thế nhưng nụ cười lặng lẽ hiền
hậu của bà như thầm bảo rằng bà không phiền lòng lắm đâu.
Trong lúc chờ Colin, Grace tranh thủ ngắm nhìn hành lang một
chút. Cạnh cầu thang có đặt một chiếc bàn, trên bàn để chiếc điện
thoại đen bóng. Giấy dán tường là tấm vải xanh trắng bắt mắt, tuy
hơi bợt bạt nhưng hài hòa với mấy cánh cửa và các khung cửa sơn
trắng. Thiết kế đơn giản nhưng mọi thứ đều hoàn hảo, không thể
chê vào đâu được. Thật ra, Grace dám chắc cô sẽ khó lòng tìm được
một hạt bụi nào vương trên bất kì vật gì mà bạn của mẹ cô sở hữu.
Một tiếng cọt kẹt vang lên, theo sau là tiếng bước chân đi xuống
cầu thang, và rồi một anh thanh niên cao gầy xuất hiện. Trong trang
phục áo sơ mi kết hợp với quần tây nâu chững chạc, mái tóc đen
của anh được chải chuốt gọn gàng.
Chàng trai nở nụ cười bẽn lẽn, điều đó khiến nét mặt của anh trở
nên mềm mại hơn và trông anh trẻ trung hơn so với độ tuổi hai
mươi mốt của mình. “A, chị Grace.”
“Colin?” Grace thốt lên, không tin vào mắt mình. Mặc dù ngày
trước cô đã từng cao hơn anh, nhưng giờ đây anh đã cao vượt cô
rồi.
Chàng trai liền đỏ mặt.
Phản ứng của Colin thật đáng yêu, nó khiến Grace cảm thấy thân
thương vì cô biết sau ngần ấy năm xa cách, người bạn thời thơ ấu
của mình vẫn không mất đi vẻ dịu dàng.
Grace ngước nhìn Colin, “Em đã lớn hơn nhiều kể từ lần cuối mình
gặp nhau rồi đấy.”
Chàng trai trẻ nhún đôi vai gầy trông thật bẽn lẽn rụt rè, rồi sau
đó anh quay qua gật nhẹ đầu chào Viv. Viv cũng là người bạn
thường chơi đùa với cậu hồi bé bởi vì hai cô gái này lúc nào cũng
quấn quýt bên nhau. “Mừng chị đến London, Viv ạ. Mẹ con em
mong chị lắm.” Cậu quay sang Grace cười toe toét, rồi cúi xuống
nhấc hai chiếc vali mà hai cô gái này đã đặt sang một bên. Colin hơi
ngần ngại, “Em mang cái này lên cho hai chị được không?”
“Ừ, giúp chị nhé. Cảm ơn em.” Viv đáp.
Colin gật đầu rồi mỗi tay xách một chiếc, nhẹ nhàng mang chúng
lên tầng.
“Cháu còn nhớ Colin không?” Bà Weatherford hỏi.
“Dạ nhớ.” Grace đáp. “Em nó trước giờ vẫn tốt bụng.”
“Chỉ có điều cao ngồng lên rồi.” Viv tiếp lời.
Bà Weatherford nhìn lên cầu thang với ánh mắt trìu mến như thể
bà vẫn nhìn thấy bóng dáng con trai mình, “Nó là một chàng trai tử
tế. Nào, bây giờ chúng ta đi uống trà, uống trà xong rồi bác dắt tụi
con đi vòng vòng coi nhà.”
Bà chủ nhà ra hiệu cho hai cô gái trẻ đi theo và đẩy cánh cửa dẫn
vào một gian bếp. Ánh sáng tràn vào từ ô cửa sổ phía trên bồn rửa
và từ cánh cửa sau, rồi xuyên qua những tấm rèm trắng mỏng manh
đang hé mở. Mọi thứ trong căn bếp khiêm tốn này cũng mới tinh
tươm y như ở hành lang. Ánh nắng rọi lên các mặt bàn sạch sẽ
trắng tinh, vài chiếc đĩa được xếp gọn gàng trên giá để hong khô.
Mấy chiếc khăn màu vàng chanh được mắc lên một cái giá. Nhưng
hấp dẫn hơn cả chính là mùi thơm của món gì đó mà bà
Weatherford đang nấu trên bếp lúc này.
Bà chỉ tay về phía một chiếc bàn nhỏ có bốn chiếc ghế màu trắng
cho Grace và Viv ngồi, sau đó bà nhấc ấm đun nước ra khỏi bếp.
“Chú của con đòi lại nhà đúng lúc quá nhỉ, ngay khi cuộc chiến sắp
đổ lên đầu chúng ta.” Bà cho chiếc ấm vào bồn rửa và mở vòi nước.
“Và như vậy mới đúng là Horace,” giọng bà thể hiện sự khinh ghét
rõ ràng, còn nước vẫn cứ tiếp tục chảy ra xối xả. “Beatrice đã lo lắng
sớm muộn gì ổng cũng sẽ làm vậy, nhưng không ngờ mẹ con đổ
bệnh đột ngột quá…”
Bà Weatherford đang để ý mực nước trong ấm nhưng vẫn liếc
sang nhìn Grace. “Lẽ ra bác không nên càm ràm mấy chuyện này.
Các cháu vừa từ xa đến đây mà. Bác rất mừng khi có hai đứa ở đây.
Bác chỉ ước gì hoàn cảnh sáng sủa hơn một chút.”
Grace cắn môi, lúng túng không biết nói gì.
“Nhà của bác dễ thương quá!” Viv nhanh ý đỡ lời.
Grace quay qua nhìn cô bạn với ánh mắt đầy biết ơn. Viv liền đáp
lại bằng cái nháy mắt đầy ẩn ý.
“Cảm ơn cháu.” Người phụ nữ lớn tuổi tắt vòi nước và mỉm cười
nhìn quanh gian bếp đầy nắng. “Mấy đời nhà Thomas của bác đều ở
đây, tuy không còn tốt như lúc đầu nhưng sống tạm thì vẫn được.”
Grace và Viv cùng thả mình xuống ghế. Chiếc đệm lót in hình trái
chanh rất mỏng nên họ có thể cảm nhận được mặt gỗ cưng cứng
bên dưới. “Tụi cháu rất biết ơn vì bác đã cho tụi cháu ở lại đây. Bác
tốt bụng quá.”
“Cháu đừng khách sáo.” Bà Weatherford đặt chiếc ấm lên bếp và
xoay núm để bật lửa. “Bác có thể làm tất cả cho đứa con gái của
người bạn thân thiết nhất với bác.”
“Bác nghĩ tìm việc có khó lắm không ạ?” Viv hỏi. Mặc dù cô đã cố
giữ giọng mình thật nhẹ nhàng, nhưng Grace biết từ lâu bạn mình
đã khao khát được làm nhân viên trong cửa hàng đến nhường nào.
Thực lòng thì ý tưởng đó cũng rất thu hút Grace. Viễn cảnh được
làm việc trong một cửa hàng bách hóa, nơi vừa to vừa đẹp như
Woolworths với những tầng lầu chứa đầy hàng hóa trải dọc suốt cả
dãy nhà thật hấp dẫn biết bao.
Bà Weatherford mỉm cười bí ẩn, “Tình cờ là bác quen biết khá
nhiều chủ cửa hàng ở London này. Bác tin bác có thể giúp được các
cháu. Colin cũng đang làm việc ở Harrods. Nó có thể nói giúp hai
cháu vài lời.”
Mắt Viv sáng lên và cô vô cùng phấn khởi lặp lại tên cửa hàng đó
với Grace.
Bà Weatherford lấy chiếc khăn màu vàng, nhấc một chiếc đĩa ra
khỏi giá rồi lau sạch vài giọt nước còn đọng trên đó, “Bác phải nói
rằng trông hai cháu không hề giống như mới từ Drayton lên chút
nào.”
Viv nghiêng cằm cao hơn một chút, “Cháu cảm ơn bác. Tụi cháu
chắc chắn sẽ cố gắng làm việc. Cháu hi vọng điều đó sẽ giúp chúng
cháu dễ xin vào làm hơn.”
Bà Weatherford mở tủ để cất chiếc đĩa vào trong, “Tốt quá. Chắc
là cháu đã chuẩn bị thư giới thiệu rồi chứ hả?”
Trước khi đến London, Viv đã mượn chiếc máy đánh chữ và dành
cả ngày để tự soạn cho mình một lá thư giới thiệu chỉn chu. Cô còn
đề nghị làm luôn cho Grace một cái nhưng Grace từ chối.
Bà Weatherford quay lại để tiếp tục lau khô mấy cái đĩa. Viv
nhướng mày nhìn bạn như thầm nói đáng lẽ lúc đó Grace nên đồng
ý để cô giúp.
“Chúng cháu đều có thư giới thiệu ạ.” Viv tự tin trả lời thay cho cả
hai, rõ ràng cô đã dự tính được cách làm thêm một lá thư nữa cho
Grace.
Grace đính chính, “Viv thì có nhưng cháu thì không ạ. Thật xui
xẻo vì ông chú không chịu viết thư giới thiệu cho cháu, dù bao lâu
nay cháu đã làm cho cửa hàng của ông ấy.”
Đó là hành động nhẫn tâm cuối cùng của người chú nhằm trả đũa
việc Grace đã “rời bỏ cửa hàng” mà cô đã nai lưng làm suốt một thời
gian dài. Dường như ông không đếm xỉa đến việc vợ ông khăng
khăng đuổi Grace ra khỏi nhà mà chỉ cay cú chuyện đứa cháu gái
không còn ở đây để tùy ông sai khiến nữa.
Chiếc ấm rít lên một tiếng chói tai và luồng hơi nước xộc ra từ vòi
ấm. Bà Weatherford nhanh chóng dập tắt tiếng kêu ấy bằng cách
nhấc ấm xuống khỏi bếp và đặt lên cái kiềng ba chân.
Bà xúc một thìa đầy lá trà cho vào quả lọc trà rồi chế nước sôi
vào ấm, miệng trách cứ, “Thật nhẫn tâm, quá nhẫn tâm.” Bà lẩm
bẩm điều gì đó về chú Horace và đặt ấm trà lên một cái khay bạc,
bên cạnh ba chiếc tách, hộp đường và kem. Bà cau mày nhìn Grace
với vẻ bất lực, “Nếu không có thư, họ sẽ không nhận cháu vào làm
đâu.”
Grace nghe lòng mình chùng xuống. Đáng lẽ cô nên đồng ý để
Viv làm giả một bức thư cho rồi.
“Nhưng bác nghĩ ra một chỗ này. Cháu có thể đến đó làm tạm
nửa năm để lấy thư giới thiệu hợp lệ.” Bà Weatherford từ tốn nói
tiếp trong lúc bưng chiếc khay lên bàn và rót cho mỗi người một
tách trà nóng.
“Cho dù bác định giới thiệu việc gì thì cậu ấy cũng là ứng viên
tuyệt nhất.” Viv xúc một cục đường trong bát rồi thả vào tách trà.
“Hồi đi học Grace lúc nào cũng đạt điểm cao nhất lớp. Một tay bạn
ấy đã quản lý nguyên cửa tiệm của chú mình và nhờ vậy nó làm ăn
phát đạt hẳn lên.”
“Cho nên bác nghĩ việc này sẽ xuôi chèo mát mái thôi.” Bà
Weatherford nhấp một ngụm trà.
Có thứ gì đó thúc vào chân Grace. Cô nhìn xuống, hóa ra là một
chú mèo mướp con đang ngước nhìn cô bằng cặp mắt to tròn màu
hổ phách với vẻ nài nỉ.
Grace vuốt ve lớp lông mềm mại phía sau tai chú mèo con và
nghe tiếng nó “rừ… rừ” thích thú. “Thì ra bác có nuôi một con mèo.”
“Chỉ mới mấy ngày thôi, mong là cháu không thấy phiền.” Bà
Weatherford xua tay định đuổi con mèo đi nhưng nó vẫn bướng bỉnh
nằm lì bên chỗ Grace.
“Cái con mèo tinh ranh này nhất quyết không rời khỏi nhà bếp
mỗi khi nó ngửi thấy mùi đồ ăn.” Bà Weatherford ném cho con vật
nhỏ bé cái nhìn bực bội nhưng nó nhìn lại bà bằng cặp mắt ngây
thơ, không hề tỏ chút áy náy. “Colin là người hùng đối với mấy con
vật. Bác mà cho phép nó nuôi hết những con thú bị thương nó mang
về nhà, thì dám chừng chúng ta sẽ có một sở thú đấy.” Tiếng cười
của bà cắt ngang làn hơi nước bốc lên từ tách trà.
Con mèo nằm ngửa lên sàn, để lộ mảng lông hình ngôi sao màu
trắng trên ngực. Grace gãi gãi vào chỗ lông đó, rồi cô nghe thấy
tiếng “rừ… rừ” của nó nhịp nhàng đều đặn dưới ngón tay mình. “Bác
đặt tên cho nó là gì ạ?”
“Tabby.” Bà Weatherford vừa đáp vừa hài hước đảo mắt. “Con trai
bác giỏi giải cứu hơn là đặt tên cho tụi nó.”
Như thể được gọi đến, vừa nhắc một cái là Colin đã bước vào
bếp. Tabby liền đứng lên, chạy lon ton đến bên vị cứu tinh của nó.
Colin nâng chú mèo con lên bằng đôi bàn tay to lớn. Cử chỉ của anh
thật dịu dàng và con vật nhỏ bé nũng nịu rúc vào người anh.
Lần này, người bị bà Weatherford đuổi đi chính là Colin, “Mang nó
ra khỏi bếp cùng đi.”
“Con xin lỗi mẹ.” Colin vội vàng mỉm cười hối lỗi với Grace và Viv
rồi cúi đầu, ôm con mèo trên ngực và đi ra khỏi phòng.
Bà mẹ lắc đầu với vẻ thích thú trìu mến khi nhìn cậu con trai đi
khỏi. “Để bác ghé qua chỗ ông Evans rồi gửi gắm cháu ở chỗ ông
ấy.” Bà ngồi lại xuống ghế, chăm chú nhìn ra vườn rồi buông một
tiếng thở dài.
Grace nhìn ra cửa sổ. Một cái hố sâu nằm chình ình trên mặt đất,
bên cạnh nó là đống hoa u sầu bị bật gốc và một chồng những tấm
có vẻ như là tấm nhôm. Rất có thể người ta đang chuẩn bị đào hầm
trú ẩn ở đó.
Ở làng Drayton, Grace chưa bao giờ thấy những thứ như vậy vì
nơi đó ít có nguy cơ bị giội bom, nhưng cô nghe phong thanh rằng
người ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho một vài thành phố. Những hầm
trú ẩn nhỏ sẽ được đào trong vườn, phòng khi Hitler đánh vào nước
Anh.
Cảm giác sợ hãi chạy dọc sống lưng Grace. Sau bao lần nỗ lực để
đặt chân đến London, cuối cùng họ lại tới đúng lúc cuộc chiến sắp
bùng nổ. Bây giờ, nơi này đang nằm trong tầm ngắm chính của các
vụ đánh bom.
Nhưng họ cũng không thể quay về Drayton được nữa. Grace thà
bất chấp hiểm nguy để trụ lại nơi mà cô hằng ước ao còn hơn là trở
về để chịu đựng sự thù ghét của người chú.
Viv tò mò ngó ra cửa sổ và ngay lập tức nhìn
 





