TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Trang học liệu của nhà trường Trang học liệu trực tuyến của nhà trường được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy – học, tự học và đổi mới phương pháp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đây là nơi tập hợp, lưu trữ và chia sẻ các học liệu số như: bài giảng, giáo án, đề kiểm tra, phiếu học tập, video minh họa, tài liệu tham khảo… do giáo viên trong trường biên soạn và tuyển chọn. Thông qua trang học liệu, giáo viên thuận tiện trong việc trao đổi chuyên môn, sử dụng tài nguyên chung, đồng thời hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố kiến thức và học tập mọi lúc, mọi nơi. Trang học liệu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và hình thành thói quen tự học, học tập suốt đời cho học sinh.

    Ảnh ngẫu nhiên

    💕💕 Đọc sách là gieo hạt giống cho trí tuệ.” – Ngạn ngữ phương Tây💕hư viện tốt là nền móng của một nền giáo dục tốt.” – Khuyết danh💕

    Video sự tích cây nêu đất

    TƯỚNG LĨNH VIỆT NAM THẾ KỶ 20 QUA LỜI KỂ NGƯỜI THÂN.pdf

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Dương Thị Thanh Tuyến
    Ngày gửi: 09h:27' 18-04-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    TƯỚNG LĨNH VIỆT NAM THẾ KỶ XX QUA LỜI KỂ CỦA
    NGƯỜI THÂN
    ---❊ ❖ ❊--Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
    Phát hành: ThaiHaBook
    Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân
    Nguồn text: Waka
    Đóng gói: @nguyenthanh-cuibap
    ebook©vctvegroup

    Lời Cảm Ơn

    Cuốn sách "Tướng lĩnh Việt Nam thế kỷ XX qua lời kể của người thân"
    được Công ty Cổ phần Sách Thái Hà và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
    hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức.
    Trước hết, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ của các
    gia đình tướng lĩnh. Nếu không có sự quan tâm, góp ý và động viên chân
    thành từ thân nhân của các tướng lĩnh, chúng tôi khó lòng biên soạn được
    cuốn sách này. Không chỉ gửi bài viết và ảnh tư liệu để đóng góp cho cuốn
    sách, các gia đình đã có những gợi ý thiết thực và cung cấp những thông tin
    quý báu để chúng tôi có thể tiếp cận các nguồn tư liệu và gặp gỡ các nhân
    chứng lịch sử.
    Chúng tôi đặc biệt bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với ông Hoàng Anh Tuấn
    (cháu trai Đại tướng Hoàng Văn Thái), ông Phạm Hồng Minh (con trai Trung
    tướng Phạm Hồng Sơn) và ông Trần Kiến Quốc (con trai Thiếu tướng Trần
    Tử Bình) - họ đã ủng hộ nhóm biên soạn ngay từ những ngày đầu, cung cấp
    những thông tin hết sức có giá trị và truyền cảm hứng cho nhóm biên soạn
    trong suốt quá trình thực hiện cuốn sách này.
    Nhóm biên soạn cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban biên tập ảnh thuộc
    Thông tấn xã Việt Nam đã nhiệt tình cung cấp một số hình ảnh minh họa
    trong sách.
    Cuối cùng, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của độc giả để
    cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong những lần in sau.
    Thay mặt nhóm biên soạn
    TS. Nguyễn Mạnh Hùng

    Lời Nhà Xuất Bản

    Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã lập nên
    nhiều chiến công hiển hách, giữ vững non sông bờ cõi Việt Nam. Trong thế
    kỷ XX, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc chiến tranh giành độc lập
    dân tộc, đó là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
    lược.
    Cùng với sức mạnh của toàn Đảng, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
    Quân đội nhân dân Việt Nam đã trực tiếp góp phần làm nên một Điện Biên
    Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" đặt dấu chấm hết cho ách đô hộ
    của thực dân Pháp đối với nước ta; đó là Đại thắng mùa Xuân 1975, mà đỉnh
    cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
    thống nhất nước nhà.
    Những chiến công và thành tích vẻ vang của quân đội ta bắt nguồn từ sự
    lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh mà thường
    xuyên và trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; trong đó có phần
    đóng góp công sức, xương máu của lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong
    toàn quân.
    Trong khói lửa chiến tranh, trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng
    thành của quân đội đã xuất hiện nhiều lớp cán bộ điển hình, mẫu mực, có
    trình độ chỉ huy, tác chiến giỏi; luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm
    vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Nhiều đồng chí trở thành sĩ quan cấp
    tướng trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
    Những chiến công, những bài học về nghệ thuật quân sự, về cách đánh mà
    các vị tướng để lại được phản ánh trong rất nhiều sách đã được xuất bản. Bộ
    sách "Tướng lĩnh Việt Nam thế kỷ XX qua lời kể của người thân" do Nhà xuất
    bản Quân đội nhân dân phối hợp cùng
    Công ty Cổ phần Sách Thái Hà xuất bản và phát hành sẽ góp thêm một

    góc nhìn mới về chân dung các vị tướng trong những khoảnh khắc đời
    thường, về những điều mà chỉ có người thân của họ mới được chứng kiến.
    Tập 1 của bộ sách được xuất bản lần này giúp bạn đọc tìm hiểu về cuộc
    sống đời thường của 15 trong số các vị tướng được thụ phong trong thời kỳ
    chiến tranh giải phóng. Tư liệu về quá trình hoạt động cách mạng, công tác
    và trong cuộc sống đời thường của các vị tướng rất phong phú, sâu sắc.
    Những câu chuyện được kể thông qua người thân là những kỷ niệm không
    quên, ấn tượng sâu sắc, tình cảm thân thương... song đã diễn ra từ rất lâu rồi,
    nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Dù vậy, cuốn sách cũng cung cấp cho
    bạn đọc những tư liệu để tham khảo.
    Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, phê bình của người thân,
    gia đình các vị tướng cùng các đồng chí và bạn đọc gần xa.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc!
    NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

    Lời Nói Đầu

    Tôi may mắn được đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần từ
    năm 1995. Một thực tế là tôi đã học được rất nhiều từ vị Tổng tư lệnh đa tài,
    khiêm tốn, bản lĩnh, dễ gần. Những bài học chúng tôi mang áp dụng vào quản
    trị doanh nghiệp cũng như cuộc sống và thấy rằng rất tuyệt vời. Hóa ra nghệ
    thuật chiến tranh với nghệ thuật kinh doanh, nghệ thuật sống rất gần nhau và
    có rất nhiều điểm tương đồng.
    Từ những lần đến thăm Đại tướng, tôi thật may mắn được biết đến các anh
    chị Võ Điện Biên, Võ Hồng Nam, Võ Hồng Anh, Võ Hạnh Phúc, Võ Hòa
    Bình. Tôi lại may mắn học được thật nhiều từ những người con tuyệt vời của
    Đại tướng.
    Rồi sau này tôi may mắn biết đến và có dịp gặp gỡ, trao đổi, học hỏi từ
    các anh Chu Thế Sơn, con trai Đại tướng Chu Huy Mân; Văn Tiến Huấn, con
    trai Đại tướng Văn Tiến Dũng; Hoàng Quốc Trinh, con trai Đại tướng Hoàng
    Văn Thái; Lê Đông Hải, con trai Đại tướng Lê Trọng Tấn,… Những câu
    chuyện được nghe các anh kể lại về cha của mình làm cho tôi trưởng thành
    rất nhiều. Tôi cũng mang những bài học quý giá từ các vị tướng nổi tiếng áp
    dụng vào cuộc sống, quản trị doanh nghiệp và thấy quá tuyệt vời.
    Chúng ta đã bước vào những ngày đầu tiên của năm 2015, một năm có rất
    nhiều sự kiện quan trọng: 40 năm ngày thống nhất đất nước, 70 năm ngày
    Quốc khánh nước Việt Nam. Nhiều lần thầy trò chúng tôi bàn bạc về các đề
    tài sách sẽ xuất bản trong năm nay và một trong các đề tài tạo hứng thú cho
    chúng tôi chính là các vị tướng tài năng. Chúng tôi nghĩ về sự kiện quan
    trọng: Ngày 28 tháng 5 năm 1948, lễ phong tướng đầu tiên được tổ chức tại
    Việt Bắc. Có 1 Đại tướng, 1 Trung tướng và 9 Thiếu tướng được phong.
    Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 11 vị tướng đầu tiên. Sau này còn có
    những vị tướng khác được phong trong chiến tranh giải phóng. Chúng tôi

    thấy rằng mỗi vị đều có những tài năng khác nhau, những công lao to lớn
    khác nhau, đó là sự hội tụ những giá trị nghệ thuật quân sự đáng để mỗi
    chúng ta học tập và phổ biến.
    Do quỹ thời gian cũng như khả năng còn rất hạn chế, chúng tôi quyết định
    chỉ tìm hiểu về những vị tướng từng tham gia chiến tranh giải phóng. Hơn thế
    nữa, chúng tôi chưa có ý định xuất bản ngay sách về cuộc đời và sự nghiệp
    của những vị tướng tài ba này mà muốn khai thác một khía cạnh nhỏ: Những
    vị tướng qua lời kể của người thân. Theo chúng tôi, người thân của các tướng
    lĩnh gồm cả gia đình và bạn bè, đồng chí thân thiết.
    May mắn đã mỉm cười với chúng tôi khi chúng tôi đã liên lạc được và
    nhận được bài viết, thông tin từ 15 gia đình tướng lĩnh. Những cuộc gặp gỡ
    trực tiếp, qua điện thoại và email với các thành viên của 15 gia đình đã giúp
    chúng tôi có nhiều tư liệu quý, nhiều câu chuyện vô cùng có giá trị cung cấp
    cho bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo. Chúng tôi thành tâm biết ơn các bác,
    các anh, các chị đã hết sức nhiệt tình và tin tưởng để giúp chúng tôi hoàn
    thành bản thảo cuốn sách này.
    Về cách xếp thứ tự các vị tướng trong sách, chúng tôi có nhiều băn khoăn.
    Thường thì danh sách được xếp theo vần chữ cái ABC. Tuy nhiên, chúng tôi
    thấy chưa ổn. Cũng có cách xếp thứ tự theo năm sinh của các vị tướng, rồi
    cách xếp theo cấp hàm,… Cuối cùng chúng tôi quyết định chọn cách xếp theo
    năm phong hàm. Cách xếp thứ tự này có thể chưa phải là tốt nhất nhưng
    chúng tôi cũng chưa tìm ra cách xếp tốt hơn.
    Cuốn sách được xuất bản ngay trước thềm năm mới âm lịch Quý Mùi
    2015. Chúng tôi tin rằng bạn đọc sẽ học được rất nhiều từ những câu chuyện
    rất mộc mạc, giản dị nhưng ý nghĩa này. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là tập 1
    của bộ sách. Chúng tôi kính mong nhận được thông tin từ người thân của các
    vị tướng còn lại để có thể xuất bản nhân dịp 02-09-2015 tới. Mọi thông tin
    xin được gửi về daivt@thaihabooks.com và publication@thaihabooks.com.
    Cuốn sách không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy chúng tôi kính
    mong nhận được sự góp ý của quý vị và bạn đọc để có thể hoàn thiện nội

    dung trong lần tái bản tới.
    TS. Nguyễn Mạnh Hùng
    Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Thái Hà Books

    1
    Thiếu Tướng Lê Thiết Hùng

    Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (1908 - 1986) tên thật là Lê Văn Nghiệm,
    quê xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia cách
    mạng từ năm 1925, vào Đảng năm 1930, nhập ngũ năm 1944, được phong
    Thiếu tướng năm 1946.
    Năm 1925, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Việt Nam
    Thanh niên Cách mạng đồng chí hội).
    Từ năm 1940 đến năm 1945, ông tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố ở
    Trung Quốc, về nước hoạt động ở Chiến khu Cao - Bắc - Lạng, tổ chức và
    làm Chính trị viên Đội vũ trang đặc biệt; Giám đốc đầu tiên của Trường Quân
    sự Cao Bằng.
    Tháng 8 năm 1945, ông chỉ huy lực lượng vũ trang giành chính quyền ở
    Thất Khê, Đồng Đăng, Na Sầm.
    Cuối năm 1945, ông làm Khu trưởng Khu 4.
    Tháng 3 năm 1946, ông là Tổng chỉ huy Quân tiếp phòng.
    Từ năm 1948 đến năm 1950, Thiếu tướng Lê Thiết Hùng làm Tổng thanh
    tra quân đội; chỉ huy mặt trận Bắc Kạn, Tuyên Quang; Hiệu trưởng Trường
    bổ túc Quân chính trung cấp.
    Giai đoạn 1950 - 1954, ông đảm nhiệm chức Hiệu trưởng Trường Lục
    quân; Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu. Giai đoạn 1956 1963, ông làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Pháo binh.
    Năm 1963, ông làm Đại sứ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại
    Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên.
    Tháng 5 năm 1970, ông làm Phó Ban Đối ngoại Trung ương.

    Ông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương
    Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến
    thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...
    (Nguồn: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam,
    NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, trang 599)
    Phụ tử tình thâm
    Vũ Trọng Đại
    Một chiều mùa đông tháng 12, chúng tôi đến gặp cô Lê Mai Hương ở nhà
    riêng nằm giữa phố Trần Hưng Đạo. Đây cũng là nơi tướng Lê Thiết Hùng ở
    khi còn sinh thời. Cô đón chúng tôi vẫn với nụ cười dễ mến, giọng nói nhỏ
    nhẹ, tình cảm như lần gặp đầu tiên trước đó nửa tháng. Cô khẽ khàng đi pha
    trà, rót nước mời khách, và giọng nói chợt xa xôi khi hồi tưởng về người cha
    của mình.
    Lê Mai Hương là con duy nhất của Thiếu tướng Lê Thiết Hùng với người
    vợ thứ hai, bác sĩ quân y Nguyễn Tuyết Mai. Hai người kết hôn năm 1948,
    một năm sau ngày mất của người vợ đầu là bà Hồ Diệc Lan, con gái nhà cách
    mạng Hồ Học Lãm. Bà Hồ Diệc Lan qua đời ở tuổi 27 vì nhiễm bệnh phổi
    quá nặng, khi đó họ chưa kịp có với nhau mặt con nào. Vợ chồng Thiết Hùng
    - Tuyết Mai hẹn ước rằng khi nào cách mạng thắng lợi mới sinh con. Thế
    nhưng cuộc kháng chiến kéo dài đằng đẵng. Người ngoài cũng phải sốt ruột,
    giục giã vì mãi không thấy vợ chồng tướng Hùng sinh con. Cuối cùng phải
    đến 10 năm sau ngày cưới, bé gái Lê Mai Hương cũng đã chào đời sau bao
    mong mỏi, trông chờ.
    Trong thời chiến, dù đang ở hậu phương, người ta cũng khó có thể có
    được cuộc sống bình yên như lẽ thường, nhất là trong gia đình của một vị
    tướng. Hàng ngày tướng Lê Thiết Hùng đi làm về rất khuya, thường 11, 12
    giờ đêm mới về đến nhà. Bà Mai đi làm ở xa, chỉ tối thứ năm, tối thứ bảy mới
    về, chủ nhật lại vội vã đi. Bé Hương ở nhà với bà nội và một người bác,
    nhưng không được ở gần bố. Lớn lên Lê Mai Hương mới biết mọi người
    trong nhà không cho cô con gái nhỏ gần bố để giữ sức khỏe cho tướng Lê

    Thiết Hùng. Ông yếu đi nhiều sau lần lái xe bị tai nạn những năm trước đó:
    chấn thương nặng và phải nằm viện suốt 6 tháng trong tình trạng mất trí nhớ.
    Di chứng của vụ tai nạn ấy đeo đẳng ông đến hết cuộc đời. Thêm nữa, công
    việc lúc nào cũng bề bộn. Bé Hương không biết gì, đêm đến đợi người lớn
    ngủ lại len lén lên gác ngủ với bố. Còn tướng Lê Thiết Hùng thì cứ thao thức
    chờ con.
    Nỗi xúc động dâng lên nghẹn lời, cô Hương dừng lại hồi lâu. Đang lúi húi
    ghi chép, tự nhiên bặt tiếng, tôi ngẩng lên nhìn, thấy cô ngồi ngay đó, trước
    mặt tôi, im lặng. Dường như cô đang cố kiềm chế cảm xúc của mình, nhưng
    nước mắt đã trào ra rưng rưng trên khóe mắt.
    Ở cái tuổi tri thiên mệnh mới có mụn con nên tướng Lê Thiết Hùng
    thương và cưng chiều con gái lắm. Còn nhớ những ngày ông tham gia chỉ
    huy chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ sau khi chiếm được đồi A1, bắt được
    tướng De Castries, vừa vì mừng vui, hạnh phúc, vừa vì căng thẳng dồn nén
    mà ông ngất đi, bất tỉnh suốt 7 ngày. Sau này, ông được đi nghỉ ở Sochi (Liên
    Xô) một tháng để hồi phục sức khỏe. Trong đoàn cùng đi chuyến này với ông
    có bà Bảy Huệ, vợ ông Nguyễn Văn Linh. Những người khác khi về lo sắm
    sửa mua quà cho người thân, còn ông để dành được ít rúp lẻ thì ngoài bánh
    kẹo cho mẹ, ông chỉ mua quà cho con: một cái máy khâu tay cho trẻ con, một
    con búp bê và một cái xe đạp 3 bánh. Ông hầu như không bao giờ quát mắng
    con, cũng không tiếc con bất kỳ thứ gì, thậm chí bỏ cả súng, tháo cả đạn cho
    con chơi. Cô bé hạnh phúc trong vòng tay cha, nhưng sẽ sớm biết điều đang
    chờ phía trước: Chiến tranh và chia ly.
    Năm 1964, Lê Mai Hương lên 6, cũng là lúc Mỹ tiến hành chiến tranh phá
    hoại miền Bắc. Bé Hương về quê sơ tán. Trước đó, năm 1963, tướng Lê Thiết
    Hùng nhận nhiệm vụ mới: ông chuyển sang ngành ngoại giao, làm Đại sứ của
    nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Triều Tiên cho đến năm 1970. Kể từ
    đó mỗi năm bé Hương chỉ gặp được bố một lần, có năm không gặp được lần
    nào. Khi về nước, tranh thủ được giờ nào là ông Hùng chỉ chơi với con: cho
    con đi công viên, làm ngựa cho con cưỡi… Năm 1969, Lê Mai Hương học

    lớp 5, cô được bố cho sang Triều Tiên ba tháng. Hai bố con đi tàu. Trên
    đường đi qua Trung Quốc, ông Hùng kể cho con nghe về Mao Trạch Đông và
    cách mạng Trung Quốc. Tới các nhà ga, từ xa bé Hương thấy những tiểu
    Hồng vệ binh tươi cười vẫy chào đoàn tàu đang tới. Họ cầm những cái rổ. Bé
    Hương reo lên: "Bố ơi bố, người ta cho kẹo kia kìa". Ông Hùng nói:
    "Thế à, họ cho kẹo cơ à". Đến gần mới biết là họ phát huy hiệu Mao Trạch
    Đông. Ông Hùng cười vui vẻ: "Con bé này đúng là tham ăn thật". Ông lấy
    mấy cái huy hiệu cài lên ngực con. Thế rồi hai bố con lại nói chuyện về Mao
    Trạch Đông.
    Giọng cô Hương cứ tươi vui dần theo những kỷ niệm chơi đùa cùng bố, để
    rồi tiếng cười vỡ òa ra trong trẻo khi kể về những câu chuyện trong chuyến
    hành trình sang Triều Tiên. Nhưng giọng cô chùng lại: đến biên giới Trung
    Quốc - Triều Tiên, một sự cố xảy ra khiến vị Đại sứ không thể vui vẻ được
    nữa.
    Tại Tân Nghĩa Châu (Sinuiju), thành phố kề bên sông Áp Lục ở biên giới
    Trung - Triều, Đại sứ Lê Thiết Hùng biết tin một nữ sinh viên năm thứ hai
    người Việt ở đây buổi sáng tập thể dục nhưng lên cơn đau tim, ngất xỉu, được
    đưa đi cấp cứu nhưng không kịp nên đã qua đời. Ông buồn lắm. Đưa con gái
    đến Bình Nhưỡng, ngay ngày hôm sau ông quay lại Tân Nghĩa Châu để viếng
    nữ sinh viên xấu số. Ông khóc mãi vì thương sinh viên của mình mất khi còn
    trẻ quá, lại ở xa gia đình, xa người thân.
    Đại sứ Lê Thiết Hùng được ông Kim Nhật Thành (khi đó là Thủ tướng) và
    các Phó Thủ tướng quý mến. Thế nên lưu học sinh Việt Nam ở Triều Tiên
    được ưu ái, được chu cấp tiền bạc, ăn uống đầy đủ. Đại sứ Lê Thiết Hùng với
    tâm huyết lớn lao dành cho Tổ quốc nên đặt kỳ vọng vào các bạn trẻ. Ông
    muốn họ dành tâm sức vào việc học tập để sau này về cống hiến cho đất
    nước. Thế nhưng ông không biết tâm lý của họ cũng muốn dành dụm được
    chút ít trong thời gian du học. Ông kiên quyết là tiền nước bạn cho chỉ để lưu
    học sinh của ta ăn uống thật tốt, có sức khỏe để còn học tập, thế nên lưu học
    sinh khi đó ở Triều Tiên chẳng mua sắm được gì nhiều nhặn khi về nước. Họ

    cảm thấy không được vui.
    Cuối năm 1969, ông Lê Thiết Hùng thôi làm Đại sứ và về Việt Nam. Về
    nước, lập tức ông lại cuốn vào công việc. Ngày thường cứ đến nửa đêm, có
    sớm cũng là 9 giờ tối ông mới về đến nhà. Bà Mai cũng vậy nên có tuần bé
    Hương không gặp bố mẹ mình vì đi ngủ rồi thì bố mẹ mới về. Đến năm 1973,
    ông Lê Thiết Hùng bị một cơn nhồi máu cơ tim nhưng rất may bà Mai là bác
    sĩ giỏi nên phát hiện kịp thời, đề nghị tổ y tế cấp cứu tại chỗ chứ không đưa
    vào bệnh viện. Ông bất tỉnh suốt ba ngày. Bộ Chính trị lo lắm, mọi người ai
    cũng nói: "Anh ấy đi chiến trường bao nhiêu năm, vào sinh ra tử mấy lần mà
    không chết, lúc này không thể để anh ấy chết được". Thế rồi ông cũng qua
    khỏi. Song người ta tiên liệu rằng ông chỉ còn sống được hai năm nữa. Nhờ
    thế, công việc của ông cũng giảm được đôi chút, nhưng lại trở về guồng quay
    cũ cho đến khi giải phóng miền Nam năm 1975. Năm 1975, Lê Mai Hương
    vào đại học, ở trong trường nên một, hai tuần mới về nhà một lần. Trong
    hoàn cảnh ấy, bố con gặp nhau cũng chỉ nói chuyện được dăm ba câu.
    Từ năm 1970, Lê Thiết Hùng làm Phó ban CP-48 về Campuchia, rồi Phó
    Ban Đối ngoại Trung ương Đảng cho đến khi nghỉ hưu. Năm 1978, ông nghỉ
    hưu. Sức khỏe của ông yếu đi nhiều. Ông ở nhà nhưng bạn bè, khách khứa
    vẫn đến chơi luôn. Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc diễn ra, khách khứa
    vãn dần. Nhưng từ năm 1982, mọi người lại đến chơi tấp nập.
    Khoảng năm 1983, cuộc sống gia đình càng trở nên khó khăn hơn trong
    cái khó khăn chung của xã hội. Ông Lê Thiết Hùng hưởng lương của cấp
    tướng chuyển sang dân sự, về hưu khi là Phó Ban Đối ngoại Trung ương
    Đảng hàm tương đương Bộ trưởng, được hưởng tiêu chuẩn ở phố Tôn Đản.
    Nhưng khi ấy ông chỉ còn được hưởng tiêu chuẩn ở phố Nhà Thờ, tức là cao
    hơn cán bộ cấp cục, vụ một chút. Ngoài ra không còn nhiều tiền để chi tiêu.
    Bà Mai vì thế phải cố gắng xoay xỏa, tằn tiện hơn. Ông ăn uống giản dị, cơm
    chan nước tương cũng được, nên chẳng than phiền gì. Có gì ngon ông đều
    nhường cho con gái. Có lần, lâu lắm rồi gia đình mới mua được cá nục. Ông
    Lê Thiết Hùng quê Nghệ An nên rất thích ăn cá nục kho. Lê Mai Hương đem

    cá ra kho. Cả nhà ăn xong để phần cho ông Hùng hai con cá. Ông ăn đến con
    thứ hai, đang định gắp thì con mèo ngồi cạnh lấy chân khều mất con cá trên
    đĩa. Ông ngồi thần cả người ra.
    Tuổi trên 70, sức khỏe yếu, bị bệnh tật hành hạ nhưng tướng Lê Thiết
    Hùng không kêu ca, đòi hỏi bất kỳ điều gì. Lúc này ông bị đau thần kinh tọa
    nặng. Hàng ngày ông tự xoa bóp. Khi đau quá, ông mới phải nhờ đến người
    khác. Ông nằm ra, nhờ người cháu đang tuổi thanh niên giẫm mạnh lên lưng,
    hông, như vậy mới đỡ chứ bấm huyệt không tác dụng gì.
    Gia đình làm nhiều cách để cải thiện cuộc sống. Như nhiều gia đình khác,
    nhà tướng Hùng cũng nuôi lợn, gà. Chồng Hương và Hương lo việc mua thức
    ăn, còn ông lo việc chăm sóc. Tính ông ngăn nắp, cẩn thận, việc đâu ra đấy,
    đến chăn lợn, gà cũng vậy. Đức tính này được rèn giũa khi ông hoạt động
    tình báo trong lòng quân đội Tưởng Giới Thạch cuối những năm hai mươi
    của thế kỷ trước. Nó vẫn phát huy tác dụng khi ông tướng đã về hưu, ở nhà
    chăn lợn, nuôi gà. Không nhớ là dịp gì, cả bà Mai và cô Hương đều vắng nhà
    mấy ngày. Một mình ông vừa cho gà ăn vừa nấu cám cho lợn, dọn chuồng,
    tắm cho lợn sạch sẽ.
    Nhưng khi cả nhà về, ông lăn ra ốm.
    Năm 1984, Lê Mai Hương lúc đấy đã đi làm trong ngành công an. Cô
    Hương còn nhận việc về nhà làm thêm. Thời buổi ấy nhiều nhà làm vậy để có
    thêm thu nhập. Cô Hương nhận giấy in bao bì cao Sao vàng của Nhà in Tiến
    Bộ để về dán, gấp thành vỏ bao thành phẩm, mỗi chiếc được trả mấy xu.
    Tướng Hùng chẳng nề hà gì, ông cần mẫn từ sáng tới tối ngồi dán vỏ bao cho
    con.
    Năm 1983, Lê Mai Hương có con đầu lòng nhưng không giữ được. Tướng
    Hùng bị sốc nặng, tưởng không qua được. Tuần đầu sau khi cháu mất, ông im
    lặng trong đau đớn. Ai hỏi cũng không nói, dù chỉ một câu. Ông buồn bã
    hàng tháng trời. Năm 1984, bệnh tình của ông càng nặng hơn. Nhưng đến
    năm sau, cô Hương sinh con gái đầu. Ông phấn khởi lắm, nhận ngay nhiệm
    vụ chăm cháu. Sau thời gian nghỉ sinh 3 tháng, cô Hương đi làm trở lại. Thế

    là hàng ngày ông bế cháu, rồi pha sữa, cho cháu ăn, thay tã cho cháu. Bà Mai
    cũng không tranh được nên bà chăm ông, giữ gìn sức khỏe cho ông để ông
    chăm cháu.
    Khi cháu được 10 tháng tuổi thì tướng Hùng mất. Trước khi ông mất
    khoảng chục ngày, cháu cứ nhìn thấy ông là hét lên. Sáng hôm đó, ông đặt
    cháu trong cũi, nói: "Chào cháu, ông đi nhé". Ông đi chơi về, vào nhà tắm, bị
    lên cơn đau tim rồi mất.

    2
    Đại Tướng Văn Tiến Dũng

    Đại tướng Văn Tiến Dũng (1917 - 2002) quê ở xã Cổ Nhuế, huyện Từ
    Liêm, thành phố Hà Nội. Ông tham gia cách mạng từ năm 1936, kết nạp
    Đảng năm 1937, nhập ngũ năm 1945. Ông được phong Đại tướng năm 1974.
    Những năm 1943, 1944, ông làm Bí thư Ban Cán sự Đảng Hà Đông, Bắc
    Ninh, Ủy viên Thường vụ rồi Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Nhiều lần ông bị thực
    dân Pháp bắt giam. Tháng 1 năm 1945, ông bị kết án tử hình vắng mặt.
    Ông làm Ủy viên Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, phụ trách tổ chức
    chiến khu Quang Trung, chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa
    Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.
    Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, từ tháng 11 năm 1945 đến năm
    1946, ông làm Chính ủy Chiến khu 2. Từ tháng 12 năm 1946 đến năm 1949,
    ông làm Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội quốc gia Việt Nam, Phó Bí thư
    Quân ủy Trung ương.
    Từ tháng 10 năm 1949 đến năm 1950, ông làm Chính ủy Liên khu 3.
    Giai đoạn 1951 - 1953, ông làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên
    của Đại đoàn 320. Tháng 11 năm 1953, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân
    đội nhân dân Việt Nam.
    Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng
    tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi
    hành Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam.
    Từ năm 1954, ông làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt
    Nam, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch: Đường 9 - Nam Lào (1971); Trị Thiên
    (1972); Tây Nguyên (1975); Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh (4-1975).

    Giai đoạn 1980 - 1986, Đại tướng Văn Tiến Dũng giữ chức Bộ trưởng Bộ
    Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (1984 - 1986).
    Đại tướng Văn Tiến Dũng là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự như:
    "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"...
    Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ
    khóa III đến khóa VI (Ủy viên dự khuyết khóa II), Ủy viên Bộ Chính trị (31972) khóa IV, V (Ủy viên dự khuyết khóa III), Đại biểu Quốc hội từ khóa II
    đến khóa VII.
    Đại tướng Văn Tiến Dũng được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân
    chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công
    (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương
    Kháng chiến hạng Nhất...
    (Nguồn: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam,
    NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, trang 1160)
    Mãi khắc ghi những lời cha dặn
    Vũ Trọng Đại
    Theo đề nghị của tôi từ lần gặp trước, cô Văn Tuyết Mai cho tôi xem
    những album ảnh của gia đình. Bà Nguyễn Thị Kỳ [1], hệt như lần trước, ngồi
    cạnh cô Mai và theo dõi chăm chú. Thỉnh thoảng bà lại nói điều gì đấy về
    những bức ảnh mà bà đặc biệt ghi nhớ. Hoặc những mẩu chuyện không đầu
    không cuối khi ký ức bất chợt hiện về. Sau hồi lâu vừa xem ảnh vừa trò
    chuyện với cô Mai và bà Kỳ, tôi cũng chọn được một số ảnh minh họa cho
    sách. Tôi nhận ra hai điều: đầu tiên là tính cẩn thận của Đại tướng Văn Tiến
    Dũng. Hầu như sau mỗi bức ảnh đều có bút tích của ông, ghi rõ ảnh chụp bao
    giờ, ở đâu. Không chỉ ảnh khi làm việc, công tác mà ngay cả ảnh sinh hoạt
    đời thường cũng vậy. Về đức tính ấy của tướng Dũng, sau này tôi đã được
    một người khác xác nhận [2]. Điều thứ hai, tôi thấy lạ là trong cả mấy cuốn
    album, không có bức ảnh nào chụp được đầy đủ cả gia đình. Cô Mai giải
    thích: gia đình thời chiến không phải lúc nào cũng sum họp được. Đại tướng
    Văn Tiến Dũng có 6 người con (3 trai, 3 gái) thì hầu như người nào từ nhỏ

    cũng đã vào trường thiếu sinh quân, lớn lên đi bộ đội rồi mỗi người công tác
    một nơi nên chẳng mấy khi cả nhà ở cùng một chỗ với nhau.
    Xếp gọn lại mấy quyển album, cô Mai bắt đầu kể chuyện về cha mình. Có
    vẻ như cô không biết nên bắt đầu từ đâu. Trầm ngâm một lúc, cô bắt đầu nói
    về tính cách của cha. Cha cô là người điềm tĩnh, hiền nhưng nghiêm khắc.
    Bình thường ông hay tươi cười nhưng khi trách phạt lại rất nghiêm nghị. Ông
    đang cười nói nhưng nếu nghiêm giọng lại thì người nghe hiểu là có chuyện.
    Ông không mắng mỏ những người mắc lỗi mà gọi người đó ngồi đối diện, rồi
    từ tốn phân tích khuyết điểm và nêu cách sửa chữa. Trong gia đình hay khi ở
    ngoài cũng vậy. Nếu con cái mắc lỗi, ông xử lý như với cấp dưới. Như có lần
    con trai ông là Văn Tiến Trình, khi chưa đi bộ đội thì nghịch ngợm lắm, thế
    là ông gọi vào phòng làm việc, đóng cửa lại để chỉnh huấn. Những lúc như
    thế dù biết là không bị bố nạt nộ gì đâu nhưng con ông ai cũng sợ. Nói đến
    đây, cô Mai so vai, le lưỡi rồi nhìn sang mẹ. Bà Kỳ mỉm cười, không nói gì.
    Tính điềm tĩnh ấy cũng khiến ông chịu khó lắng nghe, suy nghĩ cẩn thận
    trước khi trả lời hoặc trao đổi với người khác.
    Tướng Dũng thương con cái. Thương con nhưng không chiều con. Ông
    dạy con tính tự lập, không ỷ vào địa vị của bố. Ông thể hiện tình thương của
    mình với các con bằng sự quan tâm đến chuyện học tập ở trường hay việc
    phấn đấu ở đơn vị. Những lúc có thời gian rảnh, không bận bịu với các chiến
    dịch hoặc đi chiến trường, ông thường đi xuống địa phương thăm các đơn vị
    bộ đội để nắm tình hình, nhất là đi thăm hỏi những cơ sở cách mạng ngày
    xưa, như Mỹ Đức (Hà Đông), Trung Mầu (Gia Lâm), Cổ Loa (Đông Anh), và
    ông dẫn các con theo cùng. Hay vào các cuối tuần, nếu không bận, ông
    thường đưa cả gia đình đi tham quan các danh lam thắng cảnh quanh Hà Nội
    như chùa Trầm, chùa Thầy, chùa Trăm Gian, chùa Hương… Ông thích thăm
    chùa chiền vì ngày trước lúc còn hoạt động cách mạng bí mật, ông từng ở
    chùa gần ba năm khi mất liên lạc với tổ chức. Khi đó, ông giả trang thành nhà
    sư ở chùa Bột Xuyên (Mỹ Đức, Hà Đông), ngày ngày tụng kinh gõ mõ, tối đi
    tuyên truyền, gây dựng cơ sở cách mạng.

    Nói về tính cần kiệm của cha mình, cô Mai cứ cười mãi. Câu chuyện cô kể
    nghe như giai thoại. Khi ở nhà tướng Dũng thường đi guốc mộc. Vì dùng đã
    lâu, đôi guốc bị hỏng. Nhưng ông không bỏ. Mòn thì đóng đế, sứt quai thì
    đóng đinh lại cho chắc. Đôi guốc ấy ông sửa đi sửa lại bao lần, đến khi trên
    đôi guốc không còn chỗ để đóng đinh nữa thì ông mới chịu thay guốc mới.
    Hay như việc dùng giầy cũng vậy. Tướng Dũng tự nhận chân mình là chân
    Giao Chỉ. Vì chân ông đặc biệt nên quân nhu phải đóng giầy riêng. Biết nhiêu
    khê như thế nên ông càng giữ lắm. Nếu hỏng lại tự sửa, tận dụng đến khi
    không thể sửa nữa mới thôi. Thực ra cũng nhờ ông khéo tay. Ngoài việc tự
    sửa giầy dép, ông còn tự sửa cả quần áo cho đến lúc lấy vợ. Tuổi thơ khốn
    khó, cộng với thời trẻ đi lao động kiếm sống cực nhọc tại xưởng dệt đã giúp
    ông rèn luyện đức tính ấy.
    Về thói quen hàng ngày của Đại tướng Văn Tiến Dũng, cô Mai rất thích
    thú, kể say sưa. Bố cô giữ nếp làm việc và sinh hoạt rất chặt chẽ. Suốt mấy
    chục năm hầu như không sai bao giờ: 5h sáng dậy vừa tập thể dục vừa nghe
    tin buổi sáng, 6 giờ ăn sáng rồi vào Thành làm việc, 11 giờ về nhà nghỉ trưa,
    1 giờ chiều đi làm, 5 giờ rời cơ quan là chơi thể thao khoảng 30 phút đến 1
    tiếng, 6 giờ ăn tối xong sẽ đi dạo quanh sân, vừa đi vừa áp chiếc đài nhỏ lên
    tai để nghe tin tức.
    Ông có hai sở thích đặc biệt: đầu tiên là yêu thể thao, phải nói là say mê
    mới đúng. Ông thường xuyên luyện tập thể dục thể thao và coi đó là một chế
    độ trong ngày. Ông nói với cán bộ bảo vệ: "Thiếu cơm một bữa thì được,
    nhưng không thể thiếu thể thao". Chiều nào cũng vậy, sau giờ làm việc ở cơ
    quan, Đại tướng lại cùng anh em bộ phận giúp việc nhà riêng: bảo vệ, bác sĩ,
    lái xe… chơi thể thao, khi thì bóng đá, bóng chuyền, còn nếu trời mưa thì vào
    phòng đánh bóng bàn. Thanh niên trong khu phố lính Hoàng Diệu trạc tuổi cô
    Mai thời đó cứ có thời gian là lại sang nhà tướng Dũng để tham gia cùng.
    Những lúc như thế, nhà tướng Dũng luôn rộn tiếng reo hò: khó mà phân biệt
    được ai là sĩ quan, ai là chiến sĩ, ai là tướng, tất cả đều hò reo như nhau.
    Không chỉ chơi mà ông còn hăng say cổ vũ cho những hoạt động thể thao

    trong quân đội.
    Vào mùa hè, nếu không chơi các môn đó thì ông đi bơi ở Câu lạc bộ Quân
    nhân. Ông còn kéo cả vợ đi bơi cùng. Về già, ông luyện tập những môn nhẹ
    nhàng như đạp xe, đi bộ. Những năm cuối đời, không thể đi bộ ngoài trời thì
    ông đi bộ trong nhà. Sở thích thứ hai là nghe hát chèo. Luôn luôn trong giờ
    buổi trưa, khi ăn cơm là ông lại mở đài nghe chương trình phát thanh dân ca
    và nhạc cổ truyền. Cô Mai nói thêm: trong bữa cơm, ông thường kể chuyện
    hoạt động cách mạng: ông bị bắt giam ba lần; cánh tay trái của ông giờ không
    thể giơ lên cao do khuỷu tay ông bị xiên dây thép qua trong những trận đòn
    tra ở nhà tù Hỏa Lò.
    Ưa thể thao là thế nhưng ông cũng hút thuốc. Song không phải như cách
    thông thường. Thời trẻ ông hút thuốc nhưng đã bỏ từ lâu, cả bà Kỳ lẫn cô Mai
    đều không biết ông bỏ thuốc từ bao giờ. Tuy nhiên, bà Kỳ thường mua sẵn
    một bao thuốc lá bỏ sẵn vào trong ngăn kéo bàn làm việc của ông. Chỉ khi có
    tin vui, như tin thắng trận báo về, khi đó ông mới lấy ra một điếu để hút. Đó
    là cách ông tự thưởng cho mình.
    Lần lượt nắm giữ những chức vụ cao cấp chỉ huy quân đội nhưng ông lại
    hay nhường vợ vì bà Kỳ nóng tính. Đại tướng rất nể vợ, người nội tướng của
    mình. Cô Mai nói đến đây lại nhìn mẹ cười cười. Bà Kỳ làm việc ở Ban Tổ
    chức Trung ương Đảng. Ngoài mấy người con ruột, ông bà còn nuôi nấng,
    dạy dỗ một số con các bạn chiến đấu đã hy sinh trên chiến trường, con các cơ
    sở cách mạng, con liệt sĩ, tất cả ăn ở học hành chung như anh em một nhà, và
    bữa ăn trong nhà bao giờ cũng vui vẻ, náo nhiệt. Trong gia đình tướng Dũng,
    mọi việc sinh hoạt của con cái đều do bà Kỳ giải quyết để chồng yên tâm
    công tác, không làm phân tán suy nghĩ, tư tưởng của ông.
    Đã ba tiếng đồng hồ trôi qua. Bà Kỳ ngồi lâu nên đã mỏi lưng. Bà chầm
    chậm đứng dậy khỏi ghế, chào tôi, không quên dặn cô Mai nhớ cất album
    ảnh. Đợi bà đi khỏi, cô Mai nói với tôi: bà vẫn khỏe nhưng trí nhớ đã suy
    giảm. Giờ bà không nhớ những chuyện gần đây, nhưng vẫn nhớ và thường
    hay kể chuyện ngày xưa khi bà còn trẻ, cái thời ông bà đang yêu.

    Kể chuyện cho tôi nghe, nhưng cô Mai không yên tâm, cô sợ là mình
    không nhớ hết những kỷ niệm quý giá về bố mình. Cô nói chúng tôi liên hệ
    với hai người con gái khác của Đại tướng Văn Tiến Dũng là cô Văn Minh
    Tâm và cô Văn Việt Hoa. Cô Tâm đã ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng vẫn
    khỏe khoắn, nói chuyện từng việc đâu đấy rõ ràng. Cô bảo bố cô thường dặn
    con mấy việc: Thứ nhất là tiền của, vật chất, tất cả chỉ là phương tiện để giúp
    người ta thực hiện được mục đích cách mạng của mình. Thứ hai là con người
    ta không phải lúc nào cũng tốt hết, mà có những lúc mắc sai lầm, nhưng khi
    người ta có sai lầm thì mình tìm cách kéo ngư...
     
    Gửi ý kiến

    Học từ sách là học từ tinh hoa của nhân loại.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NAM ĐỒNG - TP. HẢI PHÒNG !