TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Trang học liệu của nhà trường Trang học liệu trực tuyến của nhà trường được xây dựng nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy – học, tự học và đổi mới phương pháp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đây là nơi tập hợp, lưu trữ và chia sẻ các học liệu số như: bài giảng, giáo án, đề kiểm tra, phiếu học tập, video minh họa, tài liệu tham khảo… do giáo viên trong trường biên soạn và tuyển chọn. Thông qua trang học liệu, giáo viên thuận tiện trong việc trao đổi chuyên môn, sử dụng tài nguyên chung, đồng thời hỗ trợ học sinh ôn tập, củng cố kiến thức và học tập mọi lúc, mọi nơi. Trang học liệu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và hình thành thói quen tự học, học tập suốt đời cho học sinh.

    Ảnh ngẫu nhiên

    💕💕 Đọc sách là gieo hạt giống cho trí tuệ.” – Ngạn ngữ phương Tây💕hư viện tốt là nền móng của một nền giáo dục tốt.” – Khuyết danh💕

    Video sự tích cây nêu đất

    Để tôi đọc lại

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 17h:48' 17-04-2024
    Dung lượng: 667.5 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    MỤC LỤC
    Lời nhà xuất bản
    Lời nói đầu
    Tựa cuốn Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu
    Lương Tâm Nhân Loại
    Làm con nên nhớ
    Nhà cầm quyền và dư luận
    Thầy học tôi: Cụ Dương Quảng Hàm
    Ý nghĩa cái chết của giáo sư Trần Vinh Anh
    Cụ Phan (Bội Châu) và lòng dân
    Nguyễn Hữu Ngư và tập Quê Hương
    Khóc bác Đông Hồ
    Tựa Úc Viên Thi Thoại của Đông Hồ
    Tôi dịch Chiến Tranh và Hòa Bình
    Hoa đào năm trước
    Nhà cách mạng Trần Quí Cáp
    Thi sĩ Quách Tấn và Xứ Trầm Hương
    Con đường hòa bình
    Từ Phương Khê lên Núi Hùng
    Mối tình nghệ sĩ
    Tựa Tuyển tập thơ Hán Việt
    Nguy cơ xuất não
    Hiện tượng “nhân tài di cư” từ xưa tới nay
    Tây Âu bị xuất não
    Tây Âu rút óc lại của các nước nhược tiểu
    Nước giàu nhất thế giới được các nước nghèo giúp đỡ
    Rút óc ngầm
    Cái hại cho sự xuất não
    Nguyên nhân sự xuất não
    Làm sao chặn được sự xuất não
    Hư Chu Nguyễn Kì Thuỵ (1923-1973)
    Tựa Đất nước Quê hương
    Cháu Bà nội tội Bà Ngoại
    Chúng ta phải làm gì?

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Từ vài ba bốn chục năm gần đây bạn đọc nước ta, nhất là các nhà nghiên cứu khoa học xã hội,
    đã từng quen biết Nguyễn Hiến Lê. Người ta không chỉ hoan nghênh và thẳng thắn trao đổi
    cùng ông về những ý kiến do ông đưa ra về nhiều vấn đề học thuật hay quốc kế dân sinh, mà
    người ta còn ghi nhận ở ông – một trí thức cần cù, luôn có khát vọng đóng góp công sức khảo
    cứu của mình vào việc xây dựng một nền văn hoá – giáo dục Việt Nam thích hợp, lành mạnh,
    phát triển.
    Tập Để tôi đọc lại của ông đã phản ánh một phần tư tưởng khoa học của ông, tấm lòng yêu
    nước và tinh thần dân tộc của ông.
    Như là một tập bút kí, ghi chép, giới thiệu văn chương – văn học – văn hoá và một số vấn đề
    liên quan, được viết ra từ cách đây vài ba chục năm, Để tôi đọc lại được xuất bản vào thời điểm
    này, cũng sẽ giúp bạn đọc có thêm một tài liệu tham khảo bổ ích. Chúng ta sẽ gặp lại ở đây
    những ý nghĩ, những kiến giải… của Nguyễn Hiến Lê mà chúng ta từng tán thành, từng thấy là
    chúng đang được thực hiện; chúng ta cũng sẽ thấy là trong tập sách này cũng còn một số ý kiến
    cần được trao đổi thêm, nhiều số liệu và sự việc đã không còn cập nhật nữa.
    Thiết nghĩ, đó đều là những việc có thể coi là bình thường trên diễn đàn học thuật lâu nay.
    Nhà xuất bản Văn học trân trọng giới thiệu tập Để tôi đọc lại của Nguyễn Hiến Lê cùng bạn
    đọc.
    Nhà xuất bản Văn học

    Lời nói đầu
    Đây không phải là một tuyển tập theo nghĩa chúng ta thường hiểu. Vì không có ý chỉ gom toàn
    những bài và hết thảy những bài tôi lấy làm đắc ý, mà còn thu thập một số bài tôi muốn đọc lại
    vì nhiều lí do: có bài chép một hồi kí về người thân, bạn thân, bản thân của tôi, hoặc gợi lại cho
    tôi những cảnh đẹp tôi đã được thấy trong những phút rất ngắn ngủi nhưng thần tiên; có bài
    đánh dấu những suy tư của tôi về nhân sinh, về nghề cầm bút, những thí nghiệm của tôi về một
    bút pháp, có bài ghi lại những niềm ân hận, bất bình của tôi trong một xã hội, một thế giới đương
    trải qua một thời đại cực kì bất ổn, hỗn loạn.
    Khi thu thập tôi không có thì giờ đọc lại hết một trăm tác phẩm (cả biên khảo lẫn dịch thuật)
    tôi đã xuất bản, với mười lăm tác phẩm nữa viết rồi mà chưa in, và những bài đăng trong năm
    trăm số báo mà khoảng một nửa chưa vô tập nào; cứ nhớ tới đâu tôi mới lục ra mà chép ra tới
    đấy. Sau này, nếu nhớ thêm tôi có thể sẽ thu thập một số bài khác, hoặc bỏ bớt một số bài đã ở
    đây. Tình cảm và tư tưởng của chúng ta vẫn thường thay đổi tuỳ tuổi và tuỳ hoàn cảnh bên
    ngoài.
    Khi chép lại, tôi thuận tay sửa đôi vài chữ (rất ít), bỏ hay thêm vài câu mà tôi đã đánh dấu hoặc
    cước chú để dễ nhận ra. Tôi rán ghi xuất xứ mỗi bài, nhưng có vài ba bài tôi chỉ nhớ mài mại
    đăng ở báo này năm nào thôi, vì không kiếm ra những số báo đó.
    Tôi sắp đặt theo thứ tự thời gian, từng năm, chứ không từng tháng: có những bài cách nhau
    nhiều tháng mà tôi đặt liền nhau, vì cùng một thể văn, cùng một đề tài, hoặc cùng viết về một
    người. Nhưng ở sau bảng mục lục tôi đã làm một bảng phân loại sơ sài để dễ tìm.
    Tập này chép làm ba bản; chỉ bản I, II là chép đủ các bài còn bản III chỉ chép những bài hơi khó
    khăn vì không có trong các tác phẩm của tôi đã xuất bản.
    Sài Gòn ngày 1-1–1978
    Nguyễn Hiến Lê

    TỰA CUỐN CHÍ SĨ NGUYỄN QUANG DIÊU
    của Nguyễn Văn Hầu (Xây Dựng, 1961)
    Lần đầu tiên đặt chân lên đất Sài Gòn, tôi ngán “Hòn ngọc Viễn Đông” này quá. Đủ mọi giống
    người hỗn tạp, đa số là con buôn; trong bụi và ồn; muốn kiếm một chỗ thanh tịnh có chút di
    tích để ôn lại dĩ vãng thì không biết kiếm ở đâu, và suốt ngày thâu đêm chỉ thấy người ta ăn
    uống, đánh tứ sắc và ca vọng cổ.
    Cũng may, lần ấy tôi chỉ ở Sài Gòn có nửa tháng rồi được phái ngay xuống Lục tỉnh. Trong hai
    năm liền, tôi đi khắp miền Tây, tới đâu cũng nhận xét dân tình và tôi mừng rằng sinh lực của
    miền Nam này còn mạnh lắm. Nó không hiển hiện ở các đô thị như Sài Gòn Chợ Lớn mà dào
    dạt, cuồn cuộn ở thôn quê, trên bờ nương con rạch mát rượi bóng dừa, trên những cánh đồng
    bát ngát bông sen và bông súng. Dù ở Cần Thơ, Rạch Giá hay Sa Đéc, đâu đâu tôi cũng thấy dân
    quê chất phác và đôn hậu, giữ được truyền thống của tổ tiên hơn cả dân quê miền Bắc.
    Lạ lùng thật, Nam Việt là đất mới, lại chịu ảnh hưởng của Pháp sớm hơn Bắc Việt mà cổ tục ở
    đây được bảo tồn hơn ở ngoài kia. Cơ hồ nông dân nào cũng nhớ được nhiều tích cũ, thuộc
    được ít câu trong Minh tâm bửu giám, họ hiếu đễ, biết kính trọng nhà Nho, mà nhà Nho ở đây
    cũng đáng cho họ trọng: có lễ độ, có tâm hồn, một số có khí phách nữa. Tôi đã vào những nhà
    sàn ba gian lợp ngói hay lá, thấp lè tè, tối om om và thấy nhà nào căn đẹp nhất cũng dành cho
    việc thờ phụng tổ tiên, mà những chỗ trang hoàng đẹp nhất cũng là những chỗ để thờ; bên
    cạnh ban thờ tôi lại thấy treo hình các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. Chủ nhân luôn luôn
    nhã nhặn tiếp đón tôi, và khi thấy tôi chăm chú nhìn các đôi câu đối, đoán rằng tôi biết chút ít
    chữ Hán thì không e dè gì cả, đọc cho tôi nghe thơ văn của các nhà cách mạng hoặc hỏi tôi còn
    nhớ truyện Ma Chí Ni, Gia Lý Ba Địch[1] trong bộ Ẩm Băng của Lương Khải Siêu không. Các nhà
    nho đó rất nghiêm khắc: con đã đi tri huyện rồi, các cụ cũng nọc ra mà đánh, đậu kĩ sư rồi, các
    cụ cũng bắt đi chăn trâu trong khi đợi bố; và khi các cụ khuyên bảo điều gì thì dân làng răm rắp
    tuân theo hơn là tuân lệnh chủ quận.
    Sinh lực của miền Nam là ở đó: hạng cựu học vẫn giữ được phong độ, được dân chúng kính
    mến và tin tưởng; nhờ vậy hạng tân trí thức chưa đến nỗi vong bản, và giữa các giới có một
    tinh thần đoàn kết ngấm ngầm chống lại Pháp; thành thử sau tám chục năm cai trị, ảnh hưởng
    của Pháp ở đây chỉ như một lớp sơn, chưa ăn sâu được vào quần chúng. Khắp mấy tỉnh phía
    tây, tôi mến nhất miền từ Hồng Ngự tới Cao Lãnh, một phần vì tôi biết rõ miền này hơn hết[2].
    Từ Hồng Ngự, xuôi dòng Tiền Giang lần lượt hiện ra những bụi tre rậm rạp, những vườn gòn
    lưa thưa, những cồn cát đìu hiu, những ruộng dâu xanh mướt, những hàng sao nghiêm trang
    sau những hàng dừa yểu điệu, và bất giác ta ngâm lên những vần thơ của Thôi Hạo trong bài
    Hoàng hạc lâu, và của Huy Cận trong bài Tràng Giang.
    Tới Tân Thuận và Cao Lãnh, ta được cảnh vật tưng bừng tiếp đón: dưới rạch ghe xuồng chen
    chúc mà trên bờ nhà cửa san sát, mận xoà trên mặt nước, xoài rủ ở trên đầu, quít thì đỏ ối mà
    nước thì trong xanh; con gái đã đẹp, nổi tiếng nữ công nữ hạnh mà con trai thì hay chữ mà có
    chí khí.
    Cảnh chẳng những đẹp mà còn hùng. Con sông Tiền Giang ở những chỗ đầu cồn và cuối cồn,
    rộng có tới hai ba cây số, gặp mùa lụt lớn như vừa rồi, nước băng băng chảy, ngập cả vườn
    tược, đồng ruộng trên phi cơ nhìn xuống người ta chỉ thấy một biển nước bao la trải ra từ biên
    giới Cao Miên tới vịnh Thái Lan, trên đó ló lên những ngọn cây và mái nhà. Mùa nắng nếu ta
    ghé vào tả ngạn, từ Hồng Ngự tới Phong Mĩ, bất cứ nơi nào, đi sâu vô ba cây số là gặp một cảnh
    hoang vu đáng làm đầu đề ngâm vịnh cho phái biên tái đời Đường: một khu rộng mấy chục cây
    số toàn lau, sậy, bàng, lát, trên là ánh nắng gay gắt, dưới là bùn lầy, không có một bóng người,
    nhưng vô số rùa, rắn, đỉa, muỗi … Xưa kia đây là đất dụng võ của Thiên Hộ Dương, mà gần đây
    nó vẫn là đất tung hoành của nhiều trang hảo hán. Thực dân Pháp ít khi phái lính vô, nhưng
    luôn luôn gờm miền này, nên đặt nhiều trạm do thám bao vây, riêng tôi biết được ba trạm ở
    Cao Lãnh, Chợ Thủ và Chợ Mới.
    Biết rõ địa lí miền Hồng – Cao rồi, độc giả sẽ hiểu tại sao nó là nơi phát sinh nhiều nhà cách
    mạng. Nhờ có những khu phì nhiêu mà sự học mới phát đạt, và Cao Lãnh từ xưa vẫn nổi tiếng

    là đất văn vật. Hán học thịnh, gây được một truyền thống đạo nghĩa, ái quốc; truyền thống đó
    dễ giữ vì miền này hẻo lánh, ảnh hưởng của Pháp khó tới (hồi xưa, chưa có ca nô, xe hơi, phải
    chèo xuồng từ Đốc Vàng qua Long Xuyên mất một ngày, lên Sài Gòn mất một tuần; rồi lại nhờ
    cảnh thiên nhiên hoang vu hùng vĩ, người ta phải phấn đấu, quen xông pha, biết đoàn kết, sau
    cùng nhờ có cánh đồng Tháp ở ngay sau nền nhà[3], người ta muốn trốn lúc nào cũng được,
    nên tinh thần chống Pháp càng mạnh. Vì vậy vào khoảng 1907-1908, khi phong trào Đông du
    nổi lên ở Nam Việt thì miền Cao Lãnh hưởng ứng liền. Ít năm sau Pháp bắt cụ Dương Bá Trạc
    an trí ở Long Xuyên, cụ Võ Hoành an trí ở Sa Đéc, rồi do một sự tình cờ cụ Phương Sơn cũng
    trong Đông Kinh nghĩa thục, lựa ngay miền Đốc Vàng để ẩn náu; và các nhà Nho có tâm huyết ở
    miền Hồng – Cao ngẫu nhiên mà được gần một số đàn anh đất Bắc, tinh thần càng thêm phấn
    khởi. Từ Cao Lãnh tới Hồng Ngự, không làng nào không có một vài nhà cách mạng bị Pháp tróc
    nã, hoặc ghi tên vào sổ đen. Riêng làng Đốc Vàng Thượng tôi đã biết bốn năm nhà; ở Cao Lãnh
    chắc còn nhiều hơn. Những hoạt động của các nhà đó, dân chúng đều biết, các hương chức còn
    biết rõ hơn nữa, nhưng tôi đã nói, dân ở đây biết đoàn kết, biết trọng truyền thống, nên kẻ nào
    dù không tán đồng cũng không mặt mũi nào tố cáo và Pháp hay được mà ra tay thì thường là
    đã muộn.
    Kiệt hiệt nhất trong số đó là cụ Nguyễn Quang Diêu. Lần đầu tiên được nghe một ông bác kể
    chuyện cụ, tôi thán phục nhà cách mạng ở Cao Lãnh đó. Hôm nay đọc tác phẩm của ông
    Nguyễn Văn Hầu, tôi càng ngưỡng mộ cụ. Năm 1913 cụ cầm đầu một phái đoàn, đi lén cách nào
    không biết, qua Hương Cảng, chưa kịp hoạt động thì bị Pháp bắt, đưa về giam ở khám lớn Hà
    Nội rồi đày qua Guyane (Nam Mĩ). Vài năm sau cụ vượt ngục trốn qua đảo Trinidad của Anh.
    Cuối năm 1920, trở về Hương Cảng, tìm cách tiếp xúc với Nguyễn Hải Thần, năm 1926 tình
    nguyện trở về hoạt động ngay ở trong nước.
    Về tới Sa Đéc, cụ lại thăm cụ Võ Hoành. Cụ Võ sai người đưa vợ con cụ Nguyễn ở Cao Lãnh tới
    để gia đình gặp mặt nhau. Sau mười mấy năm xa cách, ai trong cảnh mà chẳng cảm động,
    quyến luyến. Vậy mà cụ chỉ khảng khái khuyên cụ bà một câu:
    “Tôi tưởng bỏ thân nơi đất lạ, nay may mà được về đây, mừng rỡ gặp nhau như vầy cũng là quí
    lắm. Thôi bà trở về lo lắng nuôi con, còn phần tôi bao giờ việc nước chưa xong thì chắc tôi chưa
    sum vầy với gia đình được.”
    Sao mà tinh thần cụ giống tinh thần cụ Phan Bội Châu đến thế!
    Rồi cụ hoạt động ngay ở quê nhà mới là gan cho chớ. Suốt mười năm sau luôn cho tới khi
    mất, khi nằm dưới ghe, khi trọ ở chùa, cụ liên kết các đồng chí, tuyên truyền trong đám thanh
    niên nhất là đám nông dân ở các tỉnh Cần Thơ, Long Xuyên, Tân An, Trà Vinh, Bến Tre… nhưng
    khu vực chính vẫn là miền Hồng Cao, vì miền này từ địa thế đến dân tình đều thuận tiện cho
    công việc cách mạng như tôi đã nói. Thành thử miền Hồng Cao giữ một địa vị đặc biệt trong
    đời cụ: Cụ sinh ở phía Nam miền đó, làng Tân Thuận, hoạt động khắp miền đó rồi qui tiên ở
    phía Bắc miền đó, làng Vĩnh Hoà, tại biên giới Việt – Miên. Ta ít thấy nhà cách mạng nào mà
    đời sống mật thiết với quê hương như vậy.
    Cụ mất 5 năm rồi, tung tích mới bị lộ và viên chủ tỉnh Châu Đốc nổi giận, hạ lệnh ngưng chức
    một lúc ba người trong ban hội tề làng Vĩnh Hoà. Tinh thần dân miền Hồng Cao đáng quí thật.
    Mà cụ không phụ lòng của họ, suốt đời khí tiết không đổi. Cũng như các đồng chí của cụ thời
    đó, cụ đã thất bại. Nhiệt huyết và can tràng thì có dư mà kĩ thuật cách mạng thì còn thiếu. Mà
    thời cơ lại không thuận tiện. Nhưng xét về phương diện kế vãng khai lai thì cụ đã thành công.
    Tôi chắc những bài thơ cách mạng của cụ đã nung chí nhiều người, và tôi cũng chắc rằng trong
    số môn đồ của cụ thế nào chẳng có một số đã hăng hái vác tầm vông đuổi Pháp khi Pháp được
    Mỹ ngầm giúp, theo gót Anh, đổ bộ lên đây để toan chiếm lại nước mình.
    Đời cách mạng của cụ gồm một phần tư thế kỉ mạo hiểm và hi sinh; thơ của cụ Nôm có, Hán
    có, giọng rất nồng nàn; mà danh của cụ thì ngoài miền Hồng – Cao, ít ai được biết. Trong những
    sách biên khảo về phong trào cách mạng ở miền Nam, tôi chưa thấy cuốn nào ghi tên cụ. Cụ
    chẳng cần người sau biết cụ, nhưng chúng ta là người sau có bổn phận ghi chép tiểu sử của cụ
    để lưu lại một tấm gương cho người sau nữa. Chúng ta nên hàm ơn ông Nguyễn Văn Hầu đã
    làm công việc ấy thay chúng ta.

    Ông Hầu quê ở Cù lao Giêng, khoảng giữa miền Hồng – Cao, hồi nhỏ có lần nuôi cái mộng
    được làm học trò của cụ, lớn lên luôn luôn tưởng niệm cụ, gần đây bỏ ra mấy năm điều tra,
    phỏng vấn rồi thu thập tài liệu về đời cụ cùng thi văn của cụ mà soạn nên cuốn này.
    Phần tiểu sử đầy đủ và đáng tin: ông thận trọng so sánh, cân nhắc kiểm soát tài liệu, rồi trung
    thực ghi lại, không tiểu thuyết hoá, chỗ nào có nhiều thuyết khác nhau thì tồn nghi.
    Phần thi văn cũng đáng quí: thi văn của cụ đồn rằng rất nhiều, nay còn lại khoảng trăm bài,
    đều có giọng kí thác, lời tuy không chuốt – nhà cách mạng, chí đâu ở làm thơ – nhưng một số
    bài có giá trị về sử liệu (như bài Hà Thành lâm nạn…) hoặc khéo dụng những từ ngữ đặc biệt
    của miền Nam (như bài Văn tế đức Giáo tông Cao Đài) gây được một âm hưởng riêng, lại có thể
    giúp được nhiều cho những ai muốn khảo về Việt ngữ.
    (Bỏ đoạn cuối khoảng 2 trang đưa một đề nghị với Viện khảo cổ Sài Gòn về việc thu thập các tài
    liệu, di tích về sử)
    Long Xuyên ngày 30-11-1966.

    LƯƠNG TÂM NHÂN LOẠI
    Nhiều nhà bác học trên thế giới đã lên tiếng từ hai chục năm nay rằng các nước giàu
    phải giúp các xứ nghèo phát triển để lấp dần cái hố giữa giàu nghèo đi.
    Ông Piatier trong cuốn Vie internationale Conflits (Larousse) khuyên các nước tiên tiến bớt
    ích kỉ đừng nắm trọn quyền sản xuất hoá phẩm mà phải mở rộng luồng xuất cảng theo cả hai
    chiều, nghĩa là cho các xứ kém phát triển được đủ phương tiện xuất cảng chẳng riêng nguyên
    liệu mà cả hoá phẩm nữa; muốn vậy, phải giúp kĩ nghệ của họ tiến bộ lên chứ đừng bóp nghẹt
    nó; ông lại khuyên tất cả các dân tộc phải vượt lên trên cái thói cạnh tranh, chiến đấu với nhau,
    hợp tác với nhau theo nhưng mẫu hợp đồng mới, phải tạo một ý thức hệ mới cho nhân loại, nếu
    không thì “sự hỗn loạn và những cuộc bạo động sẽ nhất định xảy ra, chúng ta chỉ chưa biết
    được là xảy ra làm sao, lúc nào và ở đâu đấy thôi.”
    Ông Fourastié trong cuốn Histoire de Demain cũng bảo các nước giàu và nghèo phải thay
    đổi thái độ với nhau; các nước giàu phải giúp đỡ các nước nghèo một cách tích cực hơn: trong
    thời đói kém, phải giúp đỡ vật chất bằng tặng phẩm; trong thời bình thường phải giúp vốn
    bằng dụng cụ, kĩ thuật và chuyên viên. Tất cả những sự giúp đỡ đó không nên trực tiếp từ nước
    này qua nước nọ mà nên chuyển qua Liên Hiệp Quốc làm trung gian, có vậy mới tránh được sự
    lợi dụng, những ảnh hưởng không tốt về chính trị thế giới, nguồn gốc của mọi sự xung đột. (Đó
    cũng là ý kiến của Max Pietsch trong La révolution Industrielle – Pagot – 1961). Và cũng như
    Piatier, ông nhấn mạnh rằng các nước giàu phải mua giúp sản phẩm của các nước nghèo, đừng
    cạnh tranh với họ, đừng dùng quan thuế để che chở sản phẩm của mình, như vậy để các nước
    nghèo sống được. Tóm lại, phải có một sự phân công trên phương diện quốc tế và Liên Hiệp
    Quốc phải lập những kế hoạch dài hạn cho toàn thế giới. Kí giả Mĩ Edgar Snow trong cuốn The
    other side of the River cũng nhận định như vậy: “Trong một thế giới đói mà Mĩ trợ cấp cho các
    điền chủ để họ bỏ hoang ruộng đất và mỗi ngày tiêu phí hai triệu Mĩ kim để trữ những nông
    phẩm dư xài thì quả là tinh thần còn ấu trĩ. Phải giúp các xứ kém phát triển những phương tiện
    sản xuất và phương tiện trao đổi về thương mại một cách bình đẳng.”
    Ông Alfred Sauvy còn quả quyết rằng “lương tâm nhân loại đã thức tỉnh” rằng các nước giàu
    sẽ phải chia ăn với các nước nghèo, có lẽ còn phải cho dân nghèo di cư vô nữa vì không có gì
    đáng thương tâm bằng đất để hoang trong khi nhiều dân tộc không đủ đất cày cấy! (Théorie
    générale de la population). Lời cảnh cáo của Marc Paillet trong cuốn Gauche année zéro
    (Gallimand – 1964) còn gay gắt hơn: phải rất đỗi điên khùng mới nghĩ rằng hiện trạng của thế
    giới có thế kéo dài rất lâu mà các dân tộc nghèo sẽ không dùng đến một giải pháp bi thảm. Kẻ
    sống trong cảnh thiếu thốn cực khổ thế nào rồi cũng tới lúc chỉ chết trong cảnh chiến đấu chứ
    không chịu khoanh tay mà chết dần chết mòn… Cái thế giới đói kia đã tổ chức lại rồi đấy. Nó đã
    đặt điều kiện rồi đấy. Rồi đây nó sẽ đòi cho được cái quyền của nó. Lúc đó sẽ không còn luân lí,
    công bằng gì ráo; chỉ có một mặt trận mà bên này là những kẻ túng thiếu, bên kia là những kẻ
    dư dả. Lúc đó có đưa ra lí lẽ này nọ thì cũng chẳng ai nghe.”
    Và theo ông, chỉ trong 10-20 năm nữa, nhiều dân tộc nghèo sẽ có bom nguyên tử, mà trong
    tay kẻ nghèo, một trái bom nguyên tử sẽ là một mối đe doạ kinh khủng gấp trăm trong tay kẻ
    giàu. Cuối cùng ông dẫn lời của René Dumont trong cuốn L'Afrique noire est mal partie. Sự mất
    thăng bằng giữa các nước giàu và các nước nghèo đã nghiêm trọng quá rồi. Viện trợ nào cứ
    tăng theo một mức chậm chạp như mấy năm nay thì không thể nào gây lại thế thăng bằng
    được. Phải viện trợ thật mạnh đi (…) mà như vậy dù sao cũng không tốn bằng số vũ khí người
    ta chế tạo mỗi năm (…) Phải có một kế hoạch chung cho thế giới, phải dần dần tiến tới một
    Chính phủ liên hiệp của toàn thế giới (…) nếu không thì vào khoảng năm 2.000 nhân loại sẽ
    lâm nguy vì nạn đói.
    Chỉ trong một năm nay, đọc được trên hai chục cuốn về kinh tế, chính trị, tôi thấy tác giả nào
    cũng gióng lên những lời thiết tha kêu gọi các nước giàu phải xét lại chính sách của họ với các
    nước nghèo. Ngay đến bác sĩ Karin Roon trong một cuốn dạy chúng ta cách nghỉ ngơi (The new
    way to relax) cũng thấy cần phải thay đổi nhân sinh quan cho hợp với thời đại: “Trong mười
    năm gần đây, những giá trị của chúng ta cũng thay đổi mau hơn là các thời trước. Khi cơn dông
    tàn phá châu Âu mới bặt tiếng gầm thét thì chúng ta đã biết ngay rằng phải nhìn tương lai theo

    một quan niệm khác. Cái mà xưa kia chúng ta gọi là sự an toàn đã không còn nữa: phải tìm nó ở
    ngay trong bản thân chúng ta. Những gia tài đồ sộ sụp đổ trong sớm tối. Ở cái thế giới có hằng
    trăm triệu kẻ đói rét, vô gia cư này mà súc tích tiền bạc và bảo vật thì chẳng đáng khen chút
    nào cả.”
    Các nhà bác học chân chính thường dễ thương. Họ trọng sự công bằng, ít có thành kiến,
    nhiều khi tư tưởng rộng rãi, vì họ chỉ yêu sự thực, và chỉ nghĩ tới nhân loại. Nhưng họ chẳng có
    quyền hành gì cả – giả sử có thì trong thời này cũng chưa chắc họ đã làm nên việc, họ chỉ có thể
    đánh thức lương tâm của nhân loại thôi, gợi lên một ý thức mới, một nhân sinh quan mới để
    khuyên nhủ các nhà cầm quyền thôi, mà các nhà này, vì địa vị, vì trách nhiệm, chỉ lo giải quyết
    những việc trước mắt, chỉ lo bảo vệ quyền lợi trước mắt của dân tộc họ[4], quyền lợi đó nhiều
    khi tương phản với quyền lợi các dân tộc khác và có thể tương phản với quyền lợi sau này của
    dân tộc họ nữa. Không một nước nào có chính sách nhìn xa cả. Năm 1947 hay 1948, ông
    Fellereau nói với Staline và Truman đại ý như sau: 'Tôi cần một tỉ Mĩ kim để diệt bệnh cùi trên
    khắp thế giới. Phi cơ của các ông có kiểu tốn 500 triệu Mĩ kim. Trong kế hoạch chế tạo của các
    ông, mỗi ông chịu bỏ đi một kiểu thôi thì lực lượng của các ông vẫn không chênh lệch nhau, mà
    tôi có tiền trị được hết bệnh cùi cho nhân loại.”
    Staline và Truman đều làm thinh.
    Mười lăm năm sau, A. Sauvy trong cuốn Malthus est les deux Marx (De noel) dẫn lời đó của
    Fellereau rồi kết luận: “Các ông giàu có, chiếm ba phần tư tài nguyên trên địa cầu kia, các ông
    phung phí tài nguyên đó là mang tội đấy. Các xung đột giữa các ông với nhau dù có quan trọng
    tới đâu đi nữa, so với sự sống của trên một tỉ người thì cũng không đáng kể gì. Thế hệ trước,
    các ông đã so sánh bơ và đại bác và các ông đã lựa đại bác [nghĩa là bắt dân nhịn để có tiền chế
    tạo đại bác]. Bây giờ đây phải lựa chọn giữa đại bác của các ông và bơ của chúng tôi [của các
    nước nghèo], đúng hơn là giữa hoả tiễn của các ông và cơm của chúng tôi. Vì các ông phí phạm
    cơm hôm nay của chúng tôi, và tệ hơn, cả phần cơm có thể có được của chúng tôi sau này
    nữa… (không có gì tội nặng bằng dùng những thứ có thể nuôi sống người này để giết người
    khác). Sao Sauvy không nói: dùng những thứ có thể nuôi sống người để giết người? Câu đó làm
    cho tôi nhớ câu của Mạnh tử trong Li Lâu thượng: “Suất thổ địa nhi thực nhân nhục, tội bất
    dung ư tử.” (Vì tranh đất mà gây chiến, làm cho dân chết thì không khác gì cho đất đã ăn thịt
    dân, tội đó không tha chết được). Hoàn cảnh có khác nhưng lời kết tội cũng gắt như nhau. [5]
    Trong cuốn Le empire arabe, troisième grand? (Au fil d'Ariane – 1963) Henri Jego cho rằng Âu
    Mĩ ngày nay đã gần như chịu thua Nga ở châu Á, chỉ còn lo đối phó ở Ả Rập, Phi Châu, Nam Mĩ,
    và ông tự hỏi đế quốc Ả Rập sau này có thể thành khối thứ ba trên thế giới được không. Tôi
    nghĩ rằng trên thế giới không có ba khối mà chỉ có hai khối: Giàu và Nghèo. Âu Mĩ, cả Nga nữa
    thuộc vào khối giàu; khối nghèo gồm tất cả các nước kém phát triển và tới cuối thế kỉ, khối này
    sẽ chiếm 4 phần 5 dân số thế giới. Trong lịch sử nhân loại, chưa bao giờ người ta có thể dùng
    sức mạnh mà diệt được hết kẻ nghèo, vì họ đông quá; chỉ có cách cải thiện đời sống của kẻ
    nghèo, làm cho họ đỡ khổ cực, điêu đứng là giảm được sức mạnh của họ thôi. Mà không thể chỉ
    dùng ý thức hệ mà cải thiện được đời sống con người. Người nghèo khổ không cần biết mà
    cũng không thể hiểu nỗi những ý thức hệ cao đẹp của khối này hay khối khác, họ chỉ muốn
    được trông thấy kết quả cụ thể của mỗi ý thức hệ, ý thức hệ nào nâng cao đời sống, nhân phẩm
    của họ được mau là họ trọng, là họ theo. Các nước tiên tiến muốn ganh đua nhau thì chỉ nên
    ganh đua về phương diện đó.
    Nhà tư tưởng nào truyền bá được trong nhân loại sự tương thân, tương trợ, nhà cầm quyền ở
    các nước phát triển nào giảng cho dân chúng, nhận chân được rằng mình sống sung sướng gấp
    cả chục lần dân tộc khác thì nên nhịn tiêu xài một chút để giúp đỡ xứ nghèo mà chẳng đòi hỏi
    gì cả, những nhà đó sẽ là ân nhân của chúng ta[6], vì trong mỗi nước mới chỉ được vài ngàn hay
    vài vạn người biết nhìn xa mà thấy được cái hướng tiến của thế giới thì lương tâm thế giới
    chưa thể gọi là thức tỉnh được.
    Năm 1835, Alexit de Tocqueville trong cuốn De la démocratie en Amérique, và năm 1961,
    Eisenhower khi mãn nhiệm kì tổng thống, đều cảnh cáo các nhà cầm quyền rằng phải đề
    phòng bọn quân phiệt – thời này họ càng mạnh vì liên kết với bọn kĩ phiệt (technocrate) và tài

    phiệt, đừng để họ phá hoại tự do và hòa bình. Chỉ khi nào già nửa dân chúng trong mỗi nước
    giác ngộ và đả đảo bọn “phiệt” đó thì nhân loại mới có thể hòa bình, mà các dân tộc mới giúp
    đỡ nhau như anh em được, các nước kém phát triển mới được bình đẳng với các nước tiên tiến
    về phương diện sử dụng tài nguyên thế giới và phương diện trao đổi sản phẩm đúng như lời
    cam kết trong Hiến Chương Đại Tây Dương.[7]
    Đả đảo bọn quân phiệt rồi nhân loại mới có thế tiến tới hòa bình được. Chế tạo mỗi khẩu
    súng đại bác, mỗi phi cơ khu trục, mỗi chiến hạm là cướp đi bao nhiêu cơm áo của người
    nghèo, bao nhiêu mồ hôi của thợ thuyền. Số tiền Nga và Mĩ dùng để chế tạo vũ khí, nếu chia
    đều cho các dân nghèo trên thế giới thì mỗi người được cả vạn đồng mỗi năm, xây được biết
    bao trường học và dưỡng đường. Ai cũng biết vậy mà không ai giải được cái nạn chiến tranh
    cho nhân loại. Loài người săn tìm được cách lên cung trăng mà bao giờ mới tìm được cách
    sống yên ổn với nhau trên địa cầu này? Không thể sống yên ổn với nhau trên địa cầu thì lên
    cung trăng làm gì? Cái bi kịch vạn đại của nhân loại ở đó: chinh phục được thiên nhiên mà
    không thắng được lòng mình, không tạo được hạnh phúc cho mình.
    (Trích trong Một niềm tin. 160-165, viết năm 1964, xuất bản năm 1965.)

    LÀM CON NÊN NHỚ
    Hôm nay tôi đọc lại không biết là lần thứ mấy bức thư của Livingstone Larnod nhan đề là
    Làm cha nên nhớ mà Dale Carnegie đã trích dẫn trong cuốn Đắc nhân tâm, bức thư mở đầu
    như vầy: “Con ơi, con ngủ, má đỏ kề bên tay, tóc mây dính trên trán…”
    Trong cái kho tàng văn học Đông, Tây tôi chỉ mới thấy được bốn năm bài cảm động như bức
    thư ấy. Lần nào đọc lại tôi cùng rưng rưng nước mắt mà hối hận rằng, đã nhiều lần, y như ông
    Livingstone Larnod, đôi khi tôi tỏ ra gắt gỏng quá, nghiêm khắc quá với con tôi, bất công với
    nó nữa. Nhưng hôm nay đọc lại, tôi còn cảm động hơn tất cả các lần trước, tôi đã sụt sùi vì
    chẳng những tôi đã nghĩ đến con tôi mà còn nghĩ tới ba tôi nữa.
    Lạ thật! Bức thư đó chỉ là lời sám hối của một người cha mà sao hôm nay nó lại gợi cho tôi
    lòng sám hối của một người con, là tôi.
    Hồi đó tôi mới đúng năm tuổi, vừa thuộc vần quốc ngữ. Ba tôi chỉ bài cho tôi rồi đi thăm một
    người bạn; trước khi đi dặn kỹ tôi ở nhà phải học bài cho thuộc đã rồi hãy chơi để khi người về
    thì trả bài. Nhưng ba tôi vừa mới ra khỏi cửa thì một đứa trẻ bên hàng xóm qua rủ tôi đánh bi
    và tôi đã quên lời dặn của ba tôi, vui vẻ đánh bi. Vài giờ sau ba tôi về, bài không thuộc và tôi bị
    nọc ra đánh. Tôi không còn nhớ trận đòn đó dữ ra sao, chỉ nhớ rằng bà ngoại tôi phải xin giùm
    cho tôi.
    Tối hôm đó, ăn cơm xong tôi vẫn còn len lét, tính mở sách ra học thì ba tôi bảo: “Tối nay cho
    con nghỉ học; thay quần áo rồi đi chơi với cậu.” Tôi mừng quýnh. Ba tôi thuê xe lại đường Paul
    Bert, dắt tôi vào tiệm rực rỡ ánh đèn, mua cho tôi một gói kẹo tây, rồi hai cha con nắm tay
    nhau thủng thẳng đi lại hồ Hoàn Kiếm, phía đối diện với Tháp Bút, ngồi hóng mát và thưởng
    sen bên bờ nước. Ba tôi giấu gói kẹo, bảo tôi kiếm, đùa giỡn với tôi bên bãi cỏ. Chỗ đó vắng
    người và ít ánh đèn. Bình thường ba tôi rất nghiêm khắc mà lúc đó thật âu yếm.
    Chuyện đó có gì lạ đâu, mà sao đã gần nửa thế kỷ, hôm nay tôi vẫn còn nhớ rành mạch, nhớ
    từ nếp khăn ba tôi chít tới những đám sen trên mặt hồ. Hồi đó tôi chỉ cảm được lòng thương
    của ba tôi chứ nhất định là chưa phân tích được tâm lí của người, nhưng hôm nay tôi đã hiểu
    tâm lý đó.
    Tâm lí đó cũng y như tâm lí của tôi cách đây mười sáu năm, hồi con tôi mười một tuổi. Một
    lần nó vô ý mắc nhiều lỗi nặng khi làm bài; tôi đánh nó mấy roi; mươi, mười lăm phút sau, qua
    cơn giận, tôi thấy tôi vô lí, tôi hối hận, vắt cho nó một li nước cam, đưa lên kề môi cho nó uống
    và trong khi nó uống thì nước mắt của chúng tôi rớt trên tập vở của nó, làm nhòe mất mấy chữ.
    Chiều đó tôi cho nó nghỉ học sớm, rủ nó ra sân đánh bi. Và tôi để cho nó thắng. Thắng được tôi,
    nó thích lắm. Hôm nay nó còn nhớ trận đòn đó không (tôi mong rằng không), nhưng tôi thì
    không quên.
    Một nỗi thương tâm chung cho loài người là khi hiểu được tình của cha mẹ thì cha mẹ
    thường đã khuất bóng. Sau cái đêm trên bờ hồ Hoàn Kiếm, ba tôi chỉ sống thêm được khoảng
    hai năm. Bây giờ đây tôi biết đổi cái gì cho ba tôi sống lại được, dù chỉ trong mười phút, để
    nghe lời sám hối của tôi, đọc bức thư này của tôi!
    Tôi biết rằng một đứa trẻ mới năm tuổi thì chưa thể tự chủ được, chưa hiểu được thế nào là
    bổn phận, việc nào là phải làm, vậy thì tuổi đó tôi ham chơi, không học bài, đâu phải là có lỗi.
    Nhưng hôm nay tôi vẫn sám hối. Vì tôi đã gây khổ cho ba tôi, dù chỉ là vô tình. Đêm hôm đó
    chắc ba tôi đã bứt rứt, hối hận lắm, nên mới âu yếm với tôi như vậy. Xin vong linh cậu tha lỗi
    cho con. Hôm nay lòng con cũng nát như lòng cậu đêm đó vậy.
    Phải có con rồi mới hiểu được nỗi lòng của cha. Trong một trăm gia đình, dù giàu dù nghèo,
    đã sang dù hèn, tôi không chắc có được một gia đình nào mà cha mẹ không buồn khổ ít nhiều
    vì con cái. Chúng ngu đần thì nhất định là cha mẹ buồn rồi, mà chúng thông minh thì nhiều khi
    cha mẹ cũng bực mình; chúng khó dạy thì nhất định là cha mẹ khổ rồi, mà chúng dễ dạy thì cha
    mẹ chưa chắc đã khỏi khổ. Hồi nhỏ tôi thường được khen là ngoan mà nay nhớ lại đã bao lần
    làm cho cha mẹ tôi rầu rĩ. Rồi còn biết bao gia đình trẻ mắng lại cha mẹ, từ bỏ cha mẹ mới là
    đứt ruột cho chứ! Nếu không vậy thì lại là những đứa chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến cha
    mẹ. Hai mươi lăm tuổi đầu, tư chất kém, thi hoài Tú tài 1 mà không đậu, mà vẫn không chịu

    kiếm một nghề để giúp nhà, vẫn bắt cha già bảy chục tuổi lọm cọm kiếm từng đồng một để
    đóng tiền cơm, tiền học cả ngàn đồng mỗi tháng. Những cảnh thương tâm đó nhan nhản trong
    xã hội.
    Thời nay nhà giáo dục nào cũng bênh vực quyền lợi của trẻ, điều đó rất chính đáng. Người
    lớn chúng ta nhiều khi bất công thật, có kẻ tàn nhẫn nữa, cho nên lời của Livingstone Larnod
    mới làm cảm động lòng ta như vậy, mới được dịch ra mười bốn thứ tiếng, đăng trên hàng trăm
    tờ báo, đọc trên hàng chục đài phát thanh. Nhưng có ai lưu tâm chỉ một chút thôi, tới nỗi lòng
    của cha mẹ không? Trong mấy chục năm nay tôi chưa được đọc một cuốn nào, một bài nào kể
    những nỗi khổ tâm của người cha đấy. Không dạy trẻ thì có tội bỏ bê chúng, mà dạy chúng thì
    làm sao chẳng có lúc nghiêm khắc mà phải chuốc lấy lời trách oán của các nhà giáo dục kia?
    Má tôi ít học, nhưng có tình thương con thì là có lương tri, mà có lương tri thì còn hơn là có
    tiền: người đã để tôi tự ý định đoạt lấy cuộc đời của tôi, không can thiệp vào sự lựa nghề, sự lập
    gia đình của tôi. Hồi trẻ tôi cho vậy là tự nhiên; phải đợi tới ngày nay, hai thứ tóc rồi, tôi mới
    hiểu rằng người đã hi sinh cho tôi. Không hi sinh mà tôi là con trưởng lại để tôi sống xa người
    tới hai ngàn cây số! Không hi sinh, mà nhà tôi trước sau làm dâu không đầy một tháng! Không
    hi sinh, mà người phải đi về bốn ngàn cây số để bồng cháu nội của người trong có bảy ngày!
    Những giả sử hồi đó người có “can thiệp” vào đời sống của tôi thì bây giờ...
     
    Gửi ý kiến

    Học từ sách là học từ tinh hoa của nhân loại.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NAM ĐỒNG - TP. HẢI PHÒNG !