Video sự tích cây nêu đất
TƯỚNG LĨNH VIỆT NAM THẾ KỶ 20 QUA LỜI KỂ NGƯỜI THÂN.pdf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Dương Thị Thanh Tuyến
Ngày gửi: 09h:27' 18-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Dương Thị Thanh Tuyến
Ngày gửi: 09h:27' 18-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
TƯỚNG LĨNH VIỆT NAM THẾ KỶ XX QUA LỜI KỂ CỦA
NGƯỜI THÂN
---❊ ❖ ❊--Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Phát hành: ThaiHaBook
Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân
Nguồn text: Waka
Đóng gói: @nguyenthanh-cuibap
ebook©vctvegroup
Lời Cảm Ơn
Cuốn sách "Tướng lĩnh Việt Nam thế kỷ XX qua lời kể của người thân"
được Công ty Cổ phần Sách Thái Hà và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức.
Trước hết, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ của các
gia đình tướng lĩnh. Nếu không có sự quan tâm, góp ý và động viên chân
thành từ thân nhân của các tướng lĩnh, chúng tôi khó lòng biên soạn được
cuốn sách này. Không chỉ gửi bài viết và ảnh tư liệu để đóng góp cho cuốn
sách, các gia đình đã có những gợi ý thiết thực và cung cấp những thông tin
quý báu để chúng tôi có thể tiếp cận các nguồn tư liệu và gặp gỡ các nhân
chứng lịch sử.
Chúng tôi đặc biệt bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với ông Hoàng Anh Tuấn
(cháu trai Đại tướng Hoàng Văn Thái), ông Phạm Hồng Minh (con trai Trung
tướng Phạm Hồng Sơn) và ông Trần Kiến Quốc (con trai Thiếu tướng Trần
Tử Bình) - họ đã ủng hộ nhóm biên soạn ngay từ những ngày đầu, cung cấp
những thông tin hết sức có giá trị và truyền cảm hứng cho nhóm biên soạn
trong suốt quá trình thực hiện cuốn sách này.
Nhóm biên soạn cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban biên tập ảnh thuộc
Thông tấn xã Việt Nam đã nhiệt tình cung cấp một số hình ảnh minh họa
trong sách.
Cuối cùng, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của độc giả để
cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong những lần in sau.
Thay mặt nhóm biên soạn
TS. Nguyễn Mạnh Hùng
Lời Nhà Xuất Bản
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã lập nên
nhiều chiến công hiển hách, giữ vững non sông bờ cõi Việt Nam. Trong thế
kỷ XX, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc chiến tranh giành độc lập
dân tộc, đó là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược.
Cùng với sức mạnh của toàn Đảng, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
Quân đội nhân dân Việt Nam đã trực tiếp góp phần làm nên một Điện Biên
Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" đặt dấu chấm hết cho ách đô hộ
của thực dân Pháp đối với nước ta; đó là Đại thắng mùa Xuân 1975, mà đỉnh
cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất nước nhà.
Những chiến công và thành tích vẻ vang của quân đội ta bắt nguồn từ sự
lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh mà thường
xuyên và trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; trong đó có phần
đóng góp công sức, xương máu của lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong
toàn quân.
Trong khói lửa chiến tranh, trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng
thành của quân đội đã xuất hiện nhiều lớp cán bộ điển hình, mẫu mực, có
trình độ chỉ huy, tác chiến giỏi; luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm
vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Nhiều đồng chí trở thành sĩ quan cấp
tướng trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những chiến công, những bài học về nghệ thuật quân sự, về cách đánh mà
các vị tướng để lại được phản ánh trong rất nhiều sách đã được xuất bản. Bộ
sách "Tướng lĩnh Việt Nam thế kỷ XX qua lời kể của người thân" do Nhà xuất
bản Quân đội nhân dân phối hợp cùng
Công ty Cổ phần Sách Thái Hà xuất bản và phát hành sẽ góp thêm một
góc nhìn mới về chân dung các vị tướng trong những khoảnh khắc đời
thường, về những điều mà chỉ có người thân của họ mới được chứng kiến.
Tập 1 của bộ sách được xuất bản lần này giúp bạn đọc tìm hiểu về cuộc
sống đời thường của 15 trong số các vị tướng được thụ phong trong thời kỳ
chiến tranh giải phóng. Tư liệu về quá trình hoạt động cách mạng, công tác
và trong cuộc sống đời thường của các vị tướng rất phong phú, sâu sắc.
Những câu chuyện được kể thông qua người thân là những kỷ niệm không
quên, ấn tượng sâu sắc, tình cảm thân thương... song đã diễn ra từ rất lâu rồi,
nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Dù vậy, cuốn sách cũng cung cấp cho
bạn đọc những tư liệu để tham khảo.
Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, phê bình của người thân,
gia đình các vị tướng cùng các đồng chí và bạn đọc gần xa.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc!
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Lời Nói Đầu
Tôi may mắn được đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần từ
năm 1995. Một thực tế là tôi đã học được rất nhiều từ vị Tổng tư lệnh đa tài,
khiêm tốn, bản lĩnh, dễ gần. Những bài học chúng tôi mang áp dụng vào quản
trị doanh nghiệp cũng như cuộc sống và thấy rằng rất tuyệt vời. Hóa ra nghệ
thuật chiến tranh với nghệ thuật kinh doanh, nghệ thuật sống rất gần nhau và
có rất nhiều điểm tương đồng.
Từ những lần đến thăm Đại tướng, tôi thật may mắn được biết đến các anh
chị Võ Điện Biên, Võ Hồng Nam, Võ Hồng Anh, Võ Hạnh Phúc, Võ Hòa
Bình. Tôi lại may mắn học được thật nhiều từ những người con tuyệt vời của
Đại tướng.
Rồi sau này tôi may mắn biết đến và có dịp gặp gỡ, trao đổi, học hỏi từ
các anh Chu Thế Sơn, con trai Đại tướng Chu Huy Mân; Văn Tiến Huấn, con
trai Đại tướng Văn Tiến Dũng; Hoàng Quốc Trinh, con trai Đại tướng Hoàng
Văn Thái; Lê Đông Hải, con trai Đại tướng Lê Trọng Tấn,… Những câu
chuyện được nghe các anh kể lại về cha của mình làm cho tôi trưởng thành
rất nhiều. Tôi cũng mang những bài học quý giá từ các vị tướng nổi tiếng áp
dụng vào cuộc sống, quản trị doanh nghiệp và thấy quá tuyệt vời.
Chúng ta đã bước vào những ngày đầu tiên của năm 2015, một năm có rất
nhiều sự kiện quan trọng: 40 năm ngày thống nhất đất nước, 70 năm ngày
Quốc khánh nước Việt Nam. Nhiều lần thầy trò chúng tôi bàn bạc về các đề
tài sách sẽ xuất bản trong năm nay và một trong các đề tài tạo hứng thú cho
chúng tôi chính là các vị tướng tài năng. Chúng tôi nghĩ về sự kiện quan
trọng: Ngày 28 tháng 5 năm 1948, lễ phong tướng đầu tiên được tổ chức tại
Việt Bắc. Có 1 Đại tướng, 1 Trung tướng và 9 Thiếu tướng được phong.
Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 11 vị tướng đầu tiên. Sau này còn có
những vị tướng khác được phong trong chiến tranh giải phóng. Chúng tôi
thấy rằng mỗi vị đều có những tài năng khác nhau, những công lao to lớn
khác nhau, đó là sự hội tụ những giá trị nghệ thuật quân sự đáng để mỗi
chúng ta học tập và phổ biến.
Do quỹ thời gian cũng như khả năng còn rất hạn chế, chúng tôi quyết định
chỉ tìm hiểu về những vị tướng từng tham gia chiến tranh giải phóng. Hơn thế
nữa, chúng tôi chưa có ý định xuất bản ngay sách về cuộc đời và sự nghiệp
của những vị tướng tài ba này mà muốn khai thác một khía cạnh nhỏ: Những
vị tướng qua lời kể của người thân. Theo chúng tôi, người thân của các tướng
lĩnh gồm cả gia đình và bạn bè, đồng chí thân thiết.
May mắn đã mỉm cười với chúng tôi khi chúng tôi đã liên lạc được và
nhận được bài viết, thông tin từ 15 gia đình tướng lĩnh. Những cuộc gặp gỡ
trực tiếp, qua điện thoại và email với các thành viên của 15 gia đình đã giúp
chúng tôi có nhiều tư liệu quý, nhiều câu chuyện vô cùng có giá trị cung cấp
cho bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo. Chúng tôi thành tâm biết ơn các bác,
các anh, các chị đã hết sức nhiệt tình và tin tưởng để giúp chúng tôi hoàn
thành bản thảo cuốn sách này.
Về cách xếp thứ tự các vị tướng trong sách, chúng tôi có nhiều băn khoăn.
Thường thì danh sách được xếp theo vần chữ cái ABC. Tuy nhiên, chúng tôi
thấy chưa ổn. Cũng có cách xếp thứ tự theo năm sinh của các vị tướng, rồi
cách xếp theo cấp hàm,… Cuối cùng chúng tôi quyết định chọn cách xếp theo
năm phong hàm. Cách xếp thứ tự này có thể chưa phải là tốt nhất nhưng
chúng tôi cũng chưa tìm ra cách xếp tốt hơn.
Cuốn sách được xuất bản ngay trước thềm năm mới âm lịch Quý Mùi
2015. Chúng tôi tin rằng bạn đọc sẽ học được rất nhiều từ những câu chuyện
rất mộc mạc, giản dị nhưng ý nghĩa này. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là tập 1
của bộ sách. Chúng tôi kính mong nhận được thông tin từ người thân của các
vị tướng còn lại để có thể xuất bản nhân dịp 02-09-2015 tới. Mọi thông tin
xin được gửi về daivt@thaihabooks.com và publication@thaihabooks.com.
Cuốn sách không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy chúng tôi kính
mong nhận được sự góp ý của quý vị và bạn đọc để có thể hoàn thiện nội
dung trong lần tái bản tới.
TS. Nguyễn Mạnh Hùng
Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Thái Hà Books
1
Thiếu Tướng Lê Thiết Hùng
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (1908 - 1986) tên thật là Lê Văn Nghiệm,
quê xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia cách
mạng từ năm 1925, vào Đảng năm 1930, nhập ngũ năm 1944, được phong
Thiếu tướng năm 1946.
Năm 1925, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Việt Nam
Thanh niên Cách mạng đồng chí hội).
Từ năm 1940 đến năm 1945, ông tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố ở
Trung Quốc, về nước hoạt động ở Chiến khu Cao - Bắc - Lạng, tổ chức và
làm Chính trị viên Đội vũ trang đặc biệt; Giám đốc đầu tiên của Trường Quân
sự Cao Bằng.
Tháng 8 năm 1945, ông chỉ huy lực lượng vũ trang giành chính quyền ở
Thất Khê, Đồng Đăng, Na Sầm.
Cuối năm 1945, ông làm Khu trưởng Khu 4.
Tháng 3 năm 1946, ông là Tổng chỉ huy Quân tiếp phòng.
Từ năm 1948 đến năm 1950, Thiếu tướng Lê Thiết Hùng làm Tổng thanh
tra quân đội; chỉ huy mặt trận Bắc Kạn, Tuyên Quang; Hiệu trưởng Trường
bổ túc Quân chính trung cấp.
Giai đoạn 1950 - 1954, ông đảm nhiệm chức Hiệu trưởng Trường Lục
quân; Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu. Giai đoạn 1956 1963, ông làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Pháo binh.
Năm 1963, ông làm Đại sứ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại
Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên.
Tháng 5 năm 1970, ông làm Phó Ban Đối ngoại Trung ương.
Ông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương
Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến
thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...
(Nguồn: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam,
NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, trang 599)
Phụ tử tình thâm
Vũ Trọng Đại
Một chiều mùa đông tháng 12, chúng tôi đến gặp cô Lê Mai Hương ở nhà
riêng nằm giữa phố Trần Hưng Đạo. Đây cũng là nơi tướng Lê Thiết Hùng ở
khi còn sinh thời. Cô đón chúng tôi vẫn với nụ cười dễ mến, giọng nói nhỏ
nhẹ, tình cảm như lần gặp đầu tiên trước đó nửa tháng. Cô khẽ khàng đi pha
trà, rót nước mời khách, và giọng nói chợt xa xôi khi hồi tưởng về người cha
của mình.
Lê Mai Hương là con duy nhất của Thiếu tướng Lê Thiết Hùng với người
vợ thứ hai, bác sĩ quân y Nguyễn Tuyết Mai. Hai người kết hôn năm 1948,
một năm sau ngày mất của người vợ đầu là bà Hồ Diệc Lan, con gái nhà cách
mạng Hồ Học Lãm. Bà Hồ Diệc Lan qua đời ở tuổi 27 vì nhiễm bệnh phổi
quá nặng, khi đó họ chưa kịp có với nhau mặt con nào. Vợ chồng Thiết Hùng
- Tuyết Mai hẹn ước rằng khi nào cách mạng thắng lợi mới sinh con. Thế
nhưng cuộc kháng chiến kéo dài đằng đẵng. Người ngoài cũng phải sốt ruột,
giục giã vì mãi không thấy vợ chồng tướng Hùng sinh con. Cuối cùng phải
đến 10 năm sau ngày cưới, bé gái Lê Mai Hương cũng đã chào đời sau bao
mong mỏi, trông chờ.
Trong thời chiến, dù đang ở hậu phương, người ta cũng khó có thể có
được cuộc sống bình yên như lẽ thường, nhất là trong gia đình của một vị
tướng. Hàng ngày tướng Lê Thiết Hùng đi làm về rất khuya, thường 11, 12
giờ đêm mới về đến nhà. Bà Mai đi làm ở xa, chỉ tối thứ năm, tối thứ bảy mới
về, chủ nhật lại vội vã đi. Bé Hương ở nhà với bà nội và một người bác,
nhưng không được ở gần bố. Lớn lên Lê Mai Hương mới biết mọi người
trong nhà không cho cô con gái nhỏ gần bố để giữ sức khỏe cho tướng Lê
Thiết Hùng. Ông yếu đi nhiều sau lần lái xe bị tai nạn những năm trước đó:
chấn thương nặng và phải nằm viện suốt 6 tháng trong tình trạng mất trí nhớ.
Di chứng của vụ tai nạn ấy đeo đẳng ông đến hết cuộc đời. Thêm nữa, công
việc lúc nào cũng bề bộn. Bé Hương không biết gì, đêm đến đợi người lớn
ngủ lại len lén lên gác ngủ với bố. Còn tướng Lê Thiết Hùng thì cứ thao thức
chờ con.
Nỗi xúc động dâng lên nghẹn lời, cô Hương dừng lại hồi lâu. Đang lúi húi
ghi chép, tự nhiên bặt tiếng, tôi ngẩng lên nhìn, thấy cô ngồi ngay đó, trước
mặt tôi, im lặng. Dường như cô đang cố kiềm chế cảm xúc của mình, nhưng
nước mắt đã trào ra rưng rưng trên khóe mắt.
Ở cái tuổi tri thiên mệnh mới có mụn con nên tướng Lê Thiết Hùng
thương và cưng chiều con gái lắm. Còn nhớ những ngày ông tham gia chỉ
huy chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ sau khi chiếm được đồi A1, bắt được
tướng De Castries, vừa vì mừng vui, hạnh phúc, vừa vì căng thẳng dồn nén
mà ông ngất đi, bất tỉnh suốt 7 ngày. Sau này, ông được đi nghỉ ở Sochi (Liên
Xô) một tháng để hồi phục sức khỏe. Trong đoàn cùng đi chuyến này với ông
có bà Bảy Huệ, vợ ông Nguyễn Văn Linh. Những người khác khi về lo sắm
sửa mua quà cho người thân, còn ông để dành được ít rúp lẻ thì ngoài bánh
kẹo cho mẹ, ông chỉ mua quà cho con: một cái máy khâu tay cho trẻ con, một
con búp bê và một cái xe đạp 3 bánh. Ông hầu như không bao giờ quát mắng
con, cũng không tiếc con bất kỳ thứ gì, thậm chí bỏ cả súng, tháo cả đạn cho
con chơi. Cô bé hạnh phúc trong vòng tay cha, nhưng sẽ sớm biết điều đang
chờ phía trước: Chiến tranh và chia ly.
Năm 1964, Lê Mai Hương lên 6, cũng là lúc Mỹ tiến hành chiến tranh phá
hoại miền Bắc. Bé Hương về quê sơ tán. Trước đó, năm 1963, tướng Lê Thiết
Hùng nhận nhiệm vụ mới: ông chuyển sang ngành ngoại giao, làm Đại sứ của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Triều Tiên cho đến năm 1970. Kể từ
đó mỗi năm bé Hương chỉ gặp được bố một lần, có năm không gặp được lần
nào. Khi về nước, tranh thủ được giờ nào là ông Hùng chỉ chơi với con: cho
con đi công viên, làm ngựa cho con cưỡi… Năm 1969, Lê Mai Hương học
lớp 5, cô được bố cho sang Triều Tiên ba tháng. Hai bố con đi tàu. Trên
đường đi qua Trung Quốc, ông Hùng kể cho con nghe về Mao Trạch Đông và
cách mạng Trung Quốc. Tới các nhà ga, từ xa bé Hương thấy những tiểu
Hồng vệ binh tươi cười vẫy chào đoàn tàu đang tới. Họ cầm những cái rổ. Bé
Hương reo lên: "Bố ơi bố, người ta cho kẹo kia kìa". Ông Hùng nói:
"Thế à, họ cho kẹo cơ à". Đến gần mới biết là họ phát huy hiệu Mao Trạch
Đông. Ông Hùng cười vui vẻ: "Con bé này đúng là tham ăn thật". Ông lấy
mấy cái huy hiệu cài lên ngực con. Thế rồi hai bố con lại nói chuyện về Mao
Trạch Đông.
Giọng cô Hương cứ tươi vui dần theo những kỷ niệm chơi đùa cùng bố, để
rồi tiếng cười vỡ òa ra trong trẻo khi kể về những câu chuyện trong chuyến
hành trình sang Triều Tiên. Nhưng giọng cô chùng lại: đến biên giới Trung
Quốc - Triều Tiên, một sự cố xảy ra khiến vị Đại sứ không thể vui vẻ được
nữa.
Tại Tân Nghĩa Châu (Sinuiju), thành phố kề bên sông Áp Lục ở biên giới
Trung - Triều, Đại sứ Lê Thiết Hùng biết tin một nữ sinh viên năm thứ hai
người Việt ở đây buổi sáng tập thể dục nhưng lên cơn đau tim, ngất xỉu, được
đưa đi cấp cứu nhưng không kịp nên đã qua đời. Ông buồn lắm. Đưa con gái
đến Bình Nhưỡng, ngay ngày hôm sau ông quay lại Tân Nghĩa Châu để viếng
nữ sinh viên xấu số. Ông khóc mãi vì thương sinh viên của mình mất khi còn
trẻ quá, lại ở xa gia đình, xa người thân.
Đại sứ Lê Thiết Hùng được ông Kim Nhật Thành (khi đó là Thủ tướng) và
các Phó Thủ tướng quý mến. Thế nên lưu học sinh Việt Nam ở Triều Tiên
được ưu ái, được chu cấp tiền bạc, ăn uống đầy đủ. Đại sứ Lê Thiết Hùng với
tâm huyết lớn lao dành cho Tổ quốc nên đặt kỳ vọng vào các bạn trẻ. Ông
muốn họ dành tâm sức vào việc học tập để sau này về cống hiến cho đất
nước. Thế nhưng ông không biết tâm lý của họ cũng muốn dành dụm được
chút ít trong thời gian du học. Ông kiên quyết là tiền nước bạn cho chỉ để lưu
học sinh của ta ăn uống thật tốt, có sức khỏe để còn học tập, thế nên lưu học
sinh khi đó ở Triều Tiên chẳng mua sắm được gì nhiều nhặn khi về nước. Họ
cảm thấy không được vui.
Cuối năm 1969, ông Lê Thiết Hùng thôi làm Đại sứ và về Việt Nam. Về
nước, lập tức ông lại cuốn vào công việc. Ngày thường cứ đến nửa đêm, có
sớm cũng là 9 giờ tối ông mới về đến nhà. Bà Mai cũng vậy nên có tuần bé
Hương không gặp bố mẹ mình vì đi ngủ rồi thì bố mẹ mới về. Đến năm 1973,
ông Lê Thiết Hùng bị một cơn nhồi máu cơ tim nhưng rất may bà Mai là bác
sĩ giỏi nên phát hiện kịp thời, đề nghị tổ y tế cấp cứu tại chỗ chứ không đưa
vào bệnh viện. Ông bất tỉnh suốt ba ngày. Bộ Chính trị lo lắm, mọi người ai
cũng nói: "Anh ấy đi chiến trường bao nhiêu năm, vào sinh ra tử mấy lần mà
không chết, lúc này không thể để anh ấy chết được". Thế rồi ông cũng qua
khỏi. Song người ta tiên liệu rằng ông chỉ còn sống được hai năm nữa. Nhờ
thế, công việc của ông cũng giảm được đôi chút, nhưng lại trở về guồng quay
cũ cho đến khi giải phóng miền Nam năm 1975. Năm 1975, Lê Mai Hương
vào đại học, ở trong trường nên một, hai tuần mới về nhà một lần. Trong
hoàn cảnh ấy, bố con gặp nhau cũng chỉ nói chuyện được dăm ba câu.
Từ năm 1970, Lê Thiết Hùng làm Phó ban CP-48 về Campuchia, rồi Phó
Ban Đối ngoại Trung ương Đảng cho đến khi nghỉ hưu. Năm 1978, ông nghỉ
hưu. Sức khỏe của ông yếu đi nhiều. Ông ở nhà nhưng bạn bè, khách khứa
vẫn đến chơi luôn. Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc diễn ra, khách khứa
vãn dần. Nhưng từ năm 1982, mọi người lại đến chơi tấp nập.
Khoảng năm 1983, cuộc sống gia đình càng trở nên khó khăn hơn trong
cái khó khăn chung của xã hội. Ông Lê Thiết Hùng hưởng lương của cấp
tướng chuyển sang dân sự, về hưu khi là Phó Ban Đối ngoại Trung ương
Đảng hàm tương đương Bộ trưởng, được hưởng tiêu chuẩn ở phố Tôn Đản.
Nhưng khi ấy ông chỉ còn được hưởng tiêu chuẩn ở phố Nhà Thờ, tức là cao
hơn cán bộ cấp cục, vụ một chút. Ngoài ra không còn nhiều tiền để chi tiêu.
Bà Mai vì thế phải cố gắng xoay xỏa, tằn tiện hơn. Ông ăn uống giản dị, cơm
chan nước tương cũng được, nên chẳng than phiền gì. Có gì ngon ông đều
nhường cho con gái. Có lần, lâu lắm rồi gia đình mới mua được cá nục. Ông
Lê Thiết Hùng quê Nghệ An nên rất thích ăn cá nục kho. Lê Mai Hương đem
cá ra kho. Cả nhà ăn xong để phần cho ông Hùng hai con cá. Ông ăn đến con
thứ hai, đang định gắp thì con mèo ngồi cạnh lấy chân khều mất con cá trên
đĩa. Ông ngồi thần cả người ra.
Tuổi trên 70, sức khỏe yếu, bị bệnh tật hành hạ nhưng tướng Lê Thiết
Hùng không kêu ca, đòi hỏi bất kỳ điều gì. Lúc này ông bị đau thần kinh tọa
nặng. Hàng ngày ông tự xoa bóp. Khi đau quá, ông mới phải nhờ đến người
khác. Ông nằm ra, nhờ người cháu đang tuổi thanh niên giẫm mạnh lên lưng,
hông, như vậy mới đỡ chứ bấm huyệt không tác dụng gì.
Gia đình làm nhiều cách để cải thiện cuộc sống. Như nhiều gia đình khác,
nhà tướng Hùng cũng nuôi lợn, gà. Chồng Hương và Hương lo việc mua thức
ăn, còn ông lo việc chăm sóc. Tính ông ngăn nắp, cẩn thận, việc đâu ra đấy,
đến chăn lợn, gà cũng vậy. Đức tính này được rèn giũa khi ông hoạt động
tình báo trong lòng quân đội Tưởng Giới Thạch cuối những năm hai mươi
của thế kỷ trước. Nó vẫn phát huy tác dụng khi ông tướng đã về hưu, ở nhà
chăn lợn, nuôi gà. Không nhớ là dịp gì, cả bà Mai và cô Hương đều vắng nhà
mấy ngày. Một mình ông vừa cho gà ăn vừa nấu cám cho lợn, dọn chuồng,
tắm cho lợn sạch sẽ.
Nhưng khi cả nhà về, ông lăn ra ốm.
Năm 1984, Lê Mai Hương lúc đấy đã đi làm trong ngành công an. Cô
Hương còn nhận việc về nhà làm thêm. Thời buổi ấy nhiều nhà làm vậy để có
thêm thu nhập. Cô Hương nhận giấy in bao bì cao Sao vàng của Nhà in Tiến
Bộ để về dán, gấp thành vỏ bao thành phẩm, mỗi chiếc được trả mấy xu.
Tướng Hùng chẳng nề hà gì, ông cần mẫn từ sáng tới tối ngồi dán vỏ bao cho
con.
Năm 1983, Lê Mai Hương có con đầu lòng nhưng không giữ được. Tướng
Hùng bị sốc nặng, tưởng không qua được. Tuần đầu sau khi cháu mất, ông im
lặng trong đau đớn. Ai hỏi cũng không nói, dù chỉ một câu. Ông buồn bã
hàng tháng trời. Năm 1984, bệnh tình của ông càng nặng hơn. Nhưng đến
năm sau, cô Hương sinh con gái đầu. Ông phấn khởi lắm, nhận ngay nhiệm
vụ chăm cháu. Sau thời gian nghỉ sinh 3 tháng, cô Hương đi làm trở lại. Thế
là hàng ngày ông bế cháu, rồi pha sữa, cho cháu ăn, thay tã cho cháu. Bà Mai
cũng không tranh được nên bà chăm ông, giữ gìn sức khỏe cho ông để ông
chăm cháu.
Khi cháu được 10 tháng tuổi thì tướng Hùng mất. Trước khi ông mất
khoảng chục ngày, cháu cứ nhìn thấy ông là hét lên. Sáng hôm đó, ông đặt
cháu trong cũi, nói: "Chào cháu, ông đi nhé". Ông đi chơi về, vào nhà tắm, bị
lên cơn đau tim rồi mất.
2
Đại Tướng Văn Tiến Dũng
Đại tướng Văn Tiến Dũng (1917 - 2002) quê ở xã Cổ Nhuế, huyện Từ
Liêm, thành phố Hà Nội. Ông tham gia cách mạng từ năm 1936, kết nạp
Đảng năm 1937, nhập ngũ năm 1945. Ông được phong Đại tướng năm 1974.
Những năm 1943, 1944, ông làm Bí thư Ban Cán sự Đảng Hà Đông, Bắc
Ninh, Ủy viên Thường vụ rồi Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Nhiều lần ông bị thực
dân Pháp bắt giam. Tháng 1 năm 1945, ông bị kết án tử hình vắng mặt.
Ông làm Ủy viên Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, phụ trách tổ chức
chiến khu Quang Trung, chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa
Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, từ tháng 11 năm 1945 đến năm
1946, ông làm Chính ủy Chiến khu 2. Từ tháng 12 năm 1946 đến năm 1949,
ông làm Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội quốc gia Việt Nam, Phó Bí thư
Quân ủy Trung ương.
Từ tháng 10 năm 1949 đến năm 1950, ông làm Chính ủy Liên khu 3.
Giai đoạn 1951 - 1953, ông làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên
của Đại đoàn 320. Tháng 11 năm 1953, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân
đội nhân dân Việt Nam.
Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng
tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi
hành Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam.
Từ năm 1954, ông làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt
Nam, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch: Đường 9 - Nam Lào (1971); Trị Thiên
(1972); Tây Nguyên (1975); Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh (4-1975).
Giai đoạn 1980 - 1986, Đại tướng Văn Tiến Dũng giữ chức Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (1984 - 1986).
Đại tướng Văn Tiến Dũng là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự như:
"Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"...
Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ
khóa III đến khóa VI (Ủy viên dự khuyết khóa II), Ủy viên Bộ Chính trị (31972) khóa IV, V (Ủy viên dự khuyết khóa III), Đại biểu Quốc hội từ khóa II
đến khóa VII.
Đại tướng Văn Tiến Dũng được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân
chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công
(hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương
Kháng chiến hạng Nhất...
(Nguồn: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam,
NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, trang 1160)
Mãi khắc ghi những lời cha dặn
Vũ Trọng Đại
Theo đề nghị của tôi từ lần gặp trước, cô Văn Tuyết Mai cho tôi xem
những album ảnh của gia đình. Bà Nguyễn Thị Kỳ [1], hệt như lần trước, ngồi
cạnh cô Mai và theo dõi chăm chú. Thỉnh thoảng bà lại nói điều gì đấy về
những bức ảnh mà bà đặc biệt ghi nhớ. Hoặc những mẩu chuyện không đầu
không cuối khi ký ức bất chợt hiện về. Sau hồi lâu vừa xem ảnh vừa trò
chuyện với cô Mai và bà Kỳ, tôi cũng chọn được một số ảnh minh họa cho
sách. Tôi nhận ra hai điều: đầu tiên là tính cẩn thận của Đại tướng Văn Tiến
Dũng. Hầu như sau mỗi bức ảnh đều có bút tích của ông, ghi rõ ảnh chụp bao
giờ, ở đâu. Không chỉ ảnh khi làm việc, công tác mà ngay cả ảnh sinh hoạt
đời thường cũng vậy. Về đức tính ấy của tướng Dũng, sau này tôi đã được
một người khác xác nhận [2]. Điều thứ hai, tôi thấy lạ là trong cả mấy cuốn
album, không có bức ảnh nào chụp được đầy đủ cả gia đình. Cô Mai giải
thích: gia đình thời chiến không phải lúc nào cũng sum họp được. Đại tướng
Văn Tiến Dũng có 6 người con (3 trai, 3 gái) thì hầu như người nào từ nhỏ
cũng đã vào trường thiếu sinh quân, lớn lên đi bộ đội rồi mỗi người công tác
một nơi nên chẳng mấy khi cả nhà ở cùng một chỗ với nhau.
Xếp gọn lại mấy quyển album, cô Mai bắt đầu kể chuyện về cha mình. Có
vẻ như cô không biết nên bắt đầu từ đâu. Trầm ngâm một lúc, cô bắt đầu nói
về tính cách của cha. Cha cô là người điềm tĩnh, hiền nhưng nghiêm khắc.
Bình thường ông hay tươi cười nhưng khi trách phạt lại rất nghiêm nghị. Ông
đang cười nói nhưng nếu nghiêm giọng lại thì người nghe hiểu là có chuyện.
Ông không mắng mỏ những người mắc lỗi mà gọi người đó ngồi đối diện, rồi
từ tốn phân tích khuyết điểm và nêu cách sửa chữa. Trong gia đình hay khi ở
ngoài cũng vậy. Nếu con cái mắc lỗi, ông xử lý như với cấp dưới. Như có lần
con trai ông là Văn Tiến Trình, khi chưa đi bộ đội thì nghịch ngợm lắm, thế
là ông gọi vào phòng làm việc, đóng cửa lại để chỉnh huấn. Những lúc như
thế dù biết là không bị bố nạt nộ gì đâu nhưng con ông ai cũng sợ. Nói đến
đây, cô Mai so vai, le lưỡi rồi nhìn sang mẹ. Bà Kỳ mỉm cười, không nói gì.
Tính điềm tĩnh ấy cũng khiến ông chịu khó lắng nghe, suy nghĩ cẩn thận
trước khi trả lời hoặc trao đổi với người khác.
Tướng Dũng thương con cái. Thương con nhưng không chiều con. Ông
dạy con tính tự lập, không ỷ vào địa vị của bố. Ông thể hiện tình thương của
mình với các con bằng sự quan tâm đến chuyện học tập ở trường hay việc
phấn đấu ở đơn vị. Những lúc có thời gian rảnh, không bận bịu với các chiến
dịch hoặc đi chiến trường, ông thường đi xuống địa phương thăm các đơn vị
bộ đội để nắm tình hình, nhất là đi thăm hỏi những cơ sở cách mạng ngày
xưa, như Mỹ Đức (Hà Đông), Trung Mầu (Gia Lâm), Cổ Loa (Đông Anh), và
ông dẫn các con theo cùng. Hay vào các cuối tuần, nếu không bận, ông
thường đưa cả gia đình đi tham quan các danh lam thắng cảnh quanh Hà Nội
như chùa Trầm, chùa Thầy, chùa Trăm Gian, chùa Hương… Ông thích thăm
chùa chiền vì ngày trước lúc còn hoạt động cách mạng bí mật, ông từng ở
chùa gần ba năm khi mất liên lạc với tổ chức. Khi đó, ông giả trang thành nhà
sư ở chùa Bột Xuyên (Mỹ Đức, Hà Đông), ngày ngày tụng kinh gõ mõ, tối đi
tuyên truyền, gây dựng cơ sở cách mạng.
Nói về tính cần kiệm của cha mình, cô Mai cứ cười mãi. Câu chuyện cô kể
nghe như giai thoại. Khi ở nhà tướng Dũng thường đi guốc mộc. Vì dùng đã
lâu, đôi guốc bị hỏng. Nhưng ông không bỏ. Mòn thì đóng đế, sứt quai thì
đóng đinh lại cho chắc. Đôi guốc ấy ông sửa đi sửa lại bao lần, đến khi trên
đôi guốc không còn chỗ để đóng đinh nữa thì ông mới chịu thay guốc mới.
Hay như việc dùng giầy cũng vậy. Tướng Dũng tự nhận chân mình là chân
Giao Chỉ. Vì chân ông đặc biệt nên quân nhu phải đóng giầy riêng. Biết nhiêu
khê như thế nên ông càng giữ lắm. Nếu hỏng lại tự sửa, tận dụng đến khi
không thể sửa nữa mới thôi. Thực ra cũng nhờ ông khéo tay. Ngoài việc tự
sửa giầy dép, ông còn tự sửa cả quần áo cho đến lúc lấy vợ. Tuổi thơ khốn
khó, cộng với thời trẻ đi lao động kiếm sống cực nhọc tại xưởng dệt đã giúp
ông rèn luyện đức tính ấy.
Về thói quen hàng ngày của Đại tướng Văn Tiến Dũng, cô Mai rất thích
thú, kể say sưa. Bố cô giữ nếp làm việc và sinh hoạt rất chặt chẽ. Suốt mấy
chục năm hầu như không sai bao giờ: 5h sáng dậy vừa tập thể dục vừa nghe
tin buổi sáng, 6 giờ ăn sáng rồi vào Thành làm việc, 11 giờ về nhà nghỉ trưa,
1 giờ chiều đi làm, 5 giờ rời cơ quan là chơi thể thao khoảng 30 phút đến 1
tiếng, 6 giờ ăn tối xong sẽ đi dạo quanh sân, vừa đi vừa áp chiếc đài nhỏ lên
tai để nghe tin tức.
Ông có hai sở thích đặc biệt: đầu tiên là yêu thể thao, phải nói là say mê
mới đúng. Ông thường xuyên luyện tập thể dục thể thao và coi đó là một chế
độ trong ngày. Ông nói với cán bộ bảo vệ: "Thiếu cơm một bữa thì được,
nhưng không thể thiếu thể thao". Chiều nào cũng vậy, sau giờ làm việc ở cơ
quan, Đại tướng lại cùng anh em bộ phận giúp việc nhà riêng: bảo vệ, bác sĩ,
lái xe… chơi thể thao, khi thì bóng đá, bóng chuyền, còn nếu trời mưa thì vào
phòng đánh bóng bàn. Thanh niên trong khu phố lính Hoàng Diệu trạc tuổi cô
Mai thời đó cứ có thời gian là lại sang nhà tướng Dũng để tham gia cùng.
Những lúc như thế, nhà tướng Dũng luôn rộn tiếng reo hò: khó mà phân biệt
được ai là sĩ quan, ai là chiến sĩ, ai là tướng, tất cả đều hò reo như nhau.
Không chỉ chơi mà ông còn hăng say cổ vũ cho những hoạt động thể thao
trong quân đội.
Vào mùa hè, nếu không chơi các môn đó thì ông đi bơi ở Câu lạc bộ Quân
nhân. Ông còn kéo cả vợ đi bơi cùng. Về già, ông luyện tập những môn nhẹ
nhàng như đạp xe, đi bộ. Những năm cuối đời, không thể đi bộ ngoài trời thì
ông đi bộ trong nhà. Sở thích thứ hai là nghe hát chèo. Luôn luôn trong giờ
buổi trưa, khi ăn cơm là ông lại mở đài nghe chương trình phát thanh dân ca
và nhạc cổ truyền. Cô Mai nói thêm: trong bữa cơm, ông thường kể chuyện
hoạt động cách mạng: ông bị bắt giam ba lần; cánh tay trái của ông giờ không
thể giơ lên cao do khuỷu tay ông bị xiên dây thép qua trong những trận đòn
tra ở nhà tù Hỏa Lò.
Ưa thể thao là thế nhưng ông cũng hút thuốc. Song không phải như cách
thông thường. Thời trẻ ông hút thuốc nhưng đã bỏ từ lâu, cả bà Kỳ lẫn cô Mai
đều không biết ông bỏ thuốc từ bao giờ. Tuy nhiên, bà Kỳ thường mua sẵn
một bao thuốc lá bỏ sẵn vào trong ngăn kéo bàn làm việc của ông. Chỉ khi có
tin vui, như tin thắng trận báo về, khi đó ông mới lấy ra một điếu để hút. Đó
là cách ông tự thưởng cho mình.
Lần lượt nắm giữ những chức vụ cao cấp chỉ huy quân đội nhưng ông lại
hay nhường vợ vì bà Kỳ nóng tính. Đại tướng rất nể vợ, người nội tướng của
mình. Cô Mai nói đến đây lại nhìn mẹ cười cười. Bà Kỳ làm việc ở Ban Tổ
chức Trung ương Đảng. Ngoài mấy người con ruột, ông bà còn nuôi nấng,
dạy dỗ một số con các bạn chiến đấu đã hy sinh trên chiến trường, con các cơ
sở cách mạng, con liệt sĩ, tất cả ăn ở học hành chung như anh em một nhà, và
bữa ăn trong nhà bao giờ cũng vui vẻ, náo nhiệt. Trong gia đình tướng Dũng,
mọi việc sinh hoạt của con cái đều do bà Kỳ giải quyết để chồng yên tâm
công tác, không làm phân tán suy nghĩ, tư tưởng của ông.
Đã ba tiếng đồng hồ trôi qua. Bà Kỳ ngồi lâu nên đã mỏi lưng. Bà chầm
chậm đứng dậy khỏi ghế, chào tôi, không quên dặn cô Mai nhớ cất album
ảnh. Đợi bà đi khỏi, cô Mai nói với tôi: bà vẫn khỏe nhưng trí nhớ đã suy
giảm. Giờ bà không nhớ những chuyện gần đây, nhưng vẫn nhớ và thường
hay kể chuyện ngày xưa khi bà còn trẻ, cái thời ông bà đang yêu.
Kể chuyện cho tôi nghe, nhưng cô Mai không yên tâm, cô sợ là mình
không nhớ hết những kỷ niệm quý giá về bố mình. Cô nói chúng tôi liên hệ
với hai người con gái khác của Đại tướng Văn Tiến Dũng là cô Văn Minh
Tâm và cô Văn Việt Hoa. Cô Tâm đã ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng vẫn
khỏe khoắn, nói chuyện từng việc đâu đấy rõ ràng. Cô bảo bố cô thường dặn
con mấy việc: Thứ nhất là tiền của, vật chất, tất cả chỉ là phương tiện để giúp
người ta thực hiện được mục đích cách mạng của mình. Thứ hai là con người
ta không phải lúc nào cũng tốt hết, mà có những lúc mắc sai lầm, nhưng khi
người ta có sai lầm thì mình tìm cách kéo ngư...
NGƯỜI THÂN
---❊ ❖ ❊--Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Phát hành: ThaiHaBook
Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân
Nguồn text: Waka
Đóng gói: @nguyenthanh-cuibap
ebook©vctvegroup
Lời Cảm Ơn
Cuốn sách "Tướng lĩnh Việt Nam thế kỷ XX qua lời kể của người thân"
được Công ty Cổ phần Sách Thái Hà và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức.
Trước hết, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ của các
gia đình tướng lĩnh. Nếu không có sự quan tâm, góp ý và động viên chân
thành từ thân nhân của các tướng lĩnh, chúng tôi khó lòng biên soạn được
cuốn sách này. Không chỉ gửi bài viết và ảnh tư liệu để đóng góp cho cuốn
sách, các gia đình đã có những gợi ý thiết thực và cung cấp những thông tin
quý báu để chúng tôi có thể tiếp cận các nguồn tư liệu và gặp gỡ các nhân
chứng lịch sử.
Chúng tôi đặc biệt bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với ông Hoàng Anh Tuấn
(cháu trai Đại tướng Hoàng Văn Thái), ông Phạm Hồng Minh (con trai Trung
tướng Phạm Hồng Sơn) và ông Trần Kiến Quốc (con trai Thiếu tướng Trần
Tử Bình) - họ đã ủng hộ nhóm biên soạn ngay từ những ngày đầu, cung cấp
những thông tin hết sức có giá trị và truyền cảm hứng cho nhóm biên soạn
trong suốt quá trình thực hiện cuốn sách này.
Nhóm biên soạn cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban biên tập ảnh thuộc
Thông tấn xã Việt Nam đã nhiệt tình cung cấp một số hình ảnh minh họa
trong sách.
Cuối cùng, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của độc giả để
cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong những lần in sau.
Thay mặt nhóm biên soạn
TS. Nguyễn Mạnh Hùng
Lời Nhà Xuất Bản
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã lập nên
nhiều chiến công hiển hách, giữ vững non sông bờ cõi Việt Nam. Trong thế
kỷ XX, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc chiến tranh giành độc lập
dân tộc, đó là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược.
Cùng với sức mạnh của toàn Đảng, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
Quân đội nhân dân Việt Nam đã trực tiếp góp phần làm nên một Điện Biên
Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" đặt dấu chấm hết cho ách đô hộ
của thực dân Pháp đối với nước ta; đó là Đại thắng mùa Xuân 1975, mà đỉnh
cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất nước nhà.
Những chiến công và thành tích vẻ vang của quân đội ta bắt nguồn từ sự
lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh mà thường
xuyên và trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; trong đó có phần
đóng góp công sức, xương máu của lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong
toàn quân.
Trong khói lửa chiến tranh, trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng
thành của quân đội đã xuất hiện nhiều lớp cán bộ điển hình, mẫu mực, có
trình độ chỉ huy, tác chiến giỏi; luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm
vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Nhiều đồng chí trở thành sĩ quan cấp
tướng trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những chiến công, những bài học về nghệ thuật quân sự, về cách đánh mà
các vị tướng để lại được phản ánh trong rất nhiều sách đã được xuất bản. Bộ
sách "Tướng lĩnh Việt Nam thế kỷ XX qua lời kể của người thân" do Nhà xuất
bản Quân đội nhân dân phối hợp cùng
Công ty Cổ phần Sách Thái Hà xuất bản và phát hành sẽ góp thêm một
góc nhìn mới về chân dung các vị tướng trong những khoảnh khắc đời
thường, về những điều mà chỉ có người thân của họ mới được chứng kiến.
Tập 1 của bộ sách được xuất bản lần này giúp bạn đọc tìm hiểu về cuộc
sống đời thường của 15 trong số các vị tướng được thụ phong trong thời kỳ
chiến tranh giải phóng. Tư liệu về quá trình hoạt động cách mạng, công tác
và trong cuộc sống đời thường của các vị tướng rất phong phú, sâu sắc.
Những câu chuyện được kể thông qua người thân là những kỷ niệm không
quên, ấn tượng sâu sắc, tình cảm thân thương... song đã diễn ra từ rất lâu rồi,
nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Dù vậy, cuốn sách cũng cung cấp cho
bạn đọc những tư liệu để tham khảo.
Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, phê bình của người thân,
gia đình các vị tướng cùng các đồng chí và bạn đọc gần xa.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc!
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Lời Nói Đầu
Tôi may mắn được đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần từ
năm 1995. Một thực tế là tôi đã học được rất nhiều từ vị Tổng tư lệnh đa tài,
khiêm tốn, bản lĩnh, dễ gần. Những bài học chúng tôi mang áp dụng vào quản
trị doanh nghiệp cũng như cuộc sống và thấy rằng rất tuyệt vời. Hóa ra nghệ
thuật chiến tranh với nghệ thuật kinh doanh, nghệ thuật sống rất gần nhau và
có rất nhiều điểm tương đồng.
Từ những lần đến thăm Đại tướng, tôi thật may mắn được biết đến các anh
chị Võ Điện Biên, Võ Hồng Nam, Võ Hồng Anh, Võ Hạnh Phúc, Võ Hòa
Bình. Tôi lại may mắn học được thật nhiều từ những người con tuyệt vời của
Đại tướng.
Rồi sau này tôi may mắn biết đến và có dịp gặp gỡ, trao đổi, học hỏi từ
các anh Chu Thế Sơn, con trai Đại tướng Chu Huy Mân; Văn Tiến Huấn, con
trai Đại tướng Văn Tiến Dũng; Hoàng Quốc Trinh, con trai Đại tướng Hoàng
Văn Thái; Lê Đông Hải, con trai Đại tướng Lê Trọng Tấn,… Những câu
chuyện được nghe các anh kể lại về cha của mình làm cho tôi trưởng thành
rất nhiều. Tôi cũng mang những bài học quý giá từ các vị tướng nổi tiếng áp
dụng vào cuộc sống, quản trị doanh nghiệp và thấy quá tuyệt vời.
Chúng ta đã bước vào những ngày đầu tiên của năm 2015, một năm có rất
nhiều sự kiện quan trọng: 40 năm ngày thống nhất đất nước, 70 năm ngày
Quốc khánh nước Việt Nam. Nhiều lần thầy trò chúng tôi bàn bạc về các đề
tài sách sẽ xuất bản trong năm nay và một trong các đề tài tạo hứng thú cho
chúng tôi chính là các vị tướng tài năng. Chúng tôi nghĩ về sự kiện quan
trọng: Ngày 28 tháng 5 năm 1948, lễ phong tướng đầu tiên được tổ chức tại
Việt Bắc. Có 1 Đại tướng, 1 Trung tướng và 9 Thiếu tướng được phong.
Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 11 vị tướng đầu tiên. Sau này còn có
những vị tướng khác được phong trong chiến tranh giải phóng. Chúng tôi
thấy rằng mỗi vị đều có những tài năng khác nhau, những công lao to lớn
khác nhau, đó là sự hội tụ những giá trị nghệ thuật quân sự đáng để mỗi
chúng ta học tập và phổ biến.
Do quỹ thời gian cũng như khả năng còn rất hạn chế, chúng tôi quyết định
chỉ tìm hiểu về những vị tướng từng tham gia chiến tranh giải phóng. Hơn thế
nữa, chúng tôi chưa có ý định xuất bản ngay sách về cuộc đời và sự nghiệp
của những vị tướng tài ba này mà muốn khai thác một khía cạnh nhỏ: Những
vị tướng qua lời kể của người thân. Theo chúng tôi, người thân của các tướng
lĩnh gồm cả gia đình và bạn bè, đồng chí thân thiết.
May mắn đã mỉm cười với chúng tôi khi chúng tôi đã liên lạc được và
nhận được bài viết, thông tin từ 15 gia đình tướng lĩnh. Những cuộc gặp gỡ
trực tiếp, qua điện thoại và email với các thành viên của 15 gia đình đã giúp
chúng tôi có nhiều tư liệu quý, nhiều câu chuyện vô cùng có giá trị cung cấp
cho bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo. Chúng tôi thành tâm biết ơn các bác,
các anh, các chị đã hết sức nhiệt tình và tin tưởng để giúp chúng tôi hoàn
thành bản thảo cuốn sách này.
Về cách xếp thứ tự các vị tướng trong sách, chúng tôi có nhiều băn khoăn.
Thường thì danh sách được xếp theo vần chữ cái ABC. Tuy nhiên, chúng tôi
thấy chưa ổn. Cũng có cách xếp thứ tự theo năm sinh của các vị tướng, rồi
cách xếp theo cấp hàm,… Cuối cùng chúng tôi quyết định chọn cách xếp theo
năm phong hàm. Cách xếp thứ tự này có thể chưa phải là tốt nhất nhưng
chúng tôi cũng chưa tìm ra cách xếp tốt hơn.
Cuốn sách được xuất bản ngay trước thềm năm mới âm lịch Quý Mùi
2015. Chúng tôi tin rằng bạn đọc sẽ học được rất nhiều từ những câu chuyện
rất mộc mạc, giản dị nhưng ý nghĩa này. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là tập 1
của bộ sách. Chúng tôi kính mong nhận được thông tin từ người thân của các
vị tướng còn lại để có thể xuất bản nhân dịp 02-09-2015 tới. Mọi thông tin
xin được gửi về daivt@thaihabooks.com và publication@thaihabooks.com.
Cuốn sách không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy chúng tôi kính
mong nhận được sự góp ý của quý vị và bạn đọc để có thể hoàn thiện nội
dung trong lần tái bản tới.
TS. Nguyễn Mạnh Hùng
Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Thái Hà Books
1
Thiếu Tướng Lê Thiết Hùng
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (1908 - 1986) tên thật là Lê Văn Nghiệm,
quê xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia cách
mạng từ năm 1925, vào Đảng năm 1930, nhập ngũ năm 1944, được phong
Thiếu tướng năm 1946.
Năm 1925, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Việt Nam
Thanh niên Cách mạng đồng chí hội).
Từ năm 1940 đến năm 1945, ông tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố ở
Trung Quốc, về nước hoạt động ở Chiến khu Cao - Bắc - Lạng, tổ chức và
làm Chính trị viên Đội vũ trang đặc biệt; Giám đốc đầu tiên của Trường Quân
sự Cao Bằng.
Tháng 8 năm 1945, ông chỉ huy lực lượng vũ trang giành chính quyền ở
Thất Khê, Đồng Đăng, Na Sầm.
Cuối năm 1945, ông làm Khu trưởng Khu 4.
Tháng 3 năm 1946, ông là Tổng chỉ huy Quân tiếp phòng.
Từ năm 1948 đến năm 1950, Thiếu tướng Lê Thiết Hùng làm Tổng thanh
tra quân đội; chỉ huy mặt trận Bắc Kạn, Tuyên Quang; Hiệu trưởng Trường
bổ túc Quân chính trung cấp.
Giai đoạn 1950 - 1954, ông đảm nhiệm chức Hiệu trưởng Trường Lục
quân; Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu. Giai đoạn 1956 1963, ông làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Pháo binh.
Năm 1963, ông làm Đại sứ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại
Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên.
Tháng 5 năm 1970, ông làm Phó Ban Đối ngoại Trung ương.
Ông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương
Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến
thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...
(Nguồn: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam,
NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, trang 599)
Phụ tử tình thâm
Vũ Trọng Đại
Một chiều mùa đông tháng 12, chúng tôi đến gặp cô Lê Mai Hương ở nhà
riêng nằm giữa phố Trần Hưng Đạo. Đây cũng là nơi tướng Lê Thiết Hùng ở
khi còn sinh thời. Cô đón chúng tôi vẫn với nụ cười dễ mến, giọng nói nhỏ
nhẹ, tình cảm như lần gặp đầu tiên trước đó nửa tháng. Cô khẽ khàng đi pha
trà, rót nước mời khách, và giọng nói chợt xa xôi khi hồi tưởng về người cha
của mình.
Lê Mai Hương là con duy nhất của Thiếu tướng Lê Thiết Hùng với người
vợ thứ hai, bác sĩ quân y Nguyễn Tuyết Mai. Hai người kết hôn năm 1948,
một năm sau ngày mất của người vợ đầu là bà Hồ Diệc Lan, con gái nhà cách
mạng Hồ Học Lãm. Bà Hồ Diệc Lan qua đời ở tuổi 27 vì nhiễm bệnh phổi
quá nặng, khi đó họ chưa kịp có với nhau mặt con nào. Vợ chồng Thiết Hùng
- Tuyết Mai hẹn ước rằng khi nào cách mạng thắng lợi mới sinh con. Thế
nhưng cuộc kháng chiến kéo dài đằng đẵng. Người ngoài cũng phải sốt ruột,
giục giã vì mãi không thấy vợ chồng tướng Hùng sinh con. Cuối cùng phải
đến 10 năm sau ngày cưới, bé gái Lê Mai Hương cũng đã chào đời sau bao
mong mỏi, trông chờ.
Trong thời chiến, dù đang ở hậu phương, người ta cũng khó có thể có
được cuộc sống bình yên như lẽ thường, nhất là trong gia đình của một vị
tướng. Hàng ngày tướng Lê Thiết Hùng đi làm về rất khuya, thường 11, 12
giờ đêm mới về đến nhà. Bà Mai đi làm ở xa, chỉ tối thứ năm, tối thứ bảy mới
về, chủ nhật lại vội vã đi. Bé Hương ở nhà với bà nội và một người bác,
nhưng không được ở gần bố. Lớn lên Lê Mai Hương mới biết mọi người
trong nhà không cho cô con gái nhỏ gần bố để giữ sức khỏe cho tướng Lê
Thiết Hùng. Ông yếu đi nhiều sau lần lái xe bị tai nạn những năm trước đó:
chấn thương nặng và phải nằm viện suốt 6 tháng trong tình trạng mất trí nhớ.
Di chứng của vụ tai nạn ấy đeo đẳng ông đến hết cuộc đời. Thêm nữa, công
việc lúc nào cũng bề bộn. Bé Hương không biết gì, đêm đến đợi người lớn
ngủ lại len lén lên gác ngủ với bố. Còn tướng Lê Thiết Hùng thì cứ thao thức
chờ con.
Nỗi xúc động dâng lên nghẹn lời, cô Hương dừng lại hồi lâu. Đang lúi húi
ghi chép, tự nhiên bặt tiếng, tôi ngẩng lên nhìn, thấy cô ngồi ngay đó, trước
mặt tôi, im lặng. Dường như cô đang cố kiềm chế cảm xúc của mình, nhưng
nước mắt đã trào ra rưng rưng trên khóe mắt.
Ở cái tuổi tri thiên mệnh mới có mụn con nên tướng Lê Thiết Hùng
thương và cưng chiều con gái lắm. Còn nhớ những ngày ông tham gia chỉ
huy chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ sau khi chiếm được đồi A1, bắt được
tướng De Castries, vừa vì mừng vui, hạnh phúc, vừa vì căng thẳng dồn nén
mà ông ngất đi, bất tỉnh suốt 7 ngày. Sau này, ông được đi nghỉ ở Sochi (Liên
Xô) một tháng để hồi phục sức khỏe. Trong đoàn cùng đi chuyến này với ông
có bà Bảy Huệ, vợ ông Nguyễn Văn Linh. Những người khác khi về lo sắm
sửa mua quà cho người thân, còn ông để dành được ít rúp lẻ thì ngoài bánh
kẹo cho mẹ, ông chỉ mua quà cho con: một cái máy khâu tay cho trẻ con, một
con búp bê và một cái xe đạp 3 bánh. Ông hầu như không bao giờ quát mắng
con, cũng không tiếc con bất kỳ thứ gì, thậm chí bỏ cả súng, tháo cả đạn cho
con chơi. Cô bé hạnh phúc trong vòng tay cha, nhưng sẽ sớm biết điều đang
chờ phía trước: Chiến tranh và chia ly.
Năm 1964, Lê Mai Hương lên 6, cũng là lúc Mỹ tiến hành chiến tranh phá
hoại miền Bắc. Bé Hương về quê sơ tán. Trước đó, năm 1963, tướng Lê Thiết
Hùng nhận nhiệm vụ mới: ông chuyển sang ngành ngoại giao, làm Đại sứ của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Triều Tiên cho đến năm 1970. Kể từ
đó mỗi năm bé Hương chỉ gặp được bố một lần, có năm không gặp được lần
nào. Khi về nước, tranh thủ được giờ nào là ông Hùng chỉ chơi với con: cho
con đi công viên, làm ngựa cho con cưỡi… Năm 1969, Lê Mai Hương học
lớp 5, cô được bố cho sang Triều Tiên ba tháng. Hai bố con đi tàu. Trên
đường đi qua Trung Quốc, ông Hùng kể cho con nghe về Mao Trạch Đông và
cách mạng Trung Quốc. Tới các nhà ga, từ xa bé Hương thấy những tiểu
Hồng vệ binh tươi cười vẫy chào đoàn tàu đang tới. Họ cầm những cái rổ. Bé
Hương reo lên: "Bố ơi bố, người ta cho kẹo kia kìa". Ông Hùng nói:
"Thế à, họ cho kẹo cơ à". Đến gần mới biết là họ phát huy hiệu Mao Trạch
Đông. Ông Hùng cười vui vẻ: "Con bé này đúng là tham ăn thật". Ông lấy
mấy cái huy hiệu cài lên ngực con. Thế rồi hai bố con lại nói chuyện về Mao
Trạch Đông.
Giọng cô Hương cứ tươi vui dần theo những kỷ niệm chơi đùa cùng bố, để
rồi tiếng cười vỡ òa ra trong trẻo khi kể về những câu chuyện trong chuyến
hành trình sang Triều Tiên. Nhưng giọng cô chùng lại: đến biên giới Trung
Quốc - Triều Tiên, một sự cố xảy ra khiến vị Đại sứ không thể vui vẻ được
nữa.
Tại Tân Nghĩa Châu (Sinuiju), thành phố kề bên sông Áp Lục ở biên giới
Trung - Triều, Đại sứ Lê Thiết Hùng biết tin một nữ sinh viên năm thứ hai
người Việt ở đây buổi sáng tập thể dục nhưng lên cơn đau tim, ngất xỉu, được
đưa đi cấp cứu nhưng không kịp nên đã qua đời. Ông buồn lắm. Đưa con gái
đến Bình Nhưỡng, ngay ngày hôm sau ông quay lại Tân Nghĩa Châu để viếng
nữ sinh viên xấu số. Ông khóc mãi vì thương sinh viên của mình mất khi còn
trẻ quá, lại ở xa gia đình, xa người thân.
Đại sứ Lê Thiết Hùng được ông Kim Nhật Thành (khi đó là Thủ tướng) và
các Phó Thủ tướng quý mến. Thế nên lưu học sinh Việt Nam ở Triều Tiên
được ưu ái, được chu cấp tiền bạc, ăn uống đầy đủ. Đại sứ Lê Thiết Hùng với
tâm huyết lớn lao dành cho Tổ quốc nên đặt kỳ vọng vào các bạn trẻ. Ông
muốn họ dành tâm sức vào việc học tập để sau này về cống hiến cho đất
nước. Thế nhưng ông không biết tâm lý của họ cũng muốn dành dụm được
chút ít trong thời gian du học. Ông kiên quyết là tiền nước bạn cho chỉ để lưu
học sinh của ta ăn uống thật tốt, có sức khỏe để còn học tập, thế nên lưu học
sinh khi đó ở Triều Tiên chẳng mua sắm được gì nhiều nhặn khi về nước. Họ
cảm thấy không được vui.
Cuối năm 1969, ông Lê Thiết Hùng thôi làm Đại sứ và về Việt Nam. Về
nước, lập tức ông lại cuốn vào công việc. Ngày thường cứ đến nửa đêm, có
sớm cũng là 9 giờ tối ông mới về đến nhà. Bà Mai cũng vậy nên có tuần bé
Hương không gặp bố mẹ mình vì đi ngủ rồi thì bố mẹ mới về. Đến năm 1973,
ông Lê Thiết Hùng bị một cơn nhồi máu cơ tim nhưng rất may bà Mai là bác
sĩ giỏi nên phát hiện kịp thời, đề nghị tổ y tế cấp cứu tại chỗ chứ không đưa
vào bệnh viện. Ông bất tỉnh suốt ba ngày. Bộ Chính trị lo lắm, mọi người ai
cũng nói: "Anh ấy đi chiến trường bao nhiêu năm, vào sinh ra tử mấy lần mà
không chết, lúc này không thể để anh ấy chết được". Thế rồi ông cũng qua
khỏi. Song người ta tiên liệu rằng ông chỉ còn sống được hai năm nữa. Nhờ
thế, công việc của ông cũng giảm được đôi chút, nhưng lại trở về guồng quay
cũ cho đến khi giải phóng miền Nam năm 1975. Năm 1975, Lê Mai Hương
vào đại học, ở trong trường nên một, hai tuần mới về nhà một lần. Trong
hoàn cảnh ấy, bố con gặp nhau cũng chỉ nói chuyện được dăm ba câu.
Từ năm 1970, Lê Thiết Hùng làm Phó ban CP-48 về Campuchia, rồi Phó
Ban Đối ngoại Trung ương Đảng cho đến khi nghỉ hưu. Năm 1978, ông nghỉ
hưu. Sức khỏe của ông yếu đi nhiều. Ông ở nhà nhưng bạn bè, khách khứa
vẫn đến chơi luôn. Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc diễn ra, khách khứa
vãn dần. Nhưng từ năm 1982, mọi người lại đến chơi tấp nập.
Khoảng năm 1983, cuộc sống gia đình càng trở nên khó khăn hơn trong
cái khó khăn chung của xã hội. Ông Lê Thiết Hùng hưởng lương của cấp
tướng chuyển sang dân sự, về hưu khi là Phó Ban Đối ngoại Trung ương
Đảng hàm tương đương Bộ trưởng, được hưởng tiêu chuẩn ở phố Tôn Đản.
Nhưng khi ấy ông chỉ còn được hưởng tiêu chuẩn ở phố Nhà Thờ, tức là cao
hơn cán bộ cấp cục, vụ một chút. Ngoài ra không còn nhiều tiền để chi tiêu.
Bà Mai vì thế phải cố gắng xoay xỏa, tằn tiện hơn. Ông ăn uống giản dị, cơm
chan nước tương cũng được, nên chẳng than phiền gì. Có gì ngon ông đều
nhường cho con gái. Có lần, lâu lắm rồi gia đình mới mua được cá nục. Ông
Lê Thiết Hùng quê Nghệ An nên rất thích ăn cá nục kho. Lê Mai Hương đem
cá ra kho. Cả nhà ăn xong để phần cho ông Hùng hai con cá. Ông ăn đến con
thứ hai, đang định gắp thì con mèo ngồi cạnh lấy chân khều mất con cá trên
đĩa. Ông ngồi thần cả người ra.
Tuổi trên 70, sức khỏe yếu, bị bệnh tật hành hạ nhưng tướng Lê Thiết
Hùng không kêu ca, đòi hỏi bất kỳ điều gì. Lúc này ông bị đau thần kinh tọa
nặng. Hàng ngày ông tự xoa bóp. Khi đau quá, ông mới phải nhờ đến người
khác. Ông nằm ra, nhờ người cháu đang tuổi thanh niên giẫm mạnh lên lưng,
hông, như vậy mới đỡ chứ bấm huyệt không tác dụng gì.
Gia đình làm nhiều cách để cải thiện cuộc sống. Như nhiều gia đình khác,
nhà tướng Hùng cũng nuôi lợn, gà. Chồng Hương và Hương lo việc mua thức
ăn, còn ông lo việc chăm sóc. Tính ông ngăn nắp, cẩn thận, việc đâu ra đấy,
đến chăn lợn, gà cũng vậy. Đức tính này được rèn giũa khi ông hoạt động
tình báo trong lòng quân đội Tưởng Giới Thạch cuối những năm hai mươi
của thế kỷ trước. Nó vẫn phát huy tác dụng khi ông tướng đã về hưu, ở nhà
chăn lợn, nuôi gà. Không nhớ là dịp gì, cả bà Mai và cô Hương đều vắng nhà
mấy ngày. Một mình ông vừa cho gà ăn vừa nấu cám cho lợn, dọn chuồng,
tắm cho lợn sạch sẽ.
Nhưng khi cả nhà về, ông lăn ra ốm.
Năm 1984, Lê Mai Hương lúc đấy đã đi làm trong ngành công an. Cô
Hương còn nhận việc về nhà làm thêm. Thời buổi ấy nhiều nhà làm vậy để có
thêm thu nhập. Cô Hương nhận giấy in bao bì cao Sao vàng của Nhà in Tiến
Bộ để về dán, gấp thành vỏ bao thành phẩm, mỗi chiếc được trả mấy xu.
Tướng Hùng chẳng nề hà gì, ông cần mẫn từ sáng tới tối ngồi dán vỏ bao cho
con.
Năm 1983, Lê Mai Hương có con đầu lòng nhưng không giữ được. Tướng
Hùng bị sốc nặng, tưởng không qua được. Tuần đầu sau khi cháu mất, ông im
lặng trong đau đớn. Ai hỏi cũng không nói, dù chỉ một câu. Ông buồn bã
hàng tháng trời. Năm 1984, bệnh tình của ông càng nặng hơn. Nhưng đến
năm sau, cô Hương sinh con gái đầu. Ông phấn khởi lắm, nhận ngay nhiệm
vụ chăm cháu. Sau thời gian nghỉ sinh 3 tháng, cô Hương đi làm trở lại. Thế
là hàng ngày ông bế cháu, rồi pha sữa, cho cháu ăn, thay tã cho cháu. Bà Mai
cũng không tranh được nên bà chăm ông, giữ gìn sức khỏe cho ông để ông
chăm cháu.
Khi cháu được 10 tháng tuổi thì tướng Hùng mất. Trước khi ông mất
khoảng chục ngày, cháu cứ nhìn thấy ông là hét lên. Sáng hôm đó, ông đặt
cháu trong cũi, nói: "Chào cháu, ông đi nhé". Ông đi chơi về, vào nhà tắm, bị
lên cơn đau tim rồi mất.
2
Đại Tướng Văn Tiến Dũng
Đại tướng Văn Tiến Dũng (1917 - 2002) quê ở xã Cổ Nhuế, huyện Từ
Liêm, thành phố Hà Nội. Ông tham gia cách mạng từ năm 1936, kết nạp
Đảng năm 1937, nhập ngũ năm 1945. Ông được phong Đại tướng năm 1974.
Những năm 1943, 1944, ông làm Bí thư Ban Cán sự Đảng Hà Đông, Bắc
Ninh, Ủy viên Thường vụ rồi Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Nhiều lần ông bị thực
dân Pháp bắt giam. Tháng 1 năm 1945, ông bị kết án tử hình vắng mặt.
Ông làm Ủy viên Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, phụ trách tổ chức
chiến khu Quang Trung, chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa
Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, từ tháng 11 năm 1945 đến năm
1946, ông làm Chính ủy Chiến khu 2. Từ tháng 12 năm 1946 đến năm 1949,
ông làm Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội quốc gia Việt Nam, Phó Bí thư
Quân ủy Trung ương.
Từ tháng 10 năm 1949 đến năm 1950, ông làm Chính ủy Liên khu 3.
Giai đoạn 1951 - 1953, ông làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên
của Đại đoàn 320. Tháng 11 năm 1953, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân
đội nhân dân Việt Nam.
Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng
tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi
hành Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam.
Từ năm 1954, ông làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt
Nam, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch: Đường 9 - Nam Lào (1971); Trị Thiên
(1972); Tây Nguyên (1975); Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh (4-1975).
Giai đoạn 1980 - 1986, Đại tướng Văn Tiến Dũng giữ chức Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (1984 - 1986).
Đại tướng Văn Tiến Dũng là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự như:
"Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"...
Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ
khóa III đến khóa VI (Ủy viên dự khuyết khóa II), Ủy viên Bộ Chính trị (31972) khóa IV, V (Ủy viên dự khuyết khóa III), Đại biểu Quốc hội từ khóa II
đến khóa VII.
Đại tướng Văn Tiến Dũng được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân
chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công
(hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương
Kháng chiến hạng Nhất...
(Nguồn: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam,
NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, trang 1160)
Mãi khắc ghi những lời cha dặn
Vũ Trọng Đại
Theo đề nghị của tôi từ lần gặp trước, cô Văn Tuyết Mai cho tôi xem
những album ảnh của gia đình. Bà Nguyễn Thị Kỳ [1], hệt như lần trước, ngồi
cạnh cô Mai và theo dõi chăm chú. Thỉnh thoảng bà lại nói điều gì đấy về
những bức ảnh mà bà đặc biệt ghi nhớ. Hoặc những mẩu chuyện không đầu
không cuối khi ký ức bất chợt hiện về. Sau hồi lâu vừa xem ảnh vừa trò
chuyện với cô Mai và bà Kỳ, tôi cũng chọn được một số ảnh minh họa cho
sách. Tôi nhận ra hai điều: đầu tiên là tính cẩn thận của Đại tướng Văn Tiến
Dũng. Hầu như sau mỗi bức ảnh đều có bút tích của ông, ghi rõ ảnh chụp bao
giờ, ở đâu. Không chỉ ảnh khi làm việc, công tác mà ngay cả ảnh sinh hoạt
đời thường cũng vậy. Về đức tính ấy của tướng Dũng, sau này tôi đã được
một người khác xác nhận [2]. Điều thứ hai, tôi thấy lạ là trong cả mấy cuốn
album, không có bức ảnh nào chụp được đầy đủ cả gia đình. Cô Mai giải
thích: gia đình thời chiến không phải lúc nào cũng sum họp được. Đại tướng
Văn Tiến Dũng có 6 người con (3 trai, 3 gái) thì hầu như người nào từ nhỏ
cũng đã vào trường thiếu sinh quân, lớn lên đi bộ đội rồi mỗi người công tác
một nơi nên chẳng mấy khi cả nhà ở cùng một chỗ với nhau.
Xếp gọn lại mấy quyển album, cô Mai bắt đầu kể chuyện về cha mình. Có
vẻ như cô không biết nên bắt đầu từ đâu. Trầm ngâm một lúc, cô bắt đầu nói
về tính cách của cha. Cha cô là người điềm tĩnh, hiền nhưng nghiêm khắc.
Bình thường ông hay tươi cười nhưng khi trách phạt lại rất nghiêm nghị. Ông
đang cười nói nhưng nếu nghiêm giọng lại thì người nghe hiểu là có chuyện.
Ông không mắng mỏ những người mắc lỗi mà gọi người đó ngồi đối diện, rồi
từ tốn phân tích khuyết điểm và nêu cách sửa chữa. Trong gia đình hay khi ở
ngoài cũng vậy. Nếu con cái mắc lỗi, ông xử lý như với cấp dưới. Như có lần
con trai ông là Văn Tiến Trình, khi chưa đi bộ đội thì nghịch ngợm lắm, thế
là ông gọi vào phòng làm việc, đóng cửa lại để chỉnh huấn. Những lúc như
thế dù biết là không bị bố nạt nộ gì đâu nhưng con ông ai cũng sợ. Nói đến
đây, cô Mai so vai, le lưỡi rồi nhìn sang mẹ. Bà Kỳ mỉm cười, không nói gì.
Tính điềm tĩnh ấy cũng khiến ông chịu khó lắng nghe, suy nghĩ cẩn thận
trước khi trả lời hoặc trao đổi với người khác.
Tướng Dũng thương con cái. Thương con nhưng không chiều con. Ông
dạy con tính tự lập, không ỷ vào địa vị của bố. Ông thể hiện tình thương của
mình với các con bằng sự quan tâm đến chuyện học tập ở trường hay việc
phấn đấu ở đơn vị. Những lúc có thời gian rảnh, không bận bịu với các chiến
dịch hoặc đi chiến trường, ông thường đi xuống địa phương thăm các đơn vị
bộ đội để nắm tình hình, nhất là đi thăm hỏi những cơ sở cách mạng ngày
xưa, như Mỹ Đức (Hà Đông), Trung Mầu (Gia Lâm), Cổ Loa (Đông Anh), và
ông dẫn các con theo cùng. Hay vào các cuối tuần, nếu không bận, ông
thường đưa cả gia đình đi tham quan các danh lam thắng cảnh quanh Hà Nội
như chùa Trầm, chùa Thầy, chùa Trăm Gian, chùa Hương… Ông thích thăm
chùa chiền vì ngày trước lúc còn hoạt động cách mạng bí mật, ông từng ở
chùa gần ba năm khi mất liên lạc với tổ chức. Khi đó, ông giả trang thành nhà
sư ở chùa Bột Xuyên (Mỹ Đức, Hà Đông), ngày ngày tụng kinh gõ mõ, tối đi
tuyên truyền, gây dựng cơ sở cách mạng.
Nói về tính cần kiệm của cha mình, cô Mai cứ cười mãi. Câu chuyện cô kể
nghe như giai thoại. Khi ở nhà tướng Dũng thường đi guốc mộc. Vì dùng đã
lâu, đôi guốc bị hỏng. Nhưng ông không bỏ. Mòn thì đóng đế, sứt quai thì
đóng đinh lại cho chắc. Đôi guốc ấy ông sửa đi sửa lại bao lần, đến khi trên
đôi guốc không còn chỗ để đóng đinh nữa thì ông mới chịu thay guốc mới.
Hay như việc dùng giầy cũng vậy. Tướng Dũng tự nhận chân mình là chân
Giao Chỉ. Vì chân ông đặc biệt nên quân nhu phải đóng giầy riêng. Biết nhiêu
khê như thế nên ông càng giữ lắm. Nếu hỏng lại tự sửa, tận dụng đến khi
không thể sửa nữa mới thôi. Thực ra cũng nhờ ông khéo tay. Ngoài việc tự
sửa giầy dép, ông còn tự sửa cả quần áo cho đến lúc lấy vợ. Tuổi thơ khốn
khó, cộng với thời trẻ đi lao động kiếm sống cực nhọc tại xưởng dệt đã giúp
ông rèn luyện đức tính ấy.
Về thói quen hàng ngày của Đại tướng Văn Tiến Dũng, cô Mai rất thích
thú, kể say sưa. Bố cô giữ nếp làm việc và sinh hoạt rất chặt chẽ. Suốt mấy
chục năm hầu như không sai bao giờ: 5h sáng dậy vừa tập thể dục vừa nghe
tin buổi sáng, 6 giờ ăn sáng rồi vào Thành làm việc, 11 giờ về nhà nghỉ trưa,
1 giờ chiều đi làm, 5 giờ rời cơ quan là chơi thể thao khoảng 30 phút đến 1
tiếng, 6 giờ ăn tối xong sẽ đi dạo quanh sân, vừa đi vừa áp chiếc đài nhỏ lên
tai để nghe tin tức.
Ông có hai sở thích đặc biệt: đầu tiên là yêu thể thao, phải nói là say mê
mới đúng. Ông thường xuyên luyện tập thể dục thể thao và coi đó là một chế
độ trong ngày. Ông nói với cán bộ bảo vệ: "Thiếu cơm một bữa thì được,
nhưng không thể thiếu thể thao". Chiều nào cũng vậy, sau giờ làm việc ở cơ
quan, Đại tướng lại cùng anh em bộ phận giúp việc nhà riêng: bảo vệ, bác sĩ,
lái xe… chơi thể thao, khi thì bóng đá, bóng chuyền, còn nếu trời mưa thì vào
phòng đánh bóng bàn. Thanh niên trong khu phố lính Hoàng Diệu trạc tuổi cô
Mai thời đó cứ có thời gian là lại sang nhà tướng Dũng để tham gia cùng.
Những lúc như thế, nhà tướng Dũng luôn rộn tiếng reo hò: khó mà phân biệt
được ai là sĩ quan, ai là chiến sĩ, ai là tướng, tất cả đều hò reo như nhau.
Không chỉ chơi mà ông còn hăng say cổ vũ cho những hoạt động thể thao
trong quân đội.
Vào mùa hè, nếu không chơi các môn đó thì ông đi bơi ở Câu lạc bộ Quân
nhân. Ông còn kéo cả vợ đi bơi cùng. Về già, ông luyện tập những môn nhẹ
nhàng như đạp xe, đi bộ. Những năm cuối đời, không thể đi bộ ngoài trời thì
ông đi bộ trong nhà. Sở thích thứ hai là nghe hát chèo. Luôn luôn trong giờ
buổi trưa, khi ăn cơm là ông lại mở đài nghe chương trình phát thanh dân ca
và nhạc cổ truyền. Cô Mai nói thêm: trong bữa cơm, ông thường kể chuyện
hoạt động cách mạng: ông bị bắt giam ba lần; cánh tay trái của ông giờ không
thể giơ lên cao do khuỷu tay ông bị xiên dây thép qua trong những trận đòn
tra ở nhà tù Hỏa Lò.
Ưa thể thao là thế nhưng ông cũng hút thuốc. Song không phải như cách
thông thường. Thời trẻ ông hút thuốc nhưng đã bỏ từ lâu, cả bà Kỳ lẫn cô Mai
đều không biết ông bỏ thuốc từ bao giờ. Tuy nhiên, bà Kỳ thường mua sẵn
một bao thuốc lá bỏ sẵn vào trong ngăn kéo bàn làm việc của ông. Chỉ khi có
tin vui, như tin thắng trận báo về, khi đó ông mới lấy ra một điếu để hút. Đó
là cách ông tự thưởng cho mình.
Lần lượt nắm giữ những chức vụ cao cấp chỉ huy quân đội nhưng ông lại
hay nhường vợ vì bà Kỳ nóng tính. Đại tướng rất nể vợ, người nội tướng của
mình. Cô Mai nói đến đây lại nhìn mẹ cười cười. Bà Kỳ làm việc ở Ban Tổ
chức Trung ương Đảng. Ngoài mấy người con ruột, ông bà còn nuôi nấng,
dạy dỗ một số con các bạn chiến đấu đã hy sinh trên chiến trường, con các cơ
sở cách mạng, con liệt sĩ, tất cả ăn ở học hành chung như anh em một nhà, và
bữa ăn trong nhà bao giờ cũng vui vẻ, náo nhiệt. Trong gia đình tướng Dũng,
mọi việc sinh hoạt của con cái đều do bà Kỳ giải quyết để chồng yên tâm
công tác, không làm phân tán suy nghĩ, tư tưởng của ông.
Đã ba tiếng đồng hồ trôi qua. Bà Kỳ ngồi lâu nên đã mỏi lưng. Bà chầm
chậm đứng dậy khỏi ghế, chào tôi, không quên dặn cô Mai nhớ cất album
ảnh. Đợi bà đi khỏi, cô Mai nói với tôi: bà vẫn khỏe nhưng trí nhớ đã suy
giảm. Giờ bà không nhớ những chuyện gần đây, nhưng vẫn nhớ và thường
hay kể chuyện ngày xưa khi bà còn trẻ, cái thời ông bà đang yêu.
Kể chuyện cho tôi nghe, nhưng cô Mai không yên tâm, cô sợ là mình
không nhớ hết những kỷ niệm quý giá về bố mình. Cô nói chúng tôi liên hệ
với hai người con gái khác của Đại tướng Văn Tiến Dũng là cô Văn Minh
Tâm và cô Văn Việt Hoa. Cô Tâm đã ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng vẫn
khỏe khoắn, nói chuyện từng việc đâu đấy rõ ràng. Cô bảo bố cô thường dặn
con mấy việc: Thứ nhất là tiền của, vật chất, tất cả chỉ là phương tiện để giúp
người ta thực hiện được mục đích cách mạng của mình. Thứ hai là con người
ta không phải lúc nào cũng tốt hết, mà có những lúc mắc sai lầm, nhưng khi
người ta có sai lầm thì mình tìm cách kéo ngư...
 





