Video sự tích cây nêu đất
Để tôi đọc lại

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:48' 17-04-2024
Dung lượng: 667.5 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:48' 17-04-2024
Dung lượng: 667.5 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
MỤC LỤC
Lời nhà xuất bản
Lời nói đầu
Tựa cuốn Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu
Lương Tâm Nhân Loại
Làm con nên nhớ
Nhà cầm quyền và dư luận
Thầy học tôi: Cụ Dương Quảng Hàm
Ý nghĩa cái chết của giáo sư Trần Vinh Anh
Cụ Phan (Bội Châu) và lòng dân
Nguyễn Hữu Ngư và tập Quê Hương
Khóc bác Đông Hồ
Tựa Úc Viên Thi Thoại của Đông Hồ
Tôi dịch Chiến Tranh và Hòa Bình
Hoa đào năm trước
Nhà cách mạng Trần Quí Cáp
Thi sĩ Quách Tấn và Xứ Trầm Hương
Con đường hòa bình
Từ Phương Khê lên Núi Hùng
Mối tình nghệ sĩ
Tựa Tuyển tập thơ Hán Việt
Nguy cơ xuất não
Hiện tượng “nhân tài di cư” từ xưa tới nay
Tây Âu bị xuất não
Tây Âu rút óc lại của các nước nhược tiểu
Nước giàu nhất thế giới được các nước nghèo giúp đỡ
Rút óc ngầm
Cái hại cho sự xuất não
Nguyên nhân sự xuất não
Làm sao chặn được sự xuất não
Hư Chu Nguyễn Kì Thuỵ (1923-1973)
Tựa Đất nước Quê hương
Cháu Bà nội tội Bà Ngoại
Chúng ta phải làm gì?
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Từ vài ba bốn chục năm gần đây bạn đọc nước ta, nhất là các nhà nghiên cứu khoa học xã hội,
đã từng quen biết Nguyễn Hiến Lê. Người ta không chỉ hoan nghênh và thẳng thắn trao đổi
cùng ông về những ý kiến do ông đưa ra về nhiều vấn đề học thuật hay quốc kế dân sinh, mà
người ta còn ghi nhận ở ông – một trí thức cần cù, luôn có khát vọng đóng góp công sức khảo
cứu của mình vào việc xây dựng một nền văn hoá – giáo dục Việt Nam thích hợp, lành mạnh,
phát triển.
Tập Để tôi đọc lại của ông đã phản ánh một phần tư tưởng khoa học của ông, tấm lòng yêu
nước và tinh thần dân tộc của ông.
Như là một tập bút kí, ghi chép, giới thiệu văn chương – văn học – văn hoá và một số vấn đề
liên quan, được viết ra từ cách đây vài ba chục năm, Để tôi đọc lại được xuất bản vào thời điểm
này, cũng sẽ giúp bạn đọc có thêm một tài liệu tham khảo bổ ích. Chúng ta sẽ gặp lại ở đây
những ý nghĩ, những kiến giải… của Nguyễn Hiến Lê mà chúng ta từng tán thành, từng thấy là
chúng đang được thực hiện; chúng ta cũng sẽ thấy là trong tập sách này cũng còn một số ý kiến
cần được trao đổi thêm, nhiều số liệu và sự việc đã không còn cập nhật nữa.
Thiết nghĩ, đó đều là những việc có thể coi là bình thường trên diễn đàn học thuật lâu nay.
Nhà xuất bản Văn học trân trọng giới thiệu tập Để tôi đọc lại của Nguyễn Hiến Lê cùng bạn
đọc.
Nhà xuất bản Văn học
Lời nói đầu
Đây không phải là một tuyển tập theo nghĩa chúng ta thường hiểu. Vì không có ý chỉ gom toàn
những bài và hết thảy những bài tôi lấy làm đắc ý, mà còn thu thập một số bài tôi muốn đọc lại
vì nhiều lí do: có bài chép một hồi kí về người thân, bạn thân, bản thân của tôi, hoặc gợi lại cho
tôi những cảnh đẹp tôi đã được thấy trong những phút rất ngắn ngủi nhưng thần tiên; có bài
đánh dấu những suy tư của tôi về nhân sinh, về nghề cầm bút, những thí nghiệm của tôi về một
bút pháp, có bài ghi lại những niềm ân hận, bất bình của tôi trong một xã hội, một thế giới đương
trải qua một thời đại cực kì bất ổn, hỗn loạn.
Khi thu thập tôi không có thì giờ đọc lại hết một trăm tác phẩm (cả biên khảo lẫn dịch thuật)
tôi đã xuất bản, với mười lăm tác phẩm nữa viết rồi mà chưa in, và những bài đăng trong năm
trăm số báo mà khoảng một nửa chưa vô tập nào; cứ nhớ tới đâu tôi mới lục ra mà chép ra tới
đấy. Sau này, nếu nhớ thêm tôi có thể sẽ thu thập một số bài khác, hoặc bỏ bớt một số bài đã ở
đây. Tình cảm và tư tưởng của chúng ta vẫn thường thay đổi tuỳ tuổi và tuỳ hoàn cảnh bên
ngoài.
Khi chép lại, tôi thuận tay sửa đôi vài chữ (rất ít), bỏ hay thêm vài câu mà tôi đã đánh dấu hoặc
cước chú để dễ nhận ra. Tôi rán ghi xuất xứ mỗi bài, nhưng có vài ba bài tôi chỉ nhớ mài mại
đăng ở báo này năm nào thôi, vì không kiếm ra những số báo đó.
Tôi sắp đặt theo thứ tự thời gian, từng năm, chứ không từng tháng: có những bài cách nhau
nhiều tháng mà tôi đặt liền nhau, vì cùng một thể văn, cùng một đề tài, hoặc cùng viết về một
người. Nhưng ở sau bảng mục lục tôi đã làm một bảng phân loại sơ sài để dễ tìm.
Tập này chép làm ba bản; chỉ bản I, II là chép đủ các bài còn bản III chỉ chép những bài hơi khó
khăn vì không có trong các tác phẩm của tôi đã xuất bản.
Sài Gòn ngày 1-1–1978
Nguyễn Hiến Lê
TỰA CUỐN CHÍ SĨ NGUYỄN QUANG DIÊU
của Nguyễn Văn Hầu (Xây Dựng, 1961)
Lần đầu tiên đặt chân lên đất Sài Gòn, tôi ngán “Hòn ngọc Viễn Đông” này quá. Đủ mọi giống
người hỗn tạp, đa số là con buôn; trong bụi và ồn; muốn kiếm một chỗ thanh tịnh có chút di
tích để ôn lại dĩ vãng thì không biết kiếm ở đâu, và suốt ngày thâu đêm chỉ thấy người ta ăn
uống, đánh tứ sắc và ca vọng cổ.
Cũng may, lần ấy tôi chỉ ở Sài Gòn có nửa tháng rồi được phái ngay xuống Lục tỉnh. Trong hai
năm liền, tôi đi khắp miền Tây, tới đâu cũng nhận xét dân tình và tôi mừng rằng sinh lực của
miền Nam này còn mạnh lắm. Nó không hiển hiện ở các đô thị như Sài Gòn Chợ Lớn mà dào
dạt, cuồn cuộn ở thôn quê, trên bờ nương con rạch mát rượi bóng dừa, trên những cánh đồng
bát ngát bông sen và bông súng. Dù ở Cần Thơ, Rạch Giá hay Sa Đéc, đâu đâu tôi cũng thấy dân
quê chất phác và đôn hậu, giữ được truyền thống của tổ tiên hơn cả dân quê miền Bắc.
Lạ lùng thật, Nam Việt là đất mới, lại chịu ảnh hưởng của Pháp sớm hơn Bắc Việt mà cổ tục ở
đây được bảo tồn hơn ở ngoài kia. Cơ hồ nông dân nào cũng nhớ được nhiều tích cũ, thuộc
được ít câu trong Minh tâm bửu giám, họ hiếu đễ, biết kính trọng nhà Nho, mà nhà Nho ở đây
cũng đáng cho họ trọng: có lễ độ, có tâm hồn, một số có khí phách nữa. Tôi đã vào những nhà
sàn ba gian lợp ngói hay lá, thấp lè tè, tối om om và thấy nhà nào căn đẹp nhất cũng dành cho
việc thờ phụng tổ tiên, mà những chỗ trang hoàng đẹp nhất cũng là những chỗ để thờ; bên
cạnh ban thờ tôi lại thấy treo hình các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. Chủ nhân luôn luôn
nhã nhặn tiếp đón tôi, và khi thấy tôi chăm chú nhìn các đôi câu đối, đoán rằng tôi biết chút ít
chữ Hán thì không e dè gì cả, đọc cho tôi nghe thơ văn của các nhà cách mạng hoặc hỏi tôi còn
nhớ truyện Ma Chí Ni, Gia Lý Ba Địch[1] trong bộ Ẩm Băng của Lương Khải Siêu không. Các nhà
nho đó rất nghiêm khắc: con đã đi tri huyện rồi, các cụ cũng nọc ra mà đánh, đậu kĩ sư rồi, các
cụ cũng bắt đi chăn trâu trong khi đợi bố; và khi các cụ khuyên bảo điều gì thì dân làng răm rắp
tuân theo hơn là tuân lệnh chủ quận.
Sinh lực của miền Nam là ở đó: hạng cựu học vẫn giữ được phong độ, được dân chúng kính
mến và tin tưởng; nhờ vậy hạng tân trí thức chưa đến nỗi vong bản, và giữa các giới có một
tinh thần đoàn kết ngấm ngầm chống lại Pháp; thành thử sau tám chục năm cai trị, ảnh hưởng
của Pháp ở đây chỉ như một lớp sơn, chưa ăn sâu được vào quần chúng. Khắp mấy tỉnh phía
tây, tôi mến nhất miền từ Hồng Ngự tới Cao Lãnh, một phần vì tôi biết rõ miền này hơn hết[2].
Từ Hồng Ngự, xuôi dòng Tiền Giang lần lượt hiện ra những bụi tre rậm rạp, những vườn gòn
lưa thưa, những cồn cát đìu hiu, những ruộng dâu xanh mướt, những hàng sao nghiêm trang
sau những hàng dừa yểu điệu, và bất giác ta ngâm lên những vần thơ của Thôi Hạo trong bài
Hoàng hạc lâu, và của Huy Cận trong bài Tràng Giang.
Tới Tân Thuận và Cao Lãnh, ta được cảnh vật tưng bừng tiếp đón: dưới rạch ghe xuồng chen
chúc mà trên bờ nhà cửa san sát, mận xoà trên mặt nước, xoài rủ ở trên đầu, quít thì đỏ ối mà
nước thì trong xanh; con gái đã đẹp, nổi tiếng nữ công nữ hạnh mà con trai thì hay chữ mà có
chí khí.
Cảnh chẳng những đẹp mà còn hùng. Con sông Tiền Giang ở những chỗ đầu cồn và cuối cồn,
rộng có tới hai ba cây số, gặp mùa lụt lớn như vừa rồi, nước băng băng chảy, ngập cả vườn
tược, đồng ruộng trên phi cơ nhìn xuống người ta chỉ thấy một biển nước bao la trải ra từ biên
giới Cao Miên tới vịnh Thái Lan, trên đó ló lên những ngọn cây và mái nhà. Mùa nắng nếu ta
ghé vào tả ngạn, từ Hồng Ngự tới Phong Mĩ, bất cứ nơi nào, đi sâu vô ba cây số là gặp một cảnh
hoang vu đáng làm đầu đề ngâm vịnh cho phái biên tái đời Đường: một khu rộng mấy chục cây
số toàn lau, sậy, bàng, lát, trên là ánh nắng gay gắt, dưới là bùn lầy, không có một bóng người,
nhưng vô số rùa, rắn, đỉa, muỗi … Xưa kia đây là đất dụng võ của Thiên Hộ Dương, mà gần đây
nó vẫn là đất tung hoành của nhiều trang hảo hán. Thực dân Pháp ít khi phái lính vô, nhưng
luôn luôn gờm miền này, nên đặt nhiều trạm do thám bao vây, riêng tôi biết được ba trạm ở
Cao Lãnh, Chợ Thủ và Chợ Mới.
Biết rõ địa lí miền Hồng – Cao rồi, độc giả sẽ hiểu tại sao nó là nơi phát sinh nhiều nhà cách
mạng. Nhờ có những khu phì nhiêu mà sự học mới phát đạt, và Cao Lãnh từ xưa vẫn nổi tiếng
là đất văn vật. Hán học thịnh, gây được một truyền thống đạo nghĩa, ái quốc; truyền thống đó
dễ giữ vì miền này hẻo lánh, ảnh hưởng của Pháp khó tới (hồi xưa, chưa có ca nô, xe hơi, phải
chèo xuồng từ Đốc Vàng qua Long Xuyên mất một ngày, lên Sài Gòn mất một tuần; rồi lại nhờ
cảnh thiên nhiên hoang vu hùng vĩ, người ta phải phấn đấu, quen xông pha, biết đoàn kết, sau
cùng nhờ có cánh đồng Tháp ở ngay sau nền nhà[3], người ta muốn trốn lúc nào cũng được,
nên tinh thần chống Pháp càng mạnh. Vì vậy vào khoảng 1907-1908, khi phong trào Đông du
nổi lên ở Nam Việt thì miền Cao Lãnh hưởng ứng liền. Ít năm sau Pháp bắt cụ Dương Bá Trạc
an trí ở Long Xuyên, cụ Võ Hoành an trí ở Sa Đéc, rồi do một sự tình cờ cụ Phương Sơn cũng
trong Đông Kinh nghĩa thục, lựa ngay miền Đốc Vàng để ẩn náu; và các nhà Nho có tâm huyết ở
miền Hồng – Cao ngẫu nhiên mà được gần một số đàn anh đất Bắc, tinh thần càng thêm phấn
khởi. Từ Cao Lãnh tới Hồng Ngự, không làng nào không có một vài nhà cách mạng bị Pháp tróc
nã, hoặc ghi tên vào sổ đen. Riêng làng Đốc Vàng Thượng tôi đã biết bốn năm nhà; ở Cao Lãnh
chắc còn nhiều hơn. Những hoạt động của các nhà đó, dân chúng đều biết, các hương chức còn
biết rõ hơn nữa, nhưng tôi đã nói, dân ở đây biết đoàn kết, biết trọng truyền thống, nên kẻ nào
dù không tán đồng cũng không mặt mũi nào tố cáo và Pháp hay được mà ra tay thì thường là
đã muộn.
Kiệt hiệt nhất trong số đó là cụ Nguyễn Quang Diêu. Lần đầu tiên được nghe một ông bác kể
chuyện cụ, tôi thán phục nhà cách mạng ở Cao Lãnh đó. Hôm nay đọc tác phẩm của ông
Nguyễn Văn Hầu, tôi càng ngưỡng mộ cụ. Năm 1913 cụ cầm đầu một phái đoàn, đi lén cách nào
không biết, qua Hương Cảng, chưa kịp hoạt động thì bị Pháp bắt, đưa về giam ở khám lớn Hà
Nội rồi đày qua Guyane (Nam Mĩ). Vài năm sau cụ vượt ngục trốn qua đảo Trinidad của Anh.
Cuối năm 1920, trở về Hương Cảng, tìm cách tiếp xúc với Nguyễn Hải Thần, năm 1926 tình
nguyện trở về hoạt động ngay ở trong nước.
Về tới Sa Đéc, cụ lại thăm cụ Võ Hoành. Cụ Võ sai người đưa vợ con cụ Nguyễn ở Cao Lãnh tới
để gia đình gặp mặt nhau. Sau mười mấy năm xa cách, ai trong cảnh mà chẳng cảm động,
quyến luyến. Vậy mà cụ chỉ khảng khái khuyên cụ bà một câu:
“Tôi tưởng bỏ thân nơi đất lạ, nay may mà được về đây, mừng rỡ gặp nhau như vầy cũng là quí
lắm. Thôi bà trở về lo lắng nuôi con, còn phần tôi bao giờ việc nước chưa xong thì chắc tôi chưa
sum vầy với gia đình được.”
Sao mà tinh thần cụ giống tinh thần cụ Phan Bội Châu đến thế!
Rồi cụ hoạt động ngay ở quê nhà mới là gan cho chớ. Suốt mười năm sau luôn cho tới khi
mất, khi nằm dưới ghe, khi trọ ở chùa, cụ liên kết các đồng chí, tuyên truyền trong đám thanh
niên nhất là đám nông dân ở các tỉnh Cần Thơ, Long Xuyên, Tân An, Trà Vinh, Bến Tre… nhưng
khu vực chính vẫn là miền Hồng Cao, vì miền này từ địa thế đến dân tình đều thuận tiện cho
công việc cách mạng như tôi đã nói. Thành thử miền Hồng Cao giữ một địa vị đặc biệt trong
đời cụ: Cụ sinh ở phía Nam miền đó, làng Tân Thuận, hoạt động khắp miền đó rồi qui tiên ở
phía Bắc miền đó, làng Vĩnh Hoà, tại biên giới Việt – Miên. Ta ít thấy nhà cách mạng nào mà
đời sống mật thiết với quê hương như vậy.
Cụ mất 5 năm rồi, tung tích mới bị lộ và viên chủ tỉnh Châu Đốc nổi giận, hạ lệnh ngưng chức
một lúc ba người trong ban hội tề làng Vĩnh Hoà. Tinh thần dân miền Hồng Cao đáng quí thật.
Mà cụ không phụ lòng của họ, suốt đời khí tiết không đổi. Cũng như các đồng chí của cụ thời
đó, cụ đã thất bại. Nhiệt huyết và can tràng thì có dư mà kĩ thuật cách mạng thì còn thiếu. Mà
thời cơ lại không thuận tiện. Nhưng xét về phương diện kế vãng khai lai thì cụ đã thành công.
Tôi chắc những bài thơ cách mạng của cụ đã nung chí nhiều người, và tôi cũng chắc rằng trong
số môn đồ của cụ thế nào chẳng có một số đã hăng hái vác tầm vông đuổi Pháp khi Pháp được
Mỹ ngầm giúp, theo gót Anh, đổ bộ lên đây để toan chiếm lại nước mình.
Đời cách mạng của cụ gồm một phần tư thế kỉ mạo hiểm và hi sinh; thơ của cụ Nôm có, Hán
có, giọng rất nồng nàn; mà danh của cụ thì ngoài miền Hồng – Cao, ít ai được biết. Trong những
sách biên khảo về phong trào cách mạng ở miền Nam, tôi chưa thấy cuốn nào ghi tên cụ. Cụ
chẳng cần người sau biết cụ, nhưng chúng ta là người sau có bổn phận ghi chép tiểu sử của cụ
để lưu lại một tấm gương cho người sau nữa. Chúng ta nên hàm ơn ông Nguyễn Văn Hầu đã
làm công việc ấy thay chúng ta.
Ông Hầu quê ở Cù lao Giêng, khoảng giữa miền Hồng – Cao, hồi nhỏ có lần nuôi cái mộng
được làm học trò của cụ, lớn lên luôn luôn tưởng niệm cụ, gần đây bỏ ra mấy năm điều tra,
phỏng vấn rồi thu thập tài liệu về đời cụ cùng thi văn của cụ mà soạn nên cuốn này.
Phần tiểu sử đầy đủ và đáng tin: ông thận trọng so sánh, cân nhắc kiểm soát tài liệu, rồi trung
thực ghi lại, không tiểu thuyết hoá, chỗ nào có nhiều thuyết khác nhau thì tồn nghi.
Phần thi văn cũng đáng quí: thi văn của cụ đồn rằng rất nhiều, nay còn lại khoảng trăm bài,
đều có giọng kí thác, lời tuy không chuốt – nhà cách mạng, chí đâu ở làm thơ – nhưng một số
bài có giá trị về sử liệu (như bài Hà Thành lâm nạn…) hoặc khéo dụng những từ ngữ đặc biệt
của miền Nam (như bài Văn tế đức Giáo tông Cao Đài) gây được một âm hưởng riêng, lại có thể
giúp được nhiều cho những ai muốn khảo về Việt ngữ.
(Bỏ đoạn cuối khoảng 2 trang đưa một đề nghị với Viện khảo cổ Sài Gòn về việc thu thập các tài
liệu, di tích về sử)
Long Xuyên ngày 30-11-1966.
LƯƠNG TÂM NHÂN LOẠI
Nhiều nhà bác học trên thế giới đã lên tiếng từ hai chục năm nay rằng các nước giàu
phải giúp các xứ nghèo phát triển để lấp dần cái hố giữa giàu nghèo đi.
Ông Piatier trong cuốn Vie internationale Conflits (Larousse) khuyên các nước tiên tiến bớt
ích kỉ đừng nắm trọn quyền sản xuất hoá phẩm mà phải mở rộng luồng xuất cảng theo cả hai
chiều, nghĩa là cho các xứ kém phát triển được đủ phương tiện xuất cảng chẳng riêng nguyên
liệu mà cả hoá phẩm nữa; muốn vậy, phải giúp kĩ nghệ của họ tiến bộ lên chứ đừng bóp nghẹt
nó; ông lại khuyên tất cả các dân tộc phải vượt lên trên cái thói cạnh tranh, chiến đấu với nhau,
hợp tác với nhau theo nhưng mẫu hợp đồng mới, phải tạo một ý thức hệ mới cho nhân loại, nếu
không thì “sự hỗn loạn và những cuộc bạo động sẽ nhất định xảy ra, chúng ta chỉ chưa biết
được là xảy ra làm sao, lúc nào và ở đâu đấy thôi.”
Ông Fourastié trong cuốn Histoire de Demain cũng bảo các nước giàu và nghèo phải thay
đổi thái độ với nhau; các nước giàu phải giúp đỡ các nước nghèo một cách tích cực hơn: trong
thời đói kém, phải giúp đỡ vật chất bằng tặng phẩm; trong thời bình thường phải giúp vốn
bằng dụng cụ, kĩ thuật và chuyên viên. Tất cả những sự giúp đỡ đó không nên trực tiếp từ nước
này qua nước nọ mà nên chuyển qua Liên Hiệp Quốc làm trung gian, có vậy mới tránh được sự
lợi dụng, những ảnh hưởng không tốt về chính trị thế giới, nguồn gốc của mọi sự xung đột. (Đó
cũng là ý kiến của Max Pietsch trong La révolution Industrielle – Pagot – 1961). Và cũng như
Piatier, ông nhấn mạnh rằng các nước giàu phải mua giúp sản phẩm của các nước nghèo, đừng
cạnh tranh với họ, đừng dùng quan thuế để che chở sản phẩm của mình, như vậy để các nước
nghèo sống được. Tóm lại, phải có một sự phân công trên phương diện quốc tế và Liên Hiệp
Quốc phải lập những kế hoạch dài hạn cho toàn thế giới. Kí giả Mĩ Edgar Snow trong cuốn The
other side of the River cũng nhận định như vậy: “Trong một thế giới đói mà Mĩ trợ cấp cho các
điền chủ để họ bỏ hoang ruộng đất và mỗi ngày tiêu phí hai triệu Mĩ kim để trữ những nông
phẩm dư xài thì quả là tinh thần còn ấu trĩ. Phải giúp các xứ kém phát triển những phương tiện
sản xuất và phương tiện trao đổi về thương mại một cách bình đẳng.”
Ông Alfred Sauvy còn quả quyết rằng “lương tâm nhân loại đã thức tỉnh” rằng các nước giàu
sẽ phải chia ăn với các nước nghèo, có lẽ còn phải cho dân nghèo di cư vô nữa vì không có gì
đáng thương tâm bằng đất để hoang trong khi nhiều dân tộc không đủ đất cày cấy! (Théorie
générale de la population). Lời cảnh cáo của Marc Paillet trong cuốn Gauche année zéro
(Gallimand – 1964) còn gay gắt hơn: phải rất đỗi điên khùng mới nghĩ rằng hiện trạng của thế
giới có thế kéo dài rất lâu mà các dân tộc nghèo sẽ không dùng đến một giải pháp bi thảm. Kẻ
sống trong cảnh thiếu thốn cực khổ thế nào rồi cũng tới lúc chỉ chết trong cảnh chiến đấu chứ
không chịu khoanh tay mà chết dần chết mòn… Cái thế giới đói kia đã tổ chức lại rồi đấy. Nó đã
đặt điều kiện rồi đấy. Rồi đây nó sẽ đòi cho được cái quyền của nó. Lúc đó sẽ không còn luân lí,
công bằng gì ráo; chỉ có một mặt trận mà bên này là những kẻ túng thiếu, bên kia là những kẻ
dư dả. Lúc đó có đưa ra lí lẽ này nọ thì cũng chẳng ai nghe.”
Và theo ông, chỉ trong 10-20 năm nữa, nhiều dân tộc nghèo sẽ có bom nguyên tử, mà trong
tay kẻ nghèo, một trái bom nguyên tử sẽ là một mối đe doạ kinh khủng gấp trăm trong tay kẻ
giàu. Cuối cùng ông dẫn lời của René Dumont trong cuốn L'Afrique noire est mal partie. Sự mất
thăng bằng giữa các nước giàu và các nước nghèo đã nghiêm trọng quá rồi. Viện trợ nào cứ
tăng theo một mức chậm chạp như mấy năm nay thì không thể nào gây lại thế thăng bằng
được. Phải viện trợ thật mạnh đi (…) mà như vậy dù sao cũng không tốn bằng số vũ khí người
ta chế tạo mỗi năm (…) Phải có một kế hoạch chung cho thế giới, phải dần dần tiến tới một
Chính phủ liên hiệp của toàn thế giới (…) nếu không thì vào khoảng năm 2.000 nhân loại sẽ
lâm nguy vì nạn đói.
Chỉ trong một năm nay, đọc được trên hai chục cuốn về kinh tế, chính trị, tôi thấy tác giả nào
cũng gióng lên những lời thiết tha kêu gọi các nước giàu phải xét lại chính sách của họ với các
nước nghèo. Ngay đến bác sĩ Karin Roon trong một cuốn dạy chúng ta cách nghỉ ngơi (The new
way to relax) cũng thấy cần phải thay đổi nhân sinh quan cho hợp với thời đại: “Trong mười
năm gần đây, những giá trị của chúng ta cũng thay đổi mau hơn là các thời trước. Khi cơn dông
tàn phá châu Âu mới bặt tiếng gầm thét thì chúng ta đã biết ngay rằng phải nhìn tương lai theo
một quan niệm khác. Cái mà xưa kia chúng ta gọi là sự an toàn đã không còn nữa: phải tìm nó ở
ngay trong bản thân chúng ta. Những gia tài đồ sộ sụp đổ trong sớm tối. Ở cái thế giới có hằng
trăm triệu kẻ đói rét, vô gia cư này mà súc tích tiền bạc và bảo vật thì chẳng đáng khen chút
nào cả.”
Các nhà bác học chân chính thường dễ thương. Họ trọng sự công bằng, ít có thành kiến,
nhiều khi tư tưởng rộng rãi, vì họ chỉ yêu sự thực, và chỉ nghĩ tới nhân loại. Nhưng họ chẳng có
quyền hành gì cả – giả sử có thì trong thời này cũng chưa chắc họ đã làm nên việc, họ chỉ có thể
đánh thức lương tâm của nhân loại thôi, gợi lên một ý thức mới, một nhân sinh quan mới để
khuyên nhủ các nhà cầm quyền thôi, mà các nhà này, vì địa vị, vì trách nhiệm, chỉ lo giải quyết
những việc trước mắt, chỉ lo bảo vệ quyền lợi trước mắt của dân tộc họ[4], quyền lợi đó nhiều
khi tương phản với quyền lợi các dân tộc khác và có thể tương phản với quyền lợi sau này của
dân tộc họ nữa. Không một nước nào có chính sách nhìn xa cả. Năm 1947 hay 1948, ông
Fellereau nói với Staline và Truman đại ý như sau: 'Tôi cần một tỉ Mĩ kim để diệt bệnh cùi trên
khắp thế giới. Phi cơ của các ông có kiểu tốn 500 triệu Mĩ kim. Trong kế hoạch chế tạo của các
ông, mỗi ông chịu bỏ đi một kiểu thôi thì lực lượng của các ông vẫn không chênh lệch nhau, mà
tôi có tiền trị được hết bệnh cùi cho nhân loại.”
Staline và Truman đều làm thinh.
Mười lăm năm sau, A. Sauvy trong cuốn Malthus est les deux Marx (De noel) dẫn lời đó của
Fellereau rồi kết luận: “Các ông giàu có, chiếm ba phần tư tài nguyên trên địa cầu kia, các ông
phung phí tài nguyên đó là mang tội đấy. Các xung đột giữa các ông với nhau dù có quan trọng
tới đâu đi nữa, so với sự sống của trên một tỉ người thì cũng không đáng kể gì. Thế hệ trước,
các ông đã so sánh bơ và đại bác và các ông đã lựa đại bác [nghĩa là bắt dân nhịn để có tiền chế
tạo đại bác]. Bây giờ đây phải lựa chọn giữa đại bác của các ông và bơ của chúng tôi [của các
nước nghèo], đúng hơn là giữa hoả tiễn của các ông và cơm của chúng tôi. Vì các ông phí phạm
cơm hôm nay của chúng tôi, và tệ hơn, cả phần cơm có thể có được của chúng tôi sau này
nữa… (không có gì tội nặng bằng dùng những thứ có thể nuôi sống người này để giết người
khác). Sao Sauvy không nói: dùng những thứ có thể nuôi sống người để giết người? Câu đó làm
cho tôi nhớ câu của Mạnh tử trong Li Lâu thượng: “Suất thổ địa nhi thực nhân nhục, tội bất
dung ư tử.” (Vì tranh đất mà gây chiến, làm cho dân chết thì không khác gì cho đất đã ăn thịt
dân, tội đó không tha chết được). Hoàn cảnh có khác nhưng lời kết tội cũng gắt như nhau. [5]
Trong cuốn Le empire arabe, troisième grand? (Au fil d'Ariane – 1963) Henri Jego cho rằng Âu
Mĩ ngày nay đã gần như chịu thua Nga ở châu Á, chỉ còn lo đối phó ở Ả Rập, Phi Châu, Nam Mĩ,
và ông tự hỏi đế quốc Ả Rập sau này có thể thành khối thứ ba trên thế giới được không. Tôi
nghĩ rằng trên thế giới không có ba khối mà chỉ có hai khối: Giàu và Nghèo. Âu Mĩ, cả Nga nữa
thuộc vào khối giàu; khối nghèo gồm tất cả các nước kém phát triển và tới cuối thế kỉ, khối này
sẽ chiếm 4 phần 5 dân số thế giới. Trong lịch sử nhân loại, chưa bao giờ người ta có thể dùng
sức mạnh mà diệt được hết kẻ nghèo, vì họ đông quá; chỉ có cách cải thiện đời sống của kẻ
nghèo, làm cho họ đỡ khổ cực, điêu đứng là giảm được sức mạnh của họ thôi. Mà không thể chỉ
dùng ý thức hệ mà cải thiện được đời sống con người. Người nghèo khổ không cần biết mà
cũng không thể hiểu nỗi những ý thức hệ cao đẹp của khối này hay khối khác, họ chỉ muốn
được trông thấy kết quả cụ thể của mỗi ý thức hệ, ý thức hệ nào nâng cao đời sống, nhân phẩm
của họ được mau là họ trọng, là họ theo. Các nước tiên tiến muốn ganh đua nhau thì chỉ nên
ganh đua về phương diện đó.
Nhà tư tưởng nào truyền bá được trong nhân loại sự tương thân, tương trợ, nhà cầm quyền ở
các nước phát triển nào giảng cho dân chúng, nhận chân được rằng mình sống sung sướng gấp
cả chục lần dân tộc khác thì nên nhịn tiêu xài một chút để giúp đỡ xứ nghèo mà chẳng đòi hỏi
gì cả, những nhà đó sẽ là ân nhân của chúng ta[6], vì trong mỗi nước mới chỉ được vài ngàn hay
vài vạn người biết nhìn xa mà thấy được cái hướng tiến của thế giới thì lương tâm thế giới
chưa thể gọi là thức tỉnh được.
Năm 1835, Alexit de Tocqueville trong cuốn De la démocratie en Amérique, và năm 1961,
Eisenhower khi mãn nhiệm kì tổng thống, đều cảnh cáo các nhà cầm quyền rằng phải đề
phòng bọn quân phiệt – thời này họ càng mạnh vì liên kết với bọn kĩ phiệt (technocrate) và tài
phiệt, đừng để họ phá hoại tự do và hòa bình. Chỉ khi nào già nửa dân chúng trong mỗi nước
giác ngộ và đả đảo bọn “phiệt” đó thì nhân loại mới có thể hòa bình, mà các dân tộc mới giúp
đỡ nhau như anh em được, các nước kém phát triển mới được bình đẳng với các nước tiên tiến
về phương diện sử dụng tài nguyên thế giới và phương diện trao đổi sản phẩm đúng như lời
cam kết trong Hiến Chương Đại Tây Dương.[7]
Đả đảo bọn quân phiệt rồi nhân loại mới có thế tiến tới hòa bình được. Chế tạo mỗi khẩu
súng đại bác, mỗi phi cơ khu trục, mỗi chiến hạm là cướp đi bao nhiêu cơm áo của người
nghèo, bao nhiêu mồ hôi của thợ thuyền. Số tiền Nga và Mĩ dùng để chế tạo vũ khí, nếu chia
đều cho các dân nghèo trên thế giới thì mỗi người được cả vạn đồng mỗi năm, xây được biết
bao trường học và dưỡng đường. Ai cũng biết vậy mà không ai giải được cái nạn chiến tranh
cho nhân loại. Loài người săn tìm được cách lên cung trăng mà bao giờ mới tìm được cách
sống yên ổn với nhau trên địa cầu này? Không thể sống yên ổn với nhau trên địa cầu thì lên
cung trăng làm gì? Cái bi kịch vạn đại của nhân loại ở đó: chinh phục được thiên nhiên mà
không thắng được lòng mình, không tạo được hạnh phúc cho mình.
(Trích trong Một niềm tin. 160-165, viết năm 1964, xuất bản năm 1965.)
LÀM CON NÊN NHỚ
Hôm nay tôi đọc lại không biết là lần thứ mấy bức thư của Livingstone Larnod nhan đề là
Làm cha nên nhớ mà Dale Carnegie đã trích dẫn trong cuốn Đắc nhân tâm, bức thư mở đầu
như vầy: “Con ơi, con ngủ, má đỏ kề bên tay, tóc mây dính trên trán…”
Trong cái kho tàng văn học Đông, Tây tôi chỉ mới thấy được bốn năm bài cảm động như bức
thư ấy. Lần nào đọc lại tôi cùng rưng rưng nước mắt mà hối hận rằng, đã nhiều lần, y như ông
Livingstone Larnod, đôi khi tôi tỏ ra gắt gỏng quá, nghiêm khắc quá với con tôi, bất công với
nó nữa. Nhưng hôm nay đọc lại, tôi còn cảm động hơn tất cả các lần trước, tôi đã sụt sùi vì
chẳng những tôi đã nghĩ đến con tôi mà còn nghĩ tới ba tôi nữa.
Lạ thật! Bức thư đó chỉ là lời sám hối của một người cha mà sao hôm nay nó lại gợi cho tôi
lòng sám hối của một người con, là tôi.
Hồi đó tôi mới đúng năm tuổi, vừa thuộc vần quốc ngữ. Ba tôi chỉ bài cho tôi rồi đi thăm một
người bạn; trước khi đi dặn kỹ tôi ở nhà phải học bài cho thuộc đã rồi hãy chơi để khi người về
thì trả bài. Nhưng ba tôi vừa mới ra khỏi cửa thì một đứa trẻ bên hàng xóm qua rủ tôi đánh bi
và tôi đã quên lời dặn của ba tôi, vui vẻ đánh bi. Vài giờ sau ba tôi về, bài không thuộc và tôi bị
nọc ra đánh. Tôi không còn nhớ trận đòn đó dữ ra sao, chỉ nhớ rằng bà ngoại tôi phải xin giùm
cho tôi.
Tối hôm đó, ăn cơm xong tôi vẫn còn len lét, tính mở sách ra học thì ba tôi bảo: “Tối nay cho
con nghỉ học; thay quần áo rồi đi chơi với cậu.” Tôi mừng quýnh. Ba tôi thuê xe lại đường Paul
Bert, dắt tôi vào tiệm rực rỡ ánh đèn, mua cho tôi một gói kẹo tây, rồi hai cha con nắm tay
nhau thủng thẳng đi lại hồ Hoàn Kiếm, phía đối diện với Tháp Bút, ngồi hóng mát và thưởng
sen bên bờ nước. Ba tôi giấu gói kẹo, bảo tôi kiếm, đùa giỡn với tôi bên bãi cỏ. Chỗ đó vắng
người và ít ánh đèn. Bình thường ba tôi rất nghiêm khắc mà lúc đó thật âu yếm.
Chuyện đó có gì lạ đâu, mà sao đã gần nửa thế kỷ, hôm nay tôi vẫn còn nhớ rành mạch, nhớ
từ nếp khăn ba tôi chít tới những đám sen trên mặt hồ. Hồi đó tôi chỉ cảm được lòng thương
của ba tôi chứ nhất định là chưa phân tích được tâm lí của người, nhưng hôm nay tôi đã hiểu
tâm lý đó.
Tâm lí đó cũng y như tâm lí của tôi cách đây mười sáu năm, hồi con tôi mười một tuổi. Một
lần nó vô ý mắc nhiều lỗi nặng khi làm bài; tôi đánh nó mấy roi; mươi, mười lăm phút sau, qua
cơn giận, tôi thấy tôi vô lí, tôi hối hận, vắt cho nó một li nước cam, đưa lên kề môi cho nó uống
và trong khi nó uống thì nước mắt của chúng tôi rớt trên tập vở của nó, làm nhòe mất mấy chữ.
Chiều đó tôi cho nó nghỉ học sớm, rủ nó ra sân đánh bi. Và tôi để cho nó thắng. Thắng được tôi,
nó thích lắm. Hôm nay nó còn nhớ trận đòn đó không (tôi mong rằng không), nhưng tôi thì
không quên.
Một nỗi thương tâm chung cho loài người là khi hiểu được tình của cha mẹ thì cha mẹ
thường đã khuất bóng. Sau cái đêm trên bờ hồ Hoàn Kiếm, ba tôi chỉ sống thêm được khoảng
hai năm. Bây giờ đây tôi biết đổi cái gì cho ba tôi sống lại được, dù chỉ trong mười phút, để
nghe lời sám hối của tôi, đọc bức thư này của tôi!
Tôi biết rằng một đứa trẻ mới năm tuổi thì chưa thể tự chủ được, chưa hiểu được thế nào là
bổn phận, việc nào là phải làm, vậy thì tuổi đó tôi ham chơi, không học bài, đâu phải là có lỗi.
Nhưng hôm nay tôi vẫn sám hối. Vì tôi đã gây khổ cho ba tôi, dù chỉ là vô tình. Đêm hôm đó
chắc ba tôi đã bứt rứt, hối hận lắm, nên mới âu yếm với tôi như vậy. Xin vong linh cậu tha lỗi
cho con. Hôm nay lòng con cũng nát như lòng cậu đêm đó vậy.
Phải có con rồi mới hiểu được nỗi lòng của cha. Trong một trăm gia đình, dù giàu dù nghèo,
đã sang dù hèn, tôi không chắc có được một gia đình nào mà cha mẹ không buồn khổ ít nhiều
vì con cái. Chúng ngu đần thì nhất định là cha mẹ buồn rồi, mà chúng thông minh thì nhiều khi
cha mẹ cũng bực mình; chúng khó dạy thì nhất định là cha mẹ khổ rồi, mà chúng dễ dạy thì cha
mẹ chưa chắc đã khỏi khổ. Hồi nhỏ tôi thường được khen là ngoan mà nay nhớ lại đã bao lần
làm cho cha mẹ tôi rầu rĩ. Rồi còn biết bao gia đình trẻ mắng lại cha mẹ, từ bỏ cha mẹ mới là
đứt ruột cho chứ! Nếu không vậy thì lại là những đứa chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến cha
mẹ. Hai mươi lăm tuổi đầu, tư chất kém, thi hoài Tú tài 1 mà không đậu, mà vẫn không chịu
kiếm một nghề để giúp nhà, vẫn bắt cha già bảy chục tuổi lọm cọm kiếm từng đồng một để
đóng tiền cơm, tiền học cả ngàn đồng mỗi tháng. Những cảnh thương tâm đó nhan nhản trong
xã hội.
Thời nay nhà giáo dục nào cũng bênh vực quyền lợi của trẻ, điều đó rất chính đáng. Người
lớn chúng ta nhiều khi bất công thật, có kẻ tàn nhẫn nữa, cho nên lời của Livingstone Larnod
mới làm cảm động lòng ta như vậy, mới được dịch ra mười bốn thứ tiếng, đăng trên hàng trăm
tờ báo, đọc trên hàng chục đài phát thanh. Nhưng có ai lưu tâm chỉ một chút thôi, tới nỗi lòng
của cha mẹ không? Trong mấy chục năm nay tôi chưa được đọc một cuốn nào, một bài nào kể
những nỗi khổ tâm của người cha đấy. Không dạy trẻ thì có tội bỏ bê chúng, mà dạy chúng thì
làm sao chẳng có lúc nghiêm khắc mà phải chuốc lấy lời trách oán của các nhà giáo dục kia?
Má tôi ít học, nhưng có tình thương con thì là có lương tri, mà có lương tri thì còn hơn là có
tiền: người đã để tôi tự ý định đoạt lấy cuộc đời của tôi, không can thiệp vào sự lựa nghề, sự lập
gia đình của tôi. Hồi trẻ tôi cho vậy là tự nhiên; phải đợi tới ngày nay, hai thứ tóc rồi, tôi mới
hiểu rằng người đã hi sinh cho tôi. Không hi sinh mà tôi là con trưởng lại để tôi sống xa người
tới hai ngàn cây số! Không hi sinh, mà nhà tôi trước sau làm dâu không đầy một tháng! Không
hi sinh, mà người phải đi về bốn ngàn cây số để bồng cháu nội của người trong có bảy ngày!
Những giả sử hồi đó người có “can thiệp” vào đời sống của tôi thì bây giờ...
MỤC LỤC
Lời nhà xuất bản
Lời nói đầu
Tựa cuốn Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu
Lương Tâm Nhân Loại
Làm con nên nhớ
Nhà cầm quyền và dư luận
Thầy học tôi: Cụ Dương Quảng Hàm
Ý nghĩa cái chết của giáo sư Trần Vinh Anh
Cụ Phan (Bội Châu) và lòng dân
Nguyễn Hữu Ngư và tập Quê Hương
Khóc bác Đông Hồ
Tựa Úc Viên Thi Thoại của Đông Hồ
Tôi dịch Chiến Tranh và Hòa Bình
Hoa đào năm trước
Nhà cách mạng Trần Quí Cáp
Thi sĩ Quách Tấn và Xứ Trầm Hương
Con đường hòa bình
Từ Phương Khê lên Núi Hùng
Mối tình nghệ sĩ
Tựa Tuyển tập thơ Hán Việt
Nguy cơ xuất não
Hiện tượng “nhân tài di cư” từ xưa tới nay
Tây Âu bị xuất não
Tây Âu rút óc lại của các nước nhược tiểu
Nước giàu nhất thế giới được các nước nghèo giúp đỡ
Rút óc ngầm
Cái hại cho sự xuất não
Nguyên nhân sự xuất não
Làm sao chặn được sự xuất não
Hư Chu Nguyễn Kì Thuỵ (1923-1973)
Tựa Đất nước Quê hương
Cháu Bà nội tội Bà Ngoại
Chúng ta phải làm gì?
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Từ vài ba bốn chục năm gần đây bạn đọc nước ta, nhất là các nhà nghiên cứu khoa học xã hội,
đã từng quen biết Nguyễn Hiến Lê. Người ta không chỉ hoan nghênh và thẳng thắn trao đổi
cùng ông về những ý kiến do ông đưa ra về nhiều vấn đề học thuật hay quốc kế dân sinh, mà
người ta còn ghi nhận ở ông – một trí thức cần cù, luôn có khát vọng đóng góp công sức khảo
cứu của mình vào việc xây dựng một nền văn hoá – giáo dục Việt Nam thích hợp, lành mạnh,
phát triển.
Tập Để tôi đọc lại của ông đã phản ánh một phần tư tưởng khoa học của ông, tấm lòng yêu
nước và tinh thần dân tộc của ông.
Như là một tập bút kí, ghi chép, giới thiệu văn chương – văn học – văn hoá và một số vấn đề
liên quan, được viết ra từ cách đây vài ba chục năm, Để tôi đọc lại được xuất bản vào thời điểm
này, cũng sẽ giúp bạn đọc có thêm một tài liệu tham khảo bổ ích. Chúng ta sẽ gặp lại ở đây
những ý nghĩ, những kiến giải… của Nguyễn Hiến Lê mà chúng ta từng tán thành, từng thấy là
chúng đang được thực hiện; chúng ta cũng sẽ thấy là trong tập sách này cũng còn một số ý kiến
cần được trao đổi thêm, nhiều số liệu và sự việc đã không còn cập nhật nữa.
Thiết nghĩ, đó đều là những việc có thể coi là bình thường trên diễn đàn học thuật lâu nay.
Nhà xuất bản Văn học trân trọng giới thiệu tập Để tôi đọc lại của Nguyễn Hiến Lê cùng bạn
đọc.
Nhà xuất bản Văn học
Lời nói đầu
Đây không phải là một tuyển tập theo nghĩa chúng ta thường hiểu. Vì không có ý chỉ gom toàn
những bài và hết thảy những bài tôi lấy làm đắc ý, mà còn thu thập một số bài tôi muốn đọc lại
vì nhiều lí do: có bài chép một hồi kí về người thân, bạn thân, bản thân của tôi, hoặc gợi lại cho
tôi những cảnh đẹp tôi đã được thấy trong những phút rất ngắn ngủi nhưng thần tiên; có bài
đánh dấu những suy tư của tôi về nhân sinh, về nghề cầm bút, những thí nghiệm của tôi về một
bút pháp, có bài ghi lại những niềm ân hận, bất bình của tôi trong một xã hội, một thế giới đương
trải qua một thời đại cực kì bất ổn, hỗn loạn.
Khi thu thập tôi không có thì giờ đọc lại hết một trăm tác phẩm (cả biên khảo lẫn dịch thuật)
tôi đã xuất bản, với mười lăm tác phẩm nữa viết rồi mà chưa in, và những bài đăng trong năm
trăm số báo mà khoảng một nửa chưa vô tập nào; cứ nhớ tới đâu tôi mới lục ra mà chép ra tới
đấy. Sau này, nếu nhớ thêm tôi có thể sẽ thu thập một số bài khác, hoặc bỏ bớt một số bài đã ở
đây. Tình cảm và tư tưởng của chúng ta vẫn thường thay đổi tuỳ tuổi và tuỳ hoàn cảnh bên
ngoài.
Khi chép lại, tôi thuận tay sửa đôi vài chữ (rất ít), bỏ hay thêm vài câu mà tôi đã đánh dấu hoặc
cước chú để dễ nhận ra. Tôi rán ghi xuất xứ mỗi bài, nhưng có vài ba bài tôi chỉ nhớ mài mại
đăng ở báo này năm nào thôi, vì không kiếm ra những số báo đó.
Tôi sắp đặt theo thứ tự thời gian, từng năm, chứ không từng tháng: có những bài cách nhau
nhiều tháng mà tôi đặt liền nhau, vì cùng một thể văn, cùng một đề tài, hoặc cùng viết về một
người. Nhưng ở sau bảng mục lục tôi đã làm một bảng phân loại sơ sài để dễ tìm.
Tập này chép làm ba bản; chỉ bản I, II là chép đủ các bài còn bản III chỉ chép những bài hơi khó
khăn vì không có trong các tác phẩm của tôi đã xuất bản.
Sài Gòn ngày 1-1–1978
Nguyễn Hiến Lê
TỰA CUỐN CHÍ SĨ NGUYỄN QUANG DIÊU
của Nguyễn Văn Hầu (Xây Dựng, 1961)
Lần đầu tiên đặt chân lên đất Sài Gòn, tôi ngán “Hòn ngọc Viễn Đông” này quá. Đủ mọi giống
người hỗn tạp, đa số là con buôn; trong bụi và ồn; muốn kiếm một chỗ thanh tịnh có chút di
tích để ôn lại dĩ vãng thì không biết kiếm ở đâu, và suốt ngày thâu đêm chỉ thấy người ta ăn
uống, đánh tứ sắc và ca vọng cổ.
Cũng may, lần ấy tôi chỉ ở Sài Gòn có nửa tháng rồi được phái ngay xuống Lục tỉnh. Trong hai
năm liền, tôi đi khắp miền Tây, tới đâu cũng nhận xét dân tình và tôi mừng rằng sinh lực của
miền Nam này còn mạnh lắm. Nó không hiển hiện ở các đô thị như Sài Gòn Chợ Lớn mà dào
dạt, cuồn cuộn ở thôn quê, trên bờ nương con rạch mát rượi bóng dừa, trên những cánh đồng
bát ngát bông sen và bông súng. Dù ở Cần Thơ, Rạch Giá hay Sa Đéc, đâu đâu tôi cũng thấy dân
quê chất phác và đôn hậu, giữ được truyền thống của tổ tiên hơn cả dân quê miền Bắc.
Lạ lùng thật, Nam Việt là đất mới, lại chịu ảnh hưởng của Pháp sớm hơn Bắc Việt mà cổ tục ở
đây được bảo tồn hơn ở ngoài kia. Cơ hồ nông dân nào cũng nhớ được nhiều tích cũ, thuộc
được ít câu trong Minh tâm bửu giám, họ hiếu đễ, biết kính trọng nhà Nho, mà nhà Nho ở đây
cũng đáng cho họ trọng: có lễ độ, có tâm hồn, một số có khí phách nữa. Tôi đã vào những nhà
sàn ba gian lợp ngói hay lá, thấp lè tè, tối om om và thấy nhà nào căn đẹp nhất cũng dành cho
việc thờ phụng tổ tiên, mà những chỗ trang hoàng đẹp nhất cũng là những chỗ để thờ; bên
cạnh ban thờ tôi lại thấy treo hình các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. Chủ nhân luôn luôn
nhã nhặn tiếp đón tôi, và khi thấy tôi chăm chú nhìn các đôi câu đối, đoán rằng tôi biết chút ít
chữ Hán thì không e dè gì cả, đọc cho tôi nghe thơ văn của các nhà cách mạng hoặc hỏi tôi còn
nhớ truyện Ma Chí Ni, Gia Lý Ba Địch[1] trong bộ Ẩm Băng của Lương Khải Siêu không. Các nhà
nho đó rất nghiêm khắc: con đã đi tri huyện rồi, các cụ cũng nọc ra mà đánh, đậu kĩ sư rồi, các
cụ cũng bắt đi chăn trâu trong khi đợi bố; và khi các cụ khuyên bảo điều gì thì dân làng răm rắp
tuân theo hơn là tuân lệnh chủ quận.
Sinh lực của miền Nam là ở đó: hạng cựu học vẫn giữ được phong độ, được dân chúng kính
mến và tin tưởng; nhờ vậy hạng tân trí thức chưa đến nỗi vong bản, và giữa các giới có một
tinh thần đoàn kết ngấm ngầm chống lại Pháp; thành thử sau tám chục năm cai trị, ảnh hưởng
của Pháp ở đây chỉ như một lớp sơn, chưa ăn sâu được vào quần chúng. Khắp mấy tỉnh phía
tây, tôi mến nhất miền từ Hồng Ngự tới Cao Lãnh, một phần vì tôi biết rõ miền này hơn hết[2].
Từ Hồng Ngự, xuôi dòng Tiền Giang lần lượt hiện ra những bụi tre rậm rạp, những vườn gòn
lưa thưa, những cồn cát đìu hiu, những ruộng dâu xanh mướt, những hàng sao nghiêm trang
sau những hàng dừa yểu điệu, và bất giác ta ngâm lên những vần thơ của Thôi Hạo trong bài
Hoàng hạc lâu, và của Huy Cận trong bài Tràng Giang.
Tới Tân Thuận và Cao Lãnh, ta được cảnh vật tưng bừng tiếp đón: dưới rạch ghe xuồng chen
chúc mà trên bờ nhà cửa san sát, mận xoà trên mặt nước, xoài rủ ở trên đầu, quít thì đỏ ối mà
nước thì trong xanh; con gái đã đẹp, nổi tiếng nữ công nữ hạnh mà con trai thì hay chữ mà có
chí khí.
Cảnh chẳng những đẹp mà còn hùng. Con sông Tiền Giang ở những chỗ đầu cồn và cuối cồn,
rộng có tới hai ba cây số, gặp mùa lụt lớn như vừa rồi, nước băng băng chảy, ngập cả vườn
tược, đồng ruộng trên phi cơ nhìn xuống người ta chỉ thấy một biển nước bao la trải ra từ biên
giới Cao Miên tới vịnh Thái Lan, trên đó ló lên những ngọn cây và mái nhà. Mùa nắng nếu ta
ghé vào tả ngạn, từ Hồng Ngự tới Phong Mĩ, bất cứ nơi nào, đi sâu vô ba cây số là gặp một cảnh
hoang vu đáng làm đầu đề ngâm vịnh cho phái biên tái đời Đường: một khu rộng mấy chục cây
số toàn lau, sậy, bàng, lát, trên là ánh nắng gay gắt, dưới là bùn lầy, không có một bóng người,
nhưng vô số rùa, rắn, đỉa, muỗi … Xưa kia đây là đất dụng võ của Thiên Hộ Dương, mà gần đây
nó vẫn là đất tung hoành của nhiều trang hảo hán. Thực dân Pháp ít khi phái lính vô, nhưng
luôn luôn gờm miền này, nên đặt nhiều trạm do thám bao vây, riêng tôi biết được ba trạm ở
Cao Lãnh, Chợ Thủ và Chợ Mới.
Biết rõ địa lí miền Hồng – Cao rồi, độc giả sẽ hiểu tại sao nó là nơi phát sinh nhiều nhà cách
mạng. Nhờ có những khu phì nhiêu mà sự học mới phát đạt, và Cao Lãnh từ xưa vẫn nổi tiếng
là đất văn vật. Hán học thịnh, gây được một truyền thống đạo nghĩa, ái quốc; truyền thống đó
dễ giữ vì miền này hẻo lánh, ảnh hưởng của Pháp khó tới (hồi xưa, chưa có ca nô, xe hơi, phải
chèo xuồng từ Đốc Vàng qua Long Xuyên mất một ngày, lên Sài Gòn mất một tuần; rồi lại nhờ
cảnh thiên nhiên hoang vu hùng vĩ, người ta phải phấn đấu, quen xông pha, biết đoàn kết, sau
cùng nhờ có cánh đồng Tháp ở ngay sau nền nhà[3], người ta muốn trốn lúc nào cũng được,
nên tinh thần chống Pháp càng mạnh. Vì vậy vào khoảng 1907-1908, khi phong trào Đông du
nổi lên ở Nam Việt thì miền Cao Lãnh hưởng ứng liền. Ít năm sau Pháp bắt cụ Dương Bá Trạc
an trí ở Long Xuyên, cụ Võ Hoành an trí ở Sa Đéc, rồi do một sự tình cờ cụ Phương Sơn cũng
trong Đông Kinh nghĩa thục, lựa ngay miền Đốc Vàng để ẩn náu; và các nhà Nho có tâm huyết ở
miền Hồng – Cao ngẫu nhiên mà được gần một số đàn anh đất Bắc, tinh thần càng thêm phấn
khởi. Từ Cao Lãnh tới Hồng Ngự, không làng nào không có một vài nhà cách mạng bị Pháp tróc
nã, hoặc ghi tên vào sổ đen. Riêng làng Đốc Vàng Thượng tôi đã biết bốn năm nhà; ở Cao Lãnh
chắc còn nhiều hơn. Những hoạt động của các nhà đó, dân chúng đều biết, các hương chức còn
biết rõ hơn nữa, nhưng tôi đã nói, dân ở đây biết đoàn kết, biết trọng truyền thống, nên kẻ nào
dù không tán đồng cũng không mặt mũi nào tố cáo và Pháp hay được mà ra tay thì thường là
đã muộn.
Kiệt hiệt nhất trong số đó là cụ Nguyễn Quang Diêu. Lần đầu tiên được nghe một ông bác kể
chuyện cụ, tôi thán phục nhà cách mạng ở Cao Lãnh đó. Hôm nay đọc tác phẩm của ông
Nguyễn Văn Hầu, tôi càng ngưỡng mộ cụ. Năm 1913 cụ cầm đầu một phái đoàn, đi lén cách nào
không biết, qua Hương Cảng, chưa kịp hoạt động thì bị Pháp bắt, đưa về giam ở khám lớn Hà
Nội rồi đày qua Guyane (Nam Mĩ). Vài năm sau cụ vượt ngục trốn qua đảo Trinidad của Anh.
Cuối năm 1920, trở về Hương Cảng, tìm cách tiếp xúc với Nguyễn Hải Thần, năm 1926 tình
nguyện trở về hoạt động ngay ở trong nước.
Về tới Sa Đéc, cụ lại thăm cụ Võ Hoành. Cụ Võ sai người đưa vợ con cụ Nguyễn ở Cao Lãnh tới
để gia đình gặp mặt nhau. Sau mười mấy năm xa cách, ai trong cảnh mà chẳng cảm động,
quyến luyến. Vậy mà cụ chỉ khảng khái khuyên cụ bà một câu:
“Tôi tưởng bỏ thân nơi đất lạ, nay may mà được về đây, mừng rỡ gặp nhau như vầy cũng là quí
lắm. Thôi bà trở về lo lắng nuôi con, còn phần tôi bao giờ việc nước chưa xong thì chắc tôi chưa
sum vầy với gia đình được.”
Sao mà tinh thần cụ giống tinh thần cụ Phan Bội Châu đến thế!
Rồi cụ hoạt động ngay ở quê nhà mới là gan cho chớ. Suốt mười năm sau luôn cho tới khi
mất, khi nằm dưới ghe, khi trọ ở chùa, cụ liên kết các đồng chí, tuyên truyền trong đám thanh
niên nhất là đám nông dân ở các tỉnh Cần Thơ, Long Xuyên, Tân An, Trà Vinh, Bến Tre… nhưng
khu vực chính vẫn là miền Hồng Cao, vì miền này từ địa thế đến dân tình đều thuận tiện cho
công việc cách mạng như tôi đã nói. Thành thử miền Hồng Cao giữ một địa vị đặc biệt trong
đời cụ: Cụ sinh ở phía Nam miền đó, làng Tân Thuận, hoạt động khắp miền đó rồi qui tiên ở
phía Bắc miền đó, làng Vĩnh Hoà, tại biên giới Việt – Miên. Ta ít thấy nhà cách mạng nào mà
đời sống mật thiết với quê hương như vậy.
Cụ mất 5 năm rồi, tung tích mới bị lộ và viên chủ tỉnh Châu Đốc nổi giận, hạ lệnh ngưng chức
một lúc ba người trong ban hội tề làng Vĩnh Hoà. Tinh thần dân miền Hồng Cao đáng quí thật.
Mà cụ không phụ lòng của họ, suốt đời khí tiết không đổi. Cũng như các đồng chí của cụ thời
đó, cụ đã thất bại. Nhiệt huyết và can tràng thì có dư mà kĩ thuật cách mạng thì còn thiếu. Mà
thời cơ lại không thuận tiện. Nhưng xét về phương diện kế vãng khai lai thì cụ đã thành công.
Tôi chắc những bài thơ cách mạng của cụ đã nung chí nhiều người, và tôi cũng chắc rằng trong
số môn đồ của cụ thế nào chẳng có một số đã hăng hái vác tầm vông đuổi Pháp khi Pháp được
Mỹ ngầm giúp, theo gót Anh, đổ bộ lên đây để toan chiếm lại nước mình.
Đời cách mạng của cụ gồm một phần tư thế kỉ mạo hiểm và hi sinh; thơ của cụ Nôm có, Hán
có, giọng rất nồng nàn; mà danh của cụ thì ngoài miền Hồng – Cao, ít ai được biết. Trong những
sách biên khảo về phong trào cách mạng ở miền Nam, tôi chưa thấy cuốn nào ghi tên cụ. Cụ
chẳng cần người sau biết cụ, nhưng chúng ta là người sau có bổn phận ghi chép tiểu sử của cụ
để lưu lại một tấm gương cho người sau nữa. Chúng ta nên hàm ơn ông Nguyễn Văn Hầu đã
làm công việc ấy thay chúng ta.
Ông Hầu quê ở Cù lao Giêng, khoảng giữa miền Hồng – Cao, hồi nhỏ có lần nuôi cái mộng
được làm học trò của cụ, lớn lên luôn luôn tưởng niệm cụ, gần đây bỏ ra mấy năm điều tra,
phỏng vấn rồi thu thập tài liệu về đời cụ cùng thi văn của cụ mà soạn nên cuốn này.
Phần tiểu sử đầy đủ và đáng tin: ông thận trọng so sánh, cân nhắc kiểm soát tài liệu, rồi trung
thực ghi lại, không tiểu thuyết hoá, chỗ nào có nhiều thuyết khác nhau thì tồn nghi.
Phần thi văn cũng đáng quí: thi văn của cụ đồn rằng rất nhiều, nay còn lại khoảng trăm bài,
đều có giọng kí thác, lời tuy không chuốt – nhà cách mạng, chí đâu ở làm thơ – nhưng một số
bài có giá trị về sử liệu (như bài Hà Thành lâm nạn…) hoặc khéo dụng những từ ngữ đặc biệt
của miền Nam (như bài Văn tế đức Giáo tông Cao Đài) gây được một âm hưởng riêng, lại có thể
giúp được nhiều cho những ai muốn khảo về Việt ngữ.
(Bỏ đoạn cuối khoảng 2 trang đưa một đề nghị với Viện khảo cổ Sài Gòn về việc thu thập các tài
liệu, di tích về sử)
Long Xuyên ngày 30-11-1966.
LƯƠNG TÂM NHÂN LOẠI
Nhiều nhà bác học trên thế giới đã lên tiếng từ hai chục năm nay rằng các nước giàu
phải giúp các xứ nghèo phát triển để lấp dần cái hố giữa giàu nghèo đi.
Ông Piatier trong cuốn Vie internationale Conflits (Larousse) khuyên các nước tiên tiến bớt
ích kỉ đừng nắm trọn quyền sản xuất hoá phẩm mà phải mở rộng luồng xuất cảng theo cả hai
chiều, nghĩa là cho các xứ kém phát triển được đủ phương tiện xuất cảng chẳng riêng nguyên
liệu mà cả hoá phẩm nữa; muốn vậy, phải giúp kĩ nghệ của họ tiến bộ lên chứ đừng bóp nghẹt
nó; ông lại khuyên tất cả các dân tộc phải vượt lên trên cái thói cạnh tranh, chiến đấu với nhau,
hợp tác với nhau theo nhưng mẫu hợp đồng mới, phải tạo một ý thức hệ mới cho nhân loại, nếu
không thì “sự hỗn loạn và những cuộc bạo động sẽ nhất định xảy ra, chúng ta chỉ chưa biết
được là xảy ra làm sao, lúc nào và ở đâu đấy thôi.”
Ông Fourastié trong cuốn Histoire de Demain cũng bảo các nước giàu và nghèo phải thay
đổi thái độ với nhau; các nước giàu phải giúp đỡ các nước nghèo một cách tích cực hơn: trong
thời đói kém, phải giúp đỡ vật chất bằng tặng phẩm; trong thời bình thường phải giúp vốn
bằng dụng cụ, kĩ thuật và chuyên viên. Tất cả những sự giúp đỡ đó không nên trực tiếp từ nước
này qua nước nọ mà nên chuyển qua Liên Hiệp Quốc làm trung gian, có vậy mới tránh được sự
lợi dụng, những ảnh hưởng không tốt về chính trị thế giới, nguồn gốc của mọi sự xung đột. (Đó
cũng là ý kiến của Max Pietsch trong La révolution Industrielle – Pagot – 1961). Và cũng như
Piatier, ông nhấn mạnh rằng các nước giàu phải mua giúp sản phẩm của các nước nghèo, đừng
cạnh tranh với họ, đừng dùng quan thuế để che chở sản phẩm của mình, như vậy để các nước
nghèo sống được. Tóm lại, phải có một sự phân công trên phương diện quốc tế và Liên Hiệp
Quốc phải lập những kế hoạch dài hạn cho toàn thế giới. Kí giả Mĩ Edgar Snow trong cuốn The
other side of the River cũng nhận định như vậy: “Trong một thế giới đói mà Mĩ trợ cấp cho các
điền chủ để họ bỏ hoang ruộng đất và mỗi ngày tiêu phí hai triệu Mĩ kim để trữ những nông
phẩm dư xài thì quả là tinh thần còn ấu trĩ. Phải giúp các xứ kém phát triển những phương tiện
sản xuất và phương tiện trao đổi về thương mại một cách bình đẳng.”
Ông Alfred Sauvy còn quả quyết rằng “lương tâm nhân loại đã thức tỉnh” rằng các nước giàu
sẽ phải chia ăn với các nước nghèo, có lẽ còn phải cho dân nghèo di cư vô nữa vì không có gì
đáng thương tâm bằng đất để hoang trong khi nhiều dân tộc không đủ đất cày cấy! (Théorie
générale de la population). Lời cảnh cáo của Marc Paillet trong cuốn Gauche année zéro
(Gallimand – 1964) còn gay gắt hơn: phải rất đỗi điên khùng mới nghĩ rằng hiện trạng của thế
giới có thế kéo dài rất lâu mà các dân tộc nghèo sẽ không dùng đến một giải pháp bi thảm. Kẻ
sống trong cảnh thiếu thốn cực khổ thế nào rồi cũng tới lúc chỉ chết trong cảnh chiến đấu chứ
không chịu khoanh tay mà chết dần chết mòn… Cái thế giới đói kia đã tổ chức lại rồi đấy. Nó đã
đặt điều kiện rồi đấy. Rồi đây nó sẽ đòi cho được cái quyền của nó. Lúc đó sẽ không còn luân lí,
công bằng gì ráo; chỉ có một mặt trận mà bên này là những kẻ túng thiếu, bên kia là những kẻ
dư dả. Lúc đó có đưa ra lí lẽ này nọ thì cũng chẳng ai nghe.”
Và theo ông, chỉ trong 10-20 năm nữa, nhiều dân tộc nghèo sẽ có bom nguyên tử, mà trong
tay kẻ nghèo, một trái bom nguyên tử sẽ là một mối đe doạ kinh khủng gấp trăm trong tay kẻ
giàu. Cuối cùng ông dẫn lời của René Dumont trong cuốn L'Afrique noire est mal partie. Sự mất
thăng bằng giữa các nước giàu và các nước nghèo đã nghiêm trọng quá rồi. Viện trợ nào cứ
tăng theo một mức chậm chạp như mấy năm nay thì không thể nào gây lại thế thăng bằng
được. Phải viện trợ thật mạnh đi (…) mà như vậy dù sao cũng không tốn bằng số vũ khí người
ta chế tạo mỗi năm (…) Phải có một kế hoạch chung cho thế giới, phải dần dần tiến tới một
Chính phủ liên hiệp của toàn thế giới (…) nếu không thì vào khoảng năm 2.000 nhân loại sẽ
lâm nguy vì nạn đói.
Chỉ trong một năm nay, đọc được trên hai chục cuốn về kinh tế, chính trị, tôi thấy tác giả nào
cũng gióng lên những lời thiết tha kêu gọi các nước giàu phải xét lại chính sách của họ với các
nước nghèo. Ngay đến bác sĩ Karin Roon trong một cuốn dạy chúng ta cách nghỉ ngơi (The new
way to relax) cũng thấy cần phải thay đổi nhân sinh quan cho hợp với thời đại: “Trong mười
năm gần đây, những giá trị của chúng ta cũng thay đổi mau hơn là các thời trước. Khi cơn dông
tàn phá châu Âu mới bặt tiếng gầm thét thì chúng ta đã biết ngay rằng phải nhìn tương lai theo
một quan niệm khác. Cái mà xưa kia chúng ta gọi là sự an toàn đã không còn nữa: phải tìm nó ở
ngay trong bản thân chúng ta. Những gia tài đồ sộ sụp đổ trong sớm tối. Ở cái thế giới có hằng
trăm triệu kẻ đói rét, vô gia cư này mà súc tích tiền bạc và bảo vật thì chẳng đáng khen chút
nào cả.”
Các nhà bác học chân chính thường dễ thương. Họ trọng sự công bằng, ít có thành kiến,
nhiều khi tư tưởng rộng rãi, vì họ chỉ yêu sự thực, và chỉ nghĩ tới nhân loại. Nhưng họ chẳng có
quyền hành gì cả – giả sử có thì trong thời này cũng chưa chắc họ đã làm nên việc, họ chỉ có thể
đánh thức lương tâm của nhân loại thôi, gợi lên một ý thức mới, một nhân sinh quan mới để
khuyên nhủ các nhà cầm quyền thôi, mà các nhà này, vì địa vị, vì trách nhiệm, chỉ lo giải quyết
những việc trước mắt, chỉ lo bảo vệ quyền lợi trước mắt của dân tộc họ[4], quyền lợi đó nhiều
khi tương phản với quyền lợi các dân tộc khác và có thể tương phản với quyền lợi sau này của
dân tộc họ nữa. Không một nước nào có chính sách nhìn xa cả. Năm 1947 hay 1948, ông
Fellereau nói với Staline và Truman đại ý như sau: 'Tôi cần một tỉ Mĩ kim để diệt bệnh cùi trên
khắp thế giới. Phi cơ của các ông có kiểu tốn 500 triệu Mĩ kim. Trong kế hoạch chế tạo của các
ông, mỗi ông chịu bỏ đi một kiểu thôi thì lực lượng của các ông vẫn không chênh lệch nhau, mà
tôi có tiền trị được hết bệnh cùi cho nhân loại.”
Staline và Truman đều làm thinh.
Mười lăm năm sau, A. Sauvy trong cuốn Malthus est les deux Marx (De noel) dẫn lời đó của
Fellereau rồi kết luận: “Các ông giàu có, chiếm ba phần tư tài nguyên trên địa cầu kia, các ông
phung phí tài nguyên đó là mang tội đấy. Các xung đột giữa các ông với nhau dù có quan trọng
tới đâu đi nữa, so với sự sống của trên một tỉ người thì cũng không đáng kể gì. Thế hệ trước,
các ông đã so sánh bơ và đại bác và các ông đã lựa đại bác [nghĩa là bắt dân nhịn để có tiền chế
tạo đại bác]. Bây giờ đây phải lựa chọn giữa đại bác của các ông và bơ của chúng tôi [của các
nước nghèo], đúng hơn là giữa hoả tiễn của các ông và cơm của chúng tôi. Vì các ông phí phạm
cơm hôm nay của chúng tôi, và tệ hơn, cả phần cơm có thể có được của chúng tôi sau này
nữa… (không có gì tội nặng bằng dùng những thứ có thể nuôi sống người này để giết người
khác). Sao Sauvy không nói: dùng những thứ có thể nuôi sống người để giết người? Câu đó làm
cho tôi nhớ câu của Mạnh tử trong Li Lâu thượng: “Suất thổ địa nhi thực nhân nhục, tội bất
dung ư tử.” (Vì tranh đất mà gây chiến, làm cho dân chết thì không khác gì cho đất đã ăn thịt
dân, tội đó không tha chết được). Hoàn cảnh có khác nhưng lời kết tội cũng gắt như nhau. [5]
Trong cuốn Le empire arabe, troisième grand? (Au fil d'Ariane – 1963) Henri Jego cho rằng Âu
Mĩ ngày nay đã gần như chịu thua Nga ở châu Á, chỉ còn lo đối phó ở Ả Rập, Phi Châu, Nam Mĩ,
và ông tự hỏi đế quốc Ả Rập sau này có thể thành khối thứ ba trên thế giới được không. Tôi
nghĩ rằng trên thế giới không có ba khối mà chỉ có hai khối: Giàu và Nghèo. Âu Mĩ, cả Nga nữa
thuộc vào khối giàu; khối nghèo gồm tất cả các nước kém phát triển và tới cuối thế kỉ, khối này
sẽ chiếm 4 phần 5 dân số thế giới. Trong lịch sử nhân loại, chưa bao giờ người ta có thể dùng
sức mạnh mà diệt được hết kẻ nghèo, vì họ đông quá; chỉ có cách cải thiện đời sống của kẻ
nghèo, làm cho họ đỡ khổ cực, điêu đứng là giảm được sức mạnh của họ thôi. Mà không thể chỉ
dùng ý thức hệ mà cải thiện được đời sống con người. Người nghèo khổ không cần biết mà
cũng không thể hiểu nỗi những ý thức hệ cao đẹp của khối này hay khối khác, họ chỉ muốn
được trông thấy kết quả cụ thể của mỗi ý thức hệ, ý thức hệ nào nâng cao đời sống, nhân phẩm
của họ được mau là họ trọng, là họ theo. Các nước tiên tiến muốn ganh đua nhau thì chỉ nên
ganh đua về phương diện đó.
Nhà tư tưởng nào truyền bá được trong nhân loại sự tương thân, tương trợ, nhà cầm quyền ở
các nước phát triển nào giảng cho dân chúng, nhận chân được rằng mình sống sung sướng gấp
cả chục lần dân tộc khác thì nên nhịn tiêu xài một chút để giúp đỡ xứ nghèo mà chẳng đòi hỏi
gì cả, những nhà đó sẽ là ân nhân của chúng ta[6], vì trong mỗi nước mới chỉ được vài ngàn hay
vài vạn người biết nhìn xa mà thấy được cái hướng tiến của thế giới thì lương tâm thế giới
chưa thể gọi là thức tỉnh được.
Năm 1835, Alexit de Tocqueville trong cuốn De la démocratie en Amérique, và năm 1961,
Eisenhower khi mãn nhiệm kì tổng thống, đều cảnh cáo các nhà cầm quyền rằng phải đề
phòng bọn quân phiệt – thời này họ càng mạnh vì liên kết với bọn kĩ phiệt (technocrate) và tài
phiệt, đừng để họ phá hoại tự do và hòa bình. Chỉ khi nào già nửa dân chúng trong mỗi nước
giác ngộ và đả đảo bọn “phiệt” đó thì nhân loại mới có thể hòa bình, mà các dân tộc mới giúp
đỡ nhau như anh em được, các nước kém phát triển mới được bình đẳng với các nước tiên tiến
về phương diện sử dụng tài nguyên thế giới và phương diện trao đổi sản phẩm đúng như lời
cam kết trong Hiến Chương Đại Tây Dương.[7]
Đả đảo bọn quân phiệt rồi nhân loại mới có thế tiến tới hòa bình được. Chế tạo mỗi khẩu
súng đại bác, mỗi phi cơ khu trục, mỗi chiến hạm là cướp đi bao nhiêu cơm áo của người
nghèo, bao nhiêu mồ hôi của thợ thuyền. Số tiền Nga và Mĩ dùng để chế tạo vũ khí, nếu chia
đều cho các dân nghèo trên thế giới thì mỗi người được cả vạn đồng mỗi năm, xây được biết
bao trường học và dưỡng đường. Ai cũng biết vậy mà không ai giải được cái nạn chiến tranh
cho nhân loại. Loài người săn tìm được cách lên cung trăng mà bao giờ mới tìm được cách
sống yên ổn với nhau trên địa cầu này? Không thể sống yên ổn với nhau trên địa cầu thì lên
cung trăng làm gì? Cái bi kịch vạn đại của nhân loại ở đó: chinh phục được thiên nhiên mà
không thắng được lòng mình, không tạo được hạnh phúc cho mình.
(Trích trong Một niềm tin. 160-165, viết năm 1964, xuất bản năm 1965.)
LÀM CON NÊN NHỚ
Hôm nay tôi đọc lại không biết là lần thứ mấy bức thư của Livingstone Larnod nhan đề là
Làm cha nên nhớ mà Dale Carnegie đã trích dẫn trong cuốn Đắc nhân tâm, bức thư mở đầu
như vầy: “Con ơi, con ngủ, má đỏ kề bên tay, tóc mây dính trên trán…”
Trong cái kho tàng văn học Đông, Tây tôi chỉ mới thấy được bốn năm bài cảm động như bức
thư ấy. Lần nào đọc lại tôi cùng rưng rưng nước mắt mà hối hận rằng, đã nhiều lần, y như ông
Livingstone Larnod, đôi khi tôi tỏ ra gắt gỏng quá, nghiêm khắc quá với con tôi, bất công với
nó nữa. Nhưng hôm nay đọc lại, tôi còn cảm động hơn tất cả các lần trước, tôi đã sụt sùi vì
chẳng những tôi đã nghĩ đến con tôi mà còn nghĩ tới ba tôi nữa.
Lạ thật! Bức thư đó chỉ là lời sám hối của một người cha mà sao hôm nay nó lại gợi cho tôi
lòng sám hối của một người con, là tôi.
Hồi đó tôi mới đúng năm tuổi, vừa thuộc vần quốc ngữ. Ba tôi chỉ bài cho tôi rồi đi thăm một
người bạn; trước khi đi dặn kỹ tôi ở nhà phải học bài cho thuộc đã rồi hãy chơi để khi người về
thì trả bài. Nhưng ba tôi vừa mới ra khỏi cửa thì một đứa trẻ bên hàng xóm qua rủ tôi đánh bi
và tôi đã quên lời dặn của ba tôi, vui vẻ đánh bi. Vài giờ sau ba tôi về, bài không thuộc và tôi bị
nọc ra đánh. Tôi không còn nhớ trận đòn đó dữ ra sao, chỉ nhớ rằng bà ngoại tôi phải xin giùm
cho tôi.
Tối hôm đó, ăn cơm xong tôi vẫn còn len lét, tính mở sách ra học thì ba tôi bảo: “Tối nay cho
con nghỉ học; thay quần áo rồi đi chơi với cậu.” Tôi mừng quýnh. Ba tôi thuê xe lại đường Paul
Bert, dắt tôi vào tiệm rực rỡ ánh đèn, mua cho tôi một gói kẹo tây, rồi hai cha con nắm tay
nhau thủng thẳng đi lại hồ Hoàn Kiếm, phía đối diện với Tháp Bút, ngồi hóng mát và thưởng
sen bên bờ nước. Ba tôi giấu gói kẹo, bảo tôi kiếm, đùa giỡn với tôi bên bãi cỏ. Chỗ đó vắng
người và ít ánh đèn. Bình thường ba tôi rất nghiêm khắc mà lúc đó thật âu yếm.
Chuyện đó có gì lạ đâu, mà sao đã gần nửa thế kỷ, hôm nay tôi vẫn còn nhớ rành mạch, nhớ
từ nếp khăn ba tôi chít tới những đám sen trên mặt hồ. Hồi đó tôi chỉ cảm được lòng thương
của ba tôi chứ nhất định là chưa phân tích được tâm lí của người, nhưng hôm nay tôi đã hiểu
tâm lý đó.
Tâm lí đó cũng y như tâm lí của tôi cách đây mười sáu năm, hồi con tôi mười một tuổi. Một
lần nó vô ý mắc nhiều lỗi nặng khi làm bài; tôi đánh nó mấy roi; mươi, mười lăm phút sau, qua
cơn giận, tôi thấy tôi vô lí, tôi hối hận, vắt cho nó một li nước cam, đưa lên kề môi cho nó uống
và trong khi nó uống thì nước mắt của chúng tôi rớt trên tập vở của nó, làm nhòe mất mấy chữ.
Chiều đó tôi cho nó nghỉ học sớm, rủ nó ra sân đánh bi. Và tôi để cho nó thắng. Thắng được tôi,
nó thích lắm. Hôm nay nó còn nhớ trận đòn đó không (tôi mong rằng không), nhưng tôi thì
không quên.
Một nỗi thương tâm chung cho loài người là khi hiểu được tình của cha mẹ thì cha mẹ
thường đã khuất bóng. Sau cái đêm trên bờ hồ Hoàn Kiếm, ba tôi chỉ sống thêm được khoảng
hai năm. Bây giờ đây tôi biết đổi cái gì cho ba tôi sống lại được, dù chỉ trong mười phút, để
nghe lời sám hối của tôi, đọc bức thư này của tôi!
Tôi biết rằng một đứa trẻ mới năm tuổi thì chưa thể tự chủ được, chưa hiểu được thế nào là
bổn phận, việc nào là phải làm, vậy thì tuổi đó tôi ham chơi, không học bài, đâu phải là có lỗi.
Nhưng hôm nay tôi vẫn sám hối. Vì tôi đã gây khổ cho ba tôi, dù chỉ là vô tình. Đêm hôm đó
chắc ba tôi đã bứt rứt, hối hận lắm, nên mới âu yếm với tôi như vậy. Xin vong linh cậu tha lỗi
cho con. Hôm nay lòng con cũng nát như lòng cậu đêm đó vậy.
Phải có con rồi mới hiểu được nỗi lòng của cha. Trong một trăm gia đình, dù giàu dù nghèo,
đã sang dù hèn, tôi không chắc có được một gia đình nào mà cha mẹ không buồn khổ ít nhiều
vì con cái. Chúng ngu đần thì nhất định là cha mẹ buồn rồi, mà chúng thông minh thì nhiều khi
cha mẹ cũng bực mình; chúng khó dạy thì nhất định là cha mẹ khổ rồi, mà chúng dễ dạy thì cha
mẹ chưa chắc đã khỏi khổ. Hồi nhỏ tôi thường được khen là ngoan mà nay nhớ lại đã bao lần
làm cho cha mẹ tôi rầu rĩ. Rồi còn biết bao gia đình trẻ mắng lại cha mẹ, từ bỏ cha mẹ mới là
đứt ruột cho chứ! Nếu không vậy thì lại là những đứa chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến cha
mẹ. Hai mươi lăm tuổi đầu, tư chất kém, thi hoài Tú tài 1 mà không đậu, mà vẫn không chịu
kiếm một nghề để giúp nhà, vẫn bắt cha già bảy chục tuổi lọm cọm kiếm từng đồng một để
đóng tiền cơm, tiền học cả ngàn đồng mỗi tháng. Những cảnh thương tâm đó nhan nhản trong
xã hội.
Thời nay nhà giáo dục nào cũng bênh vực quyền lợi của trẻ, điều đó rất chính đáng. Người
lớn chúng ta nhiều khi bất công thật, có kẻ tàn nhẫn nữa, cho nên lời của Livingstone Larnod
mới làm cảm động lòng ta như vậy, mới được dịch ra mười bốn thứ tiếng, đăng trên hàng trăm
tờ báo, đọc trên hàng chục đài phát thanh. Nhưng có ai lưu tâm chỉ một chút thôi, tới nỗi lòng
của cha mẹ không? Trong mấy chục năm nay tôi chưa được đọc một cuốn nào, một bài nào kể
những nỗi khổ tâm của người cha đấy. Không dạy trẻ thì có tội bỏ bê chúng, mà dạy chúng thì
làm sao chẳng có lúc nghiêm khắc mà phải chuốc lấy lời trách oán của các nhà giáo dục kia?
Má tôi ít học, nhưng có tình thương con thì là có lương tri, mà có lương tri thì còn hơn là có
tiền: người đã để tôi tự ý định đoạt lấy cuộc đời của tôi, không can thiệp vào sự lựa nghề, sự lập
gia đình của tôi. Hồi trẻ tôi cho vậy là tự nhiên; phải đợi tới ngày nay, hai thứ tóc rồi, tôi mới
hiểu rằng người đã hi sinh cho tôi. Không hi sinh mà tôi là con trưởng lại để tôi sống xa người
tới hai ngàn cây số! Không hi sinh, mà nhà tôi trước sau làm dâu không đầy một tháng! Không
hi sinh, mà người phải đi về bốn ngàn cây số để bồng cháu nội của người trong có bảy ngày!
Những giả sử hồi đó người có “can thiệp” vào đời sống của tôi thì bây giờ...
 





