TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Trang học liệu của nhà trường Trang học liệu trực tuyến của nhà trường được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy – học, tự học và đổi mới phương pháp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đây là nơi tập hợp, lưu trữ và chia sẻ các học liệu số như: bài giảng, giáo án, đề kiểm tra, phiếu học tập, video minh họa, tài liệu tham khảo… do giáo viên trong trường biên soạn và tuyển chọn. Thông qua trang học liệu, giáo viên thuận tiện trong việc trao đổi chuyên môn, sử dụng tài nguyên chung, đồng thời hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố kiến thức và học tập mọi lúc, mọi nơi. Trang học liệu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và hình thành thói quen tự học, học tập suốt đời cho học sinh.

    Ảnh ngẫu nhiên

    💕💕 Đọc sách là gieo hạt giống cho trí tuệ.” – Ngạn ngữ phương Tây💕hư viện tốt là nền móng của một nền giáo dục tốt.” – Khuyết danh💕

    Video sự tích cây nêu đất

    Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hạnh
    Ngày gửi: 15h:42' 13-11-2025
    Dung lượng: 2.0 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Việt Nam Sử Lược
    Trần Trọng Kim
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Mục lục


    Tựa

    Nước Việt Nam

    PI-Chương 1

    PI-Chương 2

    PI-Chương 3

    PI-Chương 4

    PII-Chương 1

    PII-Chương 2

    PII-Chương 3

    PII-Chương 4

    PII-Chương 5

    PII-Chương 6

    PIII-Chương 1

    PIII-Chương 2

    PIII-Chương 3

    PIII-Chương 4

    PIII-Chương 5

    PIII-Chương 6

    PIII-Chương 7


    PIII-Chương 8

    PIII-Chương 9

    PIII-Chương 10

    PIII-Chương 11

    PIII-Chương 12

    PIII-Chương 13

    PIII-Chương 14

    PIII-Chương 15

    PIV-Chương 1

    PIV-Chương 2

    PIV-Chương 3

    PIV-Chương 4

    PIV-Chương 5

    PIV-Chương 6

    PIV-Chương 7

    PIV-Chương 8

    PIV-Chương 9

    PIV-Chương 10

    PIV-Chương 11

    PIV-Chương 12

    PV-Chương 1

    PV-Chương 2


    PV-Chương 3

    PV-Chương 4

    PV-Chương 5

    PV-Chương 6

    PV-Chương 7

    PV-Chương 8

    PV-Chương 9

    PV-Chương 10

    PV-Chương 11

    PV-Chương 12

    PV-Chương 13

    PV-Chương 14

    PV-Chương 15

    PV-Chương 16

    Tổng kết


    Trần Trọng Kim
    Việt Nam Sử Lược
    Tựa

    Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công việc đã qua mà thôi,
    nhưng lại phải suy xét việc gốc ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những công
    việc của người ta đã làm để hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một nước,
    những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ đích là để làm cái gương
    chung cổ cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh
    hoạt của người trước đã phải lao tâm lao lực những thế nào, mới chiếm giữ
    được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này.
    Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước mình mới có lòng yêu
    nước yêu nhà, mới biết cố gắng học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm
    vào cái nền xã hội của tiên tổ đã xây dựng nên mà để lại cho mình. Bởi
    những lẽ ấy cho nên phàm dân tộc nào đã có đủ cơ quan và thể lệ làm cho
    một nước độc lập, thì cũng có sử cả. Nước Việt ta khởi đầu có sử từ đời nhà
    Trần, vào quãng thế kỷ thứ XIII. Từ đó trở đi nhà nào lên làm vua cũng
    trọng sự làm sử. Nhưng cái lối làm sử của ta theo lối biên niên của Tàu.
    nghĩa là năm nào tháng nào có chuyện gì quan trọng thì nhà làm sử chép vào
    sách. Mà chép một cách rất vắn tắt cốt để ghi lấy chuyện ấy mà thôi, chứ
    không giải thích cái gốc ngọn và sự liên can việc ấy với việc khác là thế nào.
    Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc chép sử, cho nên dẫu thế
    nào sự chép sử cũng không được tự do, thường có ý thiên vị về nhà vua,
    thành ra trong sử chỉ cần chép những chuyện quan hệ đến nhà vua, hơn là
    những chuyện quan hệ đến sự tiến hóa của nhân dân trong nước. Vả, xưa nay
    ta vẫn chịu quyền chuyên chế, vẫn cho việc nhà vua là việc nước. Cả nước
    chỉ cốt ở một họ làm vua, cho nên nhà làm sử cứ theo cái chủ nghĩa ấy mà
    chép sử, thành ra sử đời nào cũng chỉ nói chuyện những vua đời ấy mà thôi.

    Bởi vậy xem sử ta thật là tẻ, mà thường không có ích lợi cho sự học vấn là
    mấy.
    Sử của mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là
    vì cái cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử
    nước mình. Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp quyển sách đi học thì chỉ học sử
    Tàu,chứ không học sử nước nhà. Rồi thơ phú văn chương gì cũng lấy điển
    tích ở sử Tàu, chứ chuyện nước mình thì nhất thiết không nói đến. Người
    mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy
    cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng
    người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì
    không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: "Việc
    nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!" Cái sự học vấn của mình như thế, cái
    cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở
    mang ra làm sao được?
    Nhưng dẫu thế nào mặc lòng, nước ta đã có sử ta thì cũng có thể bởi đó mà
    biết được những sự đã qua ở nước ta, và có thể bởi đó mà khảo cứu được
    nhiều việc quan hệ đến vận mệnh nước mình từ xưa đến nay xoay vần ra làm
    sao. Hiềm vì sử nước ta thì làm bằng chữ Nho cả, mà chữ Nho thì từ rày trở
    đi chắc rồi mỗi ngày một kém đi. Hiện nay số người đọc được chữ Nho còn
    nhiều, mà trong nước còn không có mấy người biết được chuyện nước nhà,
    huống chi mai sau này chữ Nho bỏ không học nữa, thì sự khảo cứu về những
    việc quan hệ đến lịch sử nước mình sẽ khó biết bao nhiêu!
    Nay nhân sự học ở nước ta đã thay đổi, chữ quốc ngữ đã phổ thông cả trong
    nước, chi bằng ta lấy tiếng nước nhà mà kể chuyện nước nhà, ta soạn ra bộ
    Việt Nam Sử Lược, xếp đặt theo thứ tự, chia ra từng thời đại, đặt thành
    chương, thành mục rõ ràng, để ai ai cũng có thể xem được sử, ai ai cũng có
    thể hiểu được chuyện, khiến cho sự học sử của người mình được tiện lợi hơn

    trước.
    Bộ Việt Nam Sử Lược này, soạn giả chia ra làm 5 thời đại: Thời đại thứ nhất
    là Thượng Cổ thời đại, kể từ họ Hồng Bàng cho đến hết đời nhà Triệu. Trong
    thời đại ấy, từ chương thứ III, bàn về xã hội nước Tàu trước đời nhà Tần,
    phần nhiều là những chuyện hoang đường, huyền hoặc cả. Những nhà chép
    sử đời trước cũng theo tục truyền mà chép lại, chứ không có di tích gì mà
    khảo cứu cho đích xác. Tuy vậy, soạn giả cũng cứ theo sử cũ mà chép lại, rồi
    cũng phê bình một đôi câu để tỏ cho độc giả biết rằng những chuyện ấy
    không nên cho là xác thực.
    Thời đại thứ nhì là Bắc Thuộc thời đại, kể từ khi vua Vũ Đế nhà Hán lấy đất
    Nam Việt của nhà Triệu, cho đến đời Ngũ Quí, ở bên ta có họ Khúc và họ
    Ngô xướng lên sự độc lập. Những công việc trong thời đại ấy, thì sử cũ của
    nước ta chép rất là sơ lược lắm. Vì rằng trong thời đại Bắc Thuộc, người
    mình chưa được tiến hóa, sự học hành còn kém, sách vở không có, cho nên
    về sau những nhà làm sử của ta chép đến thời đại này cũng không kê cứu
    vào đâu được, chỉ theo sử Tàu mà chép lại thôi. Vả, người Tàu lúc ấy vẫn
    cho mình là một xứ biên địa dã man, thường không ai lưu tâm đến, cho nên
    những chuyện chép ở trong sử, cũng sơ lược lắm, mà đại để cũng chỉ chép
    những chuyện cai trị, chuyện giặc giã, chứ các công việc khác thì không nói
    đến.
    Thời đại Bắc Thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy
    dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có
    1 điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu
    một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước
    Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng
    ấy lâu ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ
    bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị

    toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có
    công hiệu vậy.
    Thời đại thứ ba là thời đại Tự Chủ, kể từ nhà Ngô, nhà Đinh cho đến sơ-diệp
    nhà Hậu Lê. Nước mình từ thời đại ấy về sau là một nước dộc lập, tuy đối
    với nước Tàu vẫn phải xưng thần và chịu cống, nhưng kỳ thực là không ai
    xâm phạm đến cái quyền tự chủ của mình. Buổi đầu, nhà Đinh, nhà Lê mới
    dấy lên; còn phải xây đắp cái nền tự chủ cho vững bền, phải lo sửa sang việc
    võ bị để chống với kẻ thù nghịch, cho nên sự văn học không được mở mang
    lắm. Về sau đến đời nhà Lý, nhà Trần, công việc ở trong nước đã thành nền
    nếp, kẻ cừu địch ở ngoài cũng không quấy nhiễu nữa, lại có nhiều vua hiền
    tôi giỏi nối nhau mà lo việc nước, cho nên từ đó trở đi việc chính trị, việc tôn
    giáo và việc học vấn mỗi ngày một khai hóa ra, làm cho nước ta thành một
    nước có thế lực, bắc có thể chống được với Tàu, nam có thể mở rộng thêm
    bờ cõi. Nhà Lý và nhà Trần lại có công gây nên cái quốc hồn mạnh mẽ,
    khiến cho về sau đến đời Trần mạt, nhân khi họ Hồ quấy rối, người Tàu đã
    toan đường kiêm tính, người mình biết đồng tâm hiệp lực mà khôi phục lại
    giang sơn nhà. Kế đến nhà Lê, trong khoảng một trăm năm về buổi đầu,
    nước mình cũng có thể gọi là thịnh trị, nhất là về những năm Quang Thuận
    (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497), thì sự văn trị và võ công đã là rực rỡ
    lắm. Nhưng về sau gặp những hôn quân dung chúa, việc triều chính đổ nát,
    kẻ gian thần dấy loạn. Mối binh đao gây nên từ đó, người trong nước đánh
    giết lẫn nhau, làm thành ra nam bắc chia rẽ, vua chúa tranh quyền. Ấy thật là
    một cuộc biến lớn ở trong nước vậy.
    Thời đại thứ tư là Nam Bắc phân tranh, kể từ khi nhà Mạc làm sự thoán đoạt
    cho đến nhà Tây Sơn. Trước thì nam Lê, bắc Mạc, sau thì Nguyễn nam,
    Trịnh bắc, sự cạnh tranh càng ngày càng kịch liệt, lòng ghen ghét càng ngày
    càng dữ dội. Nghĩa vua tôi mỏng mảnh, đạo cương thường chểnh mảng:
    nước đã có vua lại có chúa. Trong Nam ngoài Bắc mỗi nơi một giang sơn,

    công việc ở đâu, chủ trương ở đấy. Tuy vậy việc sửa đổi ở ngoài Bắc cũng
    có nhiều việc hay, mà việc khai khẩn trong Nam thật là ích lợi. Nhưng cuộc
    thành bại ai đâu dám chắc, cơn gió bụi khởi đầu từ núi Tây Sơn, làm đổ nát
    cả ngôi vua cùng nghiệp chúa. Anh em nhà Tây Sơn vẫy vùng không được
    20 năm, thì bản triều nhà Nguyễn lại trung hưng lên, mà đem giang sơn về
    một mối, lập thành cái cảnh tượng nước Việt Nam ta ngày nay vậy.
    Thời đại thứ năm là Cận Kim thời đại, kể từ vua Thế Tổ bản triều cho đến
    cuộc Bảo Hộ bây giờ. Vua Thế Tổ khởi đầu giao thiệp với nước Pháp Lan
    Tây để mượn thế lực mà đánh Tây Sơn. Nhưng về sau vì những vua con
    cháu Ngài đổi chính sách khác, nghiêm cấm đạo Thiên Chúa và đóng cửa
    không cho ngoại quốc vào buôn bán. Những đình thần thì nhiều người trí lự
    hẹp hòi, cứ nghiễm nhiên tự phụ, không chịu theo thời mà thay đổi. Đối với
    những nước ngoại dương, thì thường hay gây nên sự bất hòa, làm cho nước
    Pháp phải dùng binh lực để bênh vực quyền lợi của mình. Vì những chính
    sách ấy cho nên mới thành ra có cuộc Bảo Hộ.
    Đại khái đó là những mục lớn trong những phần mà soạn giả đã theo từng
    thời đại để đặt ra. Soạn giả đã cố sức xem xét và góp nhặt những sự ghi chép
    ở các sách chữ Nho và chữ Pháp, hoặc nhữNg chuyện rải rác ở các dã sử, rồi
    đem trích bỏ những sự huyền hoặc đi mà soạn ra bộ sách này, cốt để người
    đồng bang ta biết được chuyện nước nhà mà không tin nhảm những sự huyễn
    hoặc. Thời đại nào nhân vật ấy và tư tưởng ấy, soạn giả cứ bình tĩnh cố theo
    cho đúng sự thực. Thỉnh thoảng có một đôi nơi soạn giả có đem ý kiến riêng
    của mình mà bàn với độc giả, thí dụ như chỗ bàn về danh hiệu nhà Tây Sơn
    thì thiết tưởng rằng sử là của chung cả quốc dân, chớ không phải riêng cho
    một nhà một họ nào, cho nên mới phải lấy công lý mà xét đoán mọi việc và
    không vị tình riêng để phạm đến lẽ công bằng vậy.
    Độc giả cũng nên biết cho rằng bộ sử này là bộ Sử Lược chỉ cốt ghi chép

    những chuyện trọng yếu để hãy tạm giúp cho những người hiếu học có sẵn
    quyển sách mà xem cho tiện. Còn như việc làm thành ra bộ sử thật là đích
    đáng, kê cứu và phê bình rất tường tận, thì xin để dành cho những bậc tài
    danh sau này sẽ ra công mà giúp cho nước ta về việc học sử. Bây giờ ta chưa
    có áo lụa, ta hãy mặc tạm áo vải, tuy nó xấu xí nhưng nó có thể làm cho ta
    đỡ rét. Nghĩa là ta hãy làm thế nào cho những thiếu niên nước ta ngày nay ai
    cũng có thể biết một đôi chút sự tích nước nhà, cho khỏi tủi quốc hồn. Ấy là
    cái mục đích của soạn giả, chỉ có thế thôi. Nếu cái mục đích ấy mà có thể tới
    được thì tưởng bộ sách này là bộ sách có ích vậy.

    Trần Trọng Kim

    Trần Trọng Kim
    Việt Nam Sử Lược
    Nước Việt Nam

    1. Quốc Hiệu
    2. Vị Trí và Diện Tích
    3. Địa Thế
    4. Chủng Loại
    5. Gốc Tích
    6. Người Việt Nam
    7. Sự Mở Mang Bờ Cõi
    8. Lịch Sử Việt Nam
    1. Quốc Hiệu.

    Nước Việt Nam ta về đời Hồng Bàng (2897 - 258 trước Tây lịch) gọi là Văn
    Lang, đời Thục An Dương Vương (257 - 207 trước Tây lịch) thì gọi là Âu
    Lạc. Đến nhà Tần (246 - 206 trước Tây lịch) lược định phía nam thì đặt làm
    Tượng Quận, sau nhà Hán (202 trước Tây lịch - 220 sau Tây lịch) dứt nhà
    Triệu, chia đất Tượng Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật
    Nam. Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao Chỉ làm Giao

    Châu. Nhà Đường lại đặt là An Nam Đô Hộ Phủ.
    Từ khi nhà Đinh (968 - 980) dẹp xong loạn Thập Nhị Sứ Quân, lập nên một
    nước tự chủ, đổi quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Vua Lý Thánh Tông đổi là Đại
    Việt, đến đời vua Anh Tông, nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam
    Quốc.
    Đến đời vua Gia Long, thống nhất được cả Nam Bắc (1802), lấy lẽ rằng Nam
    là An Nam, Việt là Việt Thường, mới đặt quốc hiệu là Việt Nam. Vua Minh
    Mệnh lại cải làm Đại Nam.
    Quốc hiệu nước ta thay đổi đã nhiều lần, tuy rằng ngày nay ta vẫn theo thói
    quen dùng hai chữ An Nam, nhưng vì hai chữ ấy có ngụ ý phải thần phục
    nước Tàu, vậy thì ta nên nhất định lấy tên Việt Nam mà gọi nước nhà.
    2. Vị Trí và Diện Tích.

    Nước Việt Nam ở về phía đông nam châu Á-tế-á, hẹp bề ngang, dài bề dọc,
    hình cong như chữ S, trên phía bắc và dưới phía nam phình rộng ra, khúc
    giữa miền trung thì eo hẹp lại.
    Đông và nam giáp bể Trung Quốc (tức là bể Nam Hải); Tây giáp Ai Lao và
    Cao Miên; Bắc giáp nước Tàu, liền với tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân
    Nam.
    Diện tích cả nước rộng chừng độ 312.000 ki-lô-mét vuông chia ra như sau
    này:

    Bắc Việt: 105.000 km2
    Trung Việt: 150.000 km2
    Nam Việt: 57.000 km2

    3. Địa Thế.

    Nước ta hiện chia ra làm ba cõi: Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt. Đất Bắc
    Việt có sông Hồng Hà (tức là sông Nhị Hà) và sông Thái Bình. Mạn trên gọi
    là Thượng Du lắm rừng nhiều núi, ít người ở. Mạn dưới gọi là Trung Châu,
    đất đồng bằng, người ở chen chúc đông lắm.
    Đất Trung Việt thì chỉ có một giải ở men bờ bể, còn ở trong có núi Trường
    Sơn chạy dọc từ Bắc Việt vào gần đến Nam Việt, cho nên người chỉ ở được
    mạn gần bể mà thôi.
    Đất Nam Việt thì ở vào khúc dưới sông Mê Kông (tức là sông Cửu Long),
    lại có sông Đồng Nai chảy ở mé trên, cho nên đất tốt, ruộng nhiều, dân gian
    trù phú và dễ làm ăn hơn cả

    4. Chủng Loại.

    Người Việt Nam có nhiều dân tộc ở, như là ở về miền thương du Bắc Việt
    thì có dân Thái, (tức là Thổ), Mường, Mán, Mèo; ở về miền rừng núi Trung
    Việt thì có dân Mọi, và Chàm (tức là Hời), ở về miền Nam Việt thì có dân
    Mọi, Chàm, Chà Và và Khách, v.v.... Những dân ấy ở trong ba nơi tất cả đến
    non một triệu người. Còn thì dân tộc Việt Nam ở hết cả.
    Số người Việt Nam ở trong ba nơi có thể chia ra như sau này:
    Bắc Việt: 8.700.000 người
    Trung Việt: 5.650.000 người
    Nam Việt: 4.616.000 người
    Cả thảy cộng lại được độ chừng non 19 triệu người. {Số này là theo sách Địa
    Lý của ông H. Russier (1939) chép lại chứ không chắc đã đúng số nhất định
    của người mình.}

    5. Gốc tích.

    Theo ý kiến của nhà kê cứu của nước Pháp, thì người Việt Nam và người
    Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà
    lần xuống phía đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ; còn người Thái
    thì theo sông Mê Kông xuống, lập ra nước Tiêm La (tức là Thái Lan) và các
    nước Lào.

    Lại có rất nhiều người Tàu và người Việt Nam nói rằng nguyên khi xưa đất
    nước Tàu có giống Tam Miêu ở, sau giống Hán Tộc (tức là người Tàu bây
    giờ) ở phía Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng
    sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần xuống phía nam, người Tam
    Miêu phải lẩn núp trong rừng hay là xuống ở miền Việt Nam ta bây giờ.
    Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra đó thôi, chứ cũng chưa có cái gì làm
    chứng cho đích xác. Chỉ biết rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân
    cái giao lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ; mà xem các loài
    khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là một loài riêng, chứ không phải
    là loài Tam Miêu.
    Dẫu người mình thuộc về chủng loại nào mặc lòng, về sau người Tàu sang
    cai trị hàng hơn một nghìn năm, lại có khi đem sang nước ta hơn bốn mươi
    vạn binh, chắc là nói giống cũ của mình cũng đã lai đi nhiều rồi, mới thành
    ra người Việt Nam ngày nay.

    6. Người Việt Nam.

    Người Việt Nam thuộc về loài da vàng, nhưng mà người nào phải đi làm
    lụng dầm mưa dãi nắng lắm, thì nước da ngăm ngăm đen, người nào nhàn hạ
    phong lưu, ở trong nhà luôn, thì nước da trăng trắng như màu ngà cũ.
    Trạc người thì thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn con người, chứ không to
    béo. Mặt thì xương xương, trông hơi bèn bẹt, trán thì cao và rộng, mắt thì

    đen và hơi xếch về đàng đuôi, hai gò má thì cao, mũi hơi tẹt, môi hơi dày,
    răng thì to mà lại nhuộm đen. Râu thì thưa mà ít, tóc thì nhiều và dài, đen và
    hơi cứng. Dáng điệu đi đứng thì nhẹ nhàng và xem ra bộ vững vàng chắc
    chắn.
    Áo quần thì dài rộng, đàn ông thì búi tóc và quấn khăn vành rây, áo mặc dài
    quá đầu gối, tay áo thì chật, ống quần thì rộng. Đàn bà ở Bắc Việt và phía
    bắc Trung Việt thì đội khăn, mà ở chỗ thành thị thì mặc quần, còn ở nhà quê
    thì hay mặc váy. Ở phía nam Trung Việt và Nam Việt thì đàn bà hay mặc
    quần cả, và búi tóc, chứ không đội khăn bao giờ.
    Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính
    xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều
    người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ
    phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm 5 đạo thường cho
    sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tình vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài
    bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình,
    nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật.

    Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa
    trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin
    ma quỷ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo nào cả. Kiêu
    ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ
    ơn.
    Đàn bà thì hay làm lụng và đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ mọi
    việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con,
    thường giữ được các đức tính rất quý là: tiết, nghĩa, cần, kiệm.

    Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một phong tục, nói một thứ tiếng,
    {Tuy rằng mỗi nơi có một ít tiếng thổ âm riêng và cái giọng nói nặng nhẹ
    khác nhau, nhưng đại để thì vẫn là một thứ tiếng mà thôi.} cùng giữ một kỹ
    niệm, thật là cái tính đồng nhất của một dân tộc từ đầu nước đến cuối nước.

    7. Sự Mở Mang Bờ Cõi.

    Người nòi giống Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc
    thì đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại
    không tiện, cho nên mới theo bờ bể lần xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt
    Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cõi bây giờ.
    8. Lịch Sử Việt Nam.

    Từ khi người Việt Nam lập thành nước đến giờ, kể hàng mấy nghìn năm,
    phải người Tàu cai trị mấy lần, chịu khổ sở biết bao nhiêu phen, thế mà sau
    lại lập được cái nền tự chủ, và vẫn giữ được cái tính đặc biệt của giống mình,
    ấy là đủ tỏ ra rằng khí lực của người mình không đến nỗi kém hèn cho lắm.
    Tuy rằng mình chưa làm được việc gì cho vẽ vang bằng người, nhưng mình
    còn có thể hy vọng một ngày kia cũng nên được một nước cường thịnh.
    Vậy ghi chép những cơ hội gian truân, những sự biến cố của nước mình đã
    trải qua, và kể những công việc của người mình làm từ đời nọ qua đời kia, để

    cho mọi người trong nước đều biết, ấy là sách Việt Nam sử.
    Nay ta nên theo từng thời đại mà chia sách Việt Nam sử ra 5 phần để cho
    tiện sự kê cứu.
    Phần I: Thượng Cổ thời đại.
    Phần II: Bắc Thuộc thời đại.

    Phần III: Tự Chủ thời đại.
    Phần IV: Nam Bắc Phân Tranh thời đại.

    Phần V: Cận Kim thời đại.

    Trần Trọng Kim
    Việt Nam Sử Lược
    Phần I : Thượng Cổ Thời Đại
    PI-Chương 1

    Họ Hồng-Bàng
    (2879-258 trước Tây Lịch)
    1. Họ Hồng Bàng
    2. Nước Văn Lang
    3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:
    Phù Đổng Thiên Vương
    Sơn Tinh Thủy Tinh

    1. Họ Hồng Bàng.
    Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi
    tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp
    một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền
    ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc
    Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích
    Quỷ.

    Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía
    nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên),
    phía đông giáp bể Nam Hải.
    Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất
    (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra
    Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
    Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một
    trăm người con trai3. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long
    Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay
    được trăm con thì nhà người đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống
    bể Nam Hải". Gốc tích truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước
    Xích Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay đất Hồ
    Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất
    Bách Việt. Đấy cũng là một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì làm đích
    xác được.

    2. Nước Văn Lang.
    Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang,
    xưng là Hùng Vương.
    Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
    1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
    2. Châu Diên (Sơn Tây)

    3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
    4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
    5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
    6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
    7. Lục Hải (Lạng Sơn)
    8. Ninh Hải (Quảng Yên)
    9. Dương Tuyền (Hải Dương)
    10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
    11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
    12. Hoài Hoan (Nghệ An)
    13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
    14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
    15. Bình Văn ( ? )

    Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch Hạc,

    tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng,
    con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các quan nhỏ
    gọi là Bồ Chính 4. Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.
    Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão (1109 trước Tây lịch), đời
    vua Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường, ở phía nam xứ Giao Chỉ
    sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm thông ngôn
    mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ
    Việt Thường về nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là đất
    của Hùng Vương lúc bấy giờ không?
    Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý mão (158 trước Tây lịch)
    thì bị nhà Thục lấy mất nước.
    Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20
    ông vua, mà tính từ năm nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 trước Tây
    lịch) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được
    non 150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa, thì cũng khó lòng mà có
    nhiều người sống lâu được như vậy. - Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng
    Bàng không chắc là truyện xác thực.

    3. Truyện Cổ Tích Về Đời Hồng Bàng.
    Sử chép rằng đời Hùng Vương thứ nhất, người nước Văn Lang làm nghề
    chài lưới, cứ hay bị giống thuồng luồng làm hại, vua m
     
    Gửi ý kiến

    Học từ sách là học từ tinh hoa của nhân loại.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NAM ĐỒNG - TP. HẢI PHÒNG !